Tại cuộc điện đàm, Thủ tướng Anthony Albanese khẳng định Úc quan tâm và mong muốn muốn tăng cường hơn nữa quan hệ với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực.
Thủ tướng Anthony Albanese khẳng định Úc luôn đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ Việt Nam trong thực hiện cải cách nhằm đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045.
Thủ tướng Anthony Albanese khẳng định sự ổn định, an ninh và thịnh vượng của Úc gắn kết sâu sắc với các quốc gia Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu; nhấn mạnh Úc luôn ủng hộ mạnh mẽ vai trò trung tâm của ASEAN.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá Úc luôn là người bạn tin cậy, là Đối tác chiến lược toàn diện giàu tiềm năng và có vị thế, vai trò ngày càng tăng ở khu vực, cùng chia sẻ với Việt Nam nhiều lợi ích chiến lