Ngày 21.4, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi 4 luật về thuế. Theo quy định hiện hành, ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh là từ 500 triệu đồng. Chính phủ đề xuất không quy định cụ thể về ngưỡng doanh thu nữa mà sẽ giao Chính phủ quy định.
Phát biểu tại tổ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho biết nội dung liên quan đến các sắc thuế đã được Quốc hội thông qua hồi tháng 12.2025, nhưng trong thực tiễn có phát sinh nên cần có sự điều chỉnh. Trong đó, với ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng, cá nhân, hộ kinh doanh đang bộc lộ khó khăn trước tác động của giá xăng dầu và diễn biến khu vực. Nhóm này cùng với các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa trở thành những đối tượng cần được ưu tiên, quan tâm.
Trong bối cảnh trên, lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu phương án để đề xuất Quốc hội ngay trong kỳ họp này. “Chắc chắn phải nâng ngưỡng chịu thuế lên”, Thủ tướng nói và cho biết theo báo cáo của Bộ Tài chính thì ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh là khoảng 1 tỉ đồng/năm.
Song song với việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế để tháo gỡ khó khăn cho hộ kinh doanh, Thủ tướng cũng nhấn mạnh phải tạo sự công bằng với DN nhỏ và vừa, khuyến khích các cá nhân, hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình DN, vì vậy, việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế phải đảm bảo sự phù hợp.
Cạnh đó, Thủ tướng khẳng định khi giao cho Chính phủ điều chỉnh ngưỡng chịu thuế, chắc chắn sẽ có quy định về các tiêu chí, nguyên tắc chặt chẽ nhằm tránh kẽ hở làm thất thu thuế. “Lẽ ra phải có dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành kèm theo dự thảo luật, nhưng vì thời gian gấp nên Bộ Tài chính đang hoàn thiện. Dự kiến khi Quốc hội thông qua chủ trương, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ để ban hành ngay, kịp thời điểm luật có hiệu lực”, Thủ tướng cho hay.
Cùng ngày, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về các báo cáo phát triển KT-XH, đầu tư công… Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh (đoàn Gia Lai) cho rằng cần thực hiện ngay việc thu phí sử dụng đất theo hiệu quả kinh tế và thời gian đưa đất vào sử dụng. Trước mắt, ông đề nghị Quốc hội đưa vào luật Thủ đô thông qua tại kỳ họp này và cuối năm đưa vào luật Đô thị đặc biệt thực hiện tại TP.HCM quy định: đất dự án chậm triển khai quá 24 tháng phải chịu phí tăng dần theo thời gian; nhà đất thứ hai trở lên không đưa vào sử dụng hoặc cho thuê phải áp dụng mức phí lũy tiến phù hợp.
Toàn bộ nguồn thu này đưa vào Quỹ nhà ở xã hội, tái thiết chung cư cũ và hạ tầng đô thị thiết yếu. Giải pháp này sẽ “đánh đúng vào động cơ đầu cơ, buộc đất quay về giá trị sử dụng thật, tạo không gian cho tăng trưởng thực tế”.
ĐB đoàn Gia Lai cũng đề cập nhiều dự án kéo dài khiến chi phí tăng, ICOR cao (hiệu quả đầu tư thấp). Đơn cử như dự án quan trọng quốc gia cao tốc Pleiku – Quy Nhơn, chủ đầu tư đã thi công gần 5 tháng, đã kiến nghị nhiều lần bố trí 9.100 tỉ đồng năm 2026 nhưng đến nay vẫn chưa được giao vốn. Nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số là khả thi, nhưng ĐB cho rằng chỉ đạt được khi “dũng cảm cải cách đúng chỗ, không phải bơm thêm tiền vào hệ thống cũ, không phải ban hành thêm văn bản, mà phải thay đổi cơ chế phân bổ vốn, buộc mỗi đồng đầu tư phải chứng minh giá trị của nó”.
Chỉ rõ các bất cập trong vấn đề vốn, ĐB Nguyễn Như So (đoàn Bắc Ninh) cho rằng cần tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp các động lực tăng trưởng. Trong khi công nghệ và năng suất chưa thể bứt phá ngay trong ngắn hạn, vốn đầu tư vẫn là trụ cột chính của tăng trưởng. “Vấn đề hiện nay không phải là thiếu vốn mà là cách dòng vốn đang được phân bổ và sử dụng. Hệ thống tài chính đang đối mặt với một nghịch lý kép khi tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên tới 146% nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn trung và dài hạn”, ông So nêu.
Ông So chỉ rõ nghịch lý hơn 50% doanh thu của 500 DN tư nhân lớn nhất đến từ lĩnh vực tài chính và bất động sản, trong khi công nghiệp chế tạo nền tảng và năng lực cạnh tranh chỉ chiếm 10%. ĐB đề xuất cần minh bạch để mỗi đồng vốn ngân sách có thể kéo theo nhiều đồng vốn xã hội, đồng thời hình thành cơ chế lựa chọn và nuôi dưỡng các DN “đầu tàu” trong các ngành then chốt.
Mặt khác, ĐB Nguyễn Thị Kim Thoa (đoàn Vĩnh Long) cho rằng lượng tài sản lớn trong dân, đặc biệt là vàng, vẫn nằm ngoài hệ thống tài chính. Điều này cho thấy nguồn lực trong dân rất dồi dào nhưng còn phân tán, chưa được dẫn dắt vào sản xuất và kinh doanh. Từ đó, ĐB đề xuất cần có giải pháp phát huy mạnh mẽ, khơi thông dòng vốn trong dân cư, chuyển từ tích lũy sang đầu tư, phát triển đa dạng các kênh đầu tư chính thức, an toàn, dễ tiếp cận, đặc biệt là các sản phẩm phù hợp trong dân.
Bà Thoa đề xuất các phương án, các hình thức như quỹ đầu tư minh bạch hoặc các mô hình huy động vốn trong cộng đồng có kiểm soát. Khi người dân có nhiều lựa chọn đầu tư phù hợp, dòng tiền nhàn rỗi sẽ dẫn dắt vào nền kinh tế thay vì phân tán và nằm trong dân gây kém hiệu quả. Đồng thời, cần minh bạch dòng vốn thông qua các nền tảng số, đảm bảo quyền lợi khi đầu tư. Khi niềm tin được củng cố và hệ thống tài chính vận hành thuận tiện, minh bạch, dòng vốn trong dân sẽ được khơi thông hiệu quả.
Thảo luận về đầu tư công, ĐB Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa) nhấn mạnh cần xóa bỏ triệt để cơ chế xin – cho và biến đầu tư công là “chùm khế ngọt” vốn đã và đang là hiện tượng phổ biến, sinh động của tiêu cực, tham nhũng. Đánh giá tính hiệu quả các dự án đầu tư công cần làm từ khâu thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư. Cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân người quyết định chủ trương đầu tư, người thẩm định dự án. Đồng thời, phải có cơ chế giám sát từ xa, từ sớm, xử lý trách nhiệm nghiêm minh.
ĐB Nguyễn Duy Minh (đoàn Đà Nẵng) thì cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quy trình thủ tục đầu tư còn phức tạp, thiếu liên thông dẫn đến thời gian chuẩn bị cho dự án thường kéo dài. Ông đề nghị Chính phủ ưu tiên sửa đổi đồng bộ các luật liên quan trực tiếp đến đầu tư công trong năm 2026 theo hướng thiết lập quy trình thống nhất, liên thông, giảm tối đa thủ tục trung gian và cho phép triển khai song song với các bước một cách phù hợp. Ông cũng đề nghị kiên quyết đưa ra khỏi danh mục đối với các dự án mang tính “giữ chỗ”. Trên thực tế cũng có nhiều dự án quy mô nhưng đến nay chưa giải phóng mặt bằng, người dân trong vùng dự án gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Đề xuất sửa luật Đấu thầu, ĐB Hoàng Xuân Tân (đoàn Quảng Trị) cho rằng nên tăng mức chỉ định thầu với công trình có tiêu chuẩn đồng nhất cho từng loại công trình. Cùng đó, tăng thẩm quyền phải đi kèm tăng trách nhiệm, chế tài cho chủ đầu tư khi thực hiện dự án. Đặc biệt, có cơ chế để chủ đầu tư nhanh gọn chấm dứt hợp đồng nếu vi phạm và có cơ chế cho nhà thầu đòi bồi thường do trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, nhất là việc bàn giao mặt bằng chậm. Với các công trình lớn, cần thúc đẩy chính sách thu hút đầu tư tư nhân qua hình thức đối tác công – tư (PPP), giúp các địa phương thu hút vốn hiệu quả hơn.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đồng tình vấn đề nhiều ĐB nêu là “hiệu quả đầu tư là rất quan trọng”. Nếu không cải thiện được chỉ số ICOR (hiện ở mức 6,4), để đạt tăng trưởng 2 con số thì tổng đầu tư xã hội phải lên tới 70% GDP. Do đó, mục tiêu là phải đưa ICOR về mức thấp hơn thông qua các giải pháp.
Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng chia sẻ mục tiêu tăng trưởng 2 con số không hề dễ dàng. Trên thế giới từ năm 1946 đến nay chỉ có 13 quốc gia thực hiện thành công việc tăng trưởng liên tục 2 con số trên 10 năm để bứt phá từ quốc gia nghèo thành nước phát triển. Trong suốt thời kỳ đổi mới, VN mới chỉ có 2 năm tăng trưởng trên 9% và chưa bao giờ đạt mức 2 con số. Tuy nhiên, đây là mục tiêu phải thực hiện bằng được. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trên 10% cho cả năm nay, các quý còn lại phải đạt mức tăng từ 10 – 11%.
Bộ Tài chính sẽ tham mưu Chính phủ rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho từng địa phương, bộ, ngành và DN phù hợp với điều kiện mới. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để đảm bảo vừa cung cấp đủ vốn cho nền kinh tế vừa ổn định vĩ mô.
Về giải ngân đầu tư công, Chính phủ sẽ chủ trì một hội nghị toàn quốc để đôn đốc tiến độ, nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu năm 2026. Tập trung giải quyết các dự án tồn đọng về đất đai và các nguồn lực khác. Theo một thống kê chưa đầy đủ, đang tồn đọng khoảng 200.000 ha đất, tương đương 3,3 triệu tỉ đồng. Nếu so với kế hoạch đầu tư công của năm 2026 là 1,1 triệu tỉ đồng, thì con số này gấp 3 lần đầu tư công.
Thông tin thêm cuối phiên thảo luận, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như “hai cánh của một con chim” của nền kinh tế. “Chúng ta chỉ có thể đạt được tăng trưởng cao trong một thời gian dài khi có nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và ngược lại”, ông nói. Vì vậy, Chính phủ tiếp tục xác định ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết, nền tảng để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và ổn định.
Về đổi mới mô hình tăng trưởng, T.Ư sẽ ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm tiếp cận toàn diện hơn với nhiều nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện thành công chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tuy nhiên, ngay từ nay, theo Phó thủ tướng, yêu cầu đặt ra là phải thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ, tái cấu trúc nền kinh tế, đồng thời bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Đây cũng là thách thức lớn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Phó thủ tướng cũng cho hay Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm trở thành một kênh huy động trung và dài hạn của nền kinh tế, chia sẻ “gánh nặng” với các ngân hàng – hiện vẫn là kênh cung cấp vốn trung, dài hạn chủ yếu của DN. Mục tiêu đến năm 2028, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 120% GDP.
Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 - 7.5.
Chia sẻ với báo chí trước thềm chuyến thăm, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Tshering W. Sherpa cho biết chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh năm 2026 đánh dấu tròn 1 thập kỷ hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện.
"Chính phủ Ấn Độ đặc biệt coi trọng chuyến thăm này. Sự hiện diện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Ấn Độ và các cuộc gặp với các lãnh đạo cấp cao sẽ tạo thêm động lực cho quan hệ song phương, vốn đã rất mạnh mẽ và năng động", Đại sứ Tshering W. Sherpa khẳng định.
Đại sứ cho biết, đối với quan hệ Ấn Độ - Việt Nam, có thể nói "bầu trời không giới hạn". Đây là một mối quan hệ năng động, hướng tới tương lai và có tầm nhìn dài hạn. Tình hữu nghị giữa hai nước được xây dựng trên các giá trị chung, niềm tin và sự tôn trọng lẫn nhau.
"Đã đến lúc chúng ta chung tay chuyển đổi những giá trị chung này thành kết quả cụ thể. Hành trình của chúng ta chỉ mới bắt đầu", Đại sứ Ấn Độ nhấn mạnh.
Nhìn lại chặng đường hơn 5 thập kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ấn Độ, đặc biệt là 10 năm nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện, Đại sứ Tshering W. Sherpa cho rằng, Ấn Độ và Việt Nam là hai nền văn minh có quan hệ lâu đời từ hàng nghìn năm trước.
Theo Đại sứ Ấn Độ, Ấn Độ có mối quan hệ đối tác năng động với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Đây là mối quan hệ đối tác hướng tới tương lai, dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau.
Về quan hệ chính trị, lãnh đạo hai nước đã gặp nhau hơn 25 lần kể từ năm 2016, điều này phản ánh rất nhiều về điểm tương đồng trong lợi ích chiến lược cũng như thiện chí giữa hai nước. Thương mại hai nước đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua.
"Về kết nối, mới chỉ vài năm trước chúng ta không có chuyến bay thẳng nào, bây giờ có gần 90 chuyến bay mỗi tuần giữa Ấn Độ và Việt Nam. Đây chính là hệ số nhân thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân và thương mại. Mới năm ngoái thôi, tôi được biết có gần 900.000 lượt du khách qua lại giữa Ấn Độ và Việt Nam", Đại sứ Tshering W. Sherpa cho biết.
Kỳ vọng gì vào những bước phát triển mới giữa hai nước thông qua chuyến thăm lần này, đặc biệt về hợp tác kinh tế - thương mại, công nghệ xanh, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo mà Ấn Độ đang có thế mạnh, Đại sứ Tshering W. Sherpa cho rằng, thương mại song phương hiện đang ở mức 16 tỉ USD. Tuy nhiên, hai bên có thể cùng nhau làm nhiều hơn nữa.
"Cả hai nước đều có lợi về nhân khẩu học, xã hội giàu khát vọng, và kỹ năng khởi nghiệp. Các giá trị chung và sự tin tưởng lẫn nhau cần được chuyển đổi thành kết quả cụ thể, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại", Đại sứ Ấn Độ khẳng định.
Hai bên cần tìm các lĩnh vực hợp tác mới như công nghệ thông tin và truyền thông, đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo (AI), lượng tử, dược phẩm, cũng như ô tô, vận tải và kết nối.
"Chính phủ Ấn Độ là đối tác sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với Việt Nam để hiện thực hóa và tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác mới, mang lại lợi ích cho người dân và xã hội hai nước", Đại sứ Tshering W. Sherpa nhấn mạnh.
Đại sứ Ấn Độ Tshering W. Sherpa cho rằng, Việt Nam là một đối tác quan trọng, chủ chốt trong chính sách "Hành động Hướng Đông" của Ấn Độ, và trong tầm nhìn khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cả hai nước đều tin vào hòa bình, thịnh vượng, ổn định trong khu vực. Việt Nam cũng là đối tác quan trọng, chủ chốt của Ấn Độ trong khuôn khổ ASEAN.
"Ấn Độ cam kết tiếp tục tăng cường quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện năng động với Việt Nam và sẽ đồng hành chặt chẽ cùng Việt Nam trong quan hệ đối tác tiến bộ, hướng tới tương lai này", Đại sứ cho biết.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos nhấn mạnh cam kết của Philippines trong vai trò nước Chủ tịch ASEAN 2026 sẽ tiếp tục cùng các nước thành viên củng cố đoàn kết, nâng cao tự cường, phát huy vai trò trung tâm, tinh thần tương trợ, gia tăng phối hợp giữa các nước thành viên và với các đối tác để ứng phó hiệu quả với các thách thức, duy trì đà hợp tác, quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN.
Tại phiên họp toàn thể ngay sau lễ khai mạc, các nhà lãnh đạo ASEAN nhấn mạnh trong bối cảnh hiện nay, các nước ASEAN cần tiếp tục củng cố đoàn kết, vai trò trung tâm, tăng cường và mở rộng hợp tác với các đối tác, và đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả triển khai các kế hoạch và chương trình hợp tác, nhất là về bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ổn định kinh tế, bảo đảm chuỗi cung ứng và hỗ trợ người dân ASEAN.
Phát biểu tại Phiên họp toàn thể, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định sự ủng hộ và cam kết hợp tác của Việt Nam với Chủ tịch Philippines và các nước thành viên để hiện thực hóa các ưu tiên, sáng kiến của Philippines trong năm 2026.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng, trước những thách thức mang tính liên thông, đa chiều, câu hỏi đặt ra đối với ASEAN không phải là “có bị ảnh hưởng hay không?” mà là ASEAN sẽ “ứng phó như thế nào và ứng phó cùng nhau ra sao?”. Theo đó, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu ba đề xuất lớn:
Trước hết, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng cần tập trung nguồn lực nhằm đảm bảo các nhu cầu an ninh thiết yếu bao gồm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh con người, trong đó có phê chuẩn và triển khai hiệu quả Hiệp định An ninh dầu khí ASEAN, thực hiện thực chất Kế hoạch Hành động hợp tác năng lượng ASEAN giai đoạn 2026 - 2030, Lưới điện ASEAN và Hệ thống đường ống dẫn khí ASEAN.
Đa dạng hóa các nguồn năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng, tăng cường tiếp cận tài chính xanh và công nghệ tiên tiến; nâng cao hiệu quả các khuôn khổ và thỏa thuận về an ninh lương thực hiện có, tăng cường dự trữ chiến lược và thiết lập cơ chế dự trữ khẩn cấp, chuyên biệt đối với gạo và các mặt hàng thiết yếu khác.
Thủ tướng khẳng định Việt Nam sẵn sàng hỗ trợ lương thực trong các tình huống khẩn cấp, chia sẻ kinh nghiệm liên quan với các quốc gia thành viên ASEAN và sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các quốc gia thành viên ASEAN trong công tác hỗ trợ công dân.
Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất nhằm tăng cường năng lực nội tại và khả năng chống chịu của ASEAN. Theo đó, cần triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) và sớm hoàn tất Hiệp định Khung Kinh tế số ASEAN (DEFA).
Cuối cùng, Thủ tướng Lê Minh Hưng kêu gọi tăng cường phối hợp và đoàn kết ASEAN, trong đó cần nâng cao hiệu quả tham vấn và điều phối liên ngành trong các tình huống khẩn cấp, cũng như tiếp tục phát huy vai trò điều phối của Ban Thư ký ASEAN nhằm bảo đảm các cam kết khu vực được triển khai liên tục, đồng bộ và hiệu quả.
Các đề xuất của Việt Nam được các lãnh đạo ASEAN hoan nghênh, đánh giá cao về nội dung và tính kịp thời. Trên cơ sở đề xuất của Việt Nam, Hội nghị thảo luận, nhất trí ra Tuyên bố lãnh đạo ASEAN về các hành động ưu tiên củng cố tự cường khu vực ứng phó với các hệ lụy từ tình hình Trung Đông; thể hiện quan điểm chính trị của ASEAN với các hệ lụy tình hình Trung Đông, tầm nhìn của các lãnh đạo định vị ASEAN trong cấu trúc khu vực, và chiến lược và biện pháp ứng phó chung mang tính hành động, thực thi cao.
Dự Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV sáng nay 4.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu lớn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong hành trình đó, giai cấp công nhân và người lao động giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không thể xây dựng một nền công nghiệp hiện đại nếu thiếu đội ngũ công nhân hiện đại; không thể nâng cao năng suất lao động nếu người lao động không được đào tạo, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng. Đồng thời, phát triển bền vững cũng không thể đạt được nếu đời sống của công nhân còn nhiều khó khăn và tiếng nói của họ chưa được lắng nghe đầy đủ.
Từ yêu cầu đó, đại hội không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng của tổ chức công đoàn mà còn là dịp để xác định con đường đổi mới nhằm đưa Công đoàn Việt Nam thực sự trở thành cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân và người lao động.
Không né tránh những hạn chế
Ghi nhận những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá các cấp công đoàn đã có nhiều nỗ lực trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; chăm lo việc làm, thu nhập, phúc lợi, nhà ở và điều kiện lao động cho đoàn viên, người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại cần sớm khắc phục.
Theo đó, một số hoạt động công đoàn vẫn còn nặng tính hành chính, phong trào, chưa thật sự đi sâu vào những vấn đề người lao động cần nhất. Năng lực đại diện, đối thoại và bảo vệ quyền lợi người lao động ở một số nơi còn hạn chế. Không ít công đoàn cơ sở chưa đủ mạnh để nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những bức xúc phát sinh trong quan hệ lao động.
Đáng chú ý, đời sống của một bộ phận công nhân, nhất là lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, lao động di cư, lao động phi chính thức vẫn gặp nhiều khó khăn về thu nhập, nhà ở, trường học cho con, y tế và các điều kiện an sinh xã hội.
"Công đoàn phải đổi mới nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn. Công đoàn không thể mạnh nếu xa công nhân. Công đoàn không thể hấp dẫn nếu người lao động không thấy quyền lợi của mình được bảo vệ tốt hơn. Công đoàn không thể hiện đại nếu vẫn chủ yếu hoạt động bằng giấy tờ, hội họp và khẩu hiệu", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Một trong những yêu cầu quan trọng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra cho nhiệm kỳ tới là Công đoàn phải đổi mới để thật sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động, là cầu nối bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân. Mọi hoạt động công đoàn phải lấy đoàn viên và người lao động làm trung tâm.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Công đoàn được thành lập để đại diện, chăm lo và bảo vệ người lao động. Vì vậy, mọi chương trình, kế hoạch hay phong trào đều phải trả lời được câu hỏi: người lao động được hưởng lợi gì, quyền lợi nào được bảo vệ, khó khăn nào được tháo gỡ và tiếng nói nào được lắng nghe.
"Hiệu quả của Công đoàn không nên được đo bằng số cuộc họp, số văn bản hay số lượng phong trào, mà phải đo bằng niềm tin của đoàn viên, sự hài lòng của người lao động, mức độ cải thiện đời sống tại cơ sở", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.
Lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước yêu cầu ở đâu có người lao động thì ở đó phải có công đoàn. Khi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị ảnh hưởng, Công đoàn phải lên tiếng, chủ động đối thoại, hòa giải và bảo vệ cái đúng.
Đặc biệt, Công đoàn cần nâng cao năng lực phòng ngừa tranh chấp lao động từ sớm, từ cơ sở. Những phản ánh, kiến nghị của công nhân phải được lắng nghe trước khi trở thành bức xúc; những mâu thuẫn nhỏ cần được giải quyết kịp thời trước khi phát triển thành điểm nóng.
Nhấn mạnh vai trò của Công đoàn cơ sở, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng đây là địa bàn quyết định sức sống của toàn bộ hệ thống Công đoàn.
Theo đó, Công đoàn cấp trên phải hướng mạnh về cơ sở, hỗ trợ về pháp lý, kỹ năng thương lượng, đối thoại, xử lý tranh chấp và các phương pháp vận động người lao động.
Đối với cán bộ Công đoàn cơ sở, yêu cầu đặt ra là phải thực sự gần công nhân, hiểu công nhân, lắng nghe được tâm tư của công nhân và dám bảo vệ công nhân bằng pháp luật cũng như trách nhiệm của mình.
"Không thể để công đoàn cơ sở chỉ là nơi tổ chức phong trào, thu đoàn phí hay phát quà dịp lễ, tết. Công đoàn cơ sở phải là nơi người lao động tìm đến", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Trước yêu cầu của thời đại số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng Công đoàn Việt Nam theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và có đủ năng lực đại diện trong tình hình mới.
Công đoàn số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng phần mềm quản lý đoàn viên mà còn phải giúp tổ chức Công đoàn nắm chắc tình hình lao động, dự báo sớm nguy cơ tranh chấp để có giải pháp xử lý kịp thời.
"Đất nước đang cần một giai cấp công nhân hiện đại hơn, bản lĩnh hơn, sáng tạo hơn. Người lao động đang cần một tổ chức Công đoàn gần gũi hơn, thiết thực hơn, mạnh mẽ hơn", Tổng Bí thư nhấn mạnh.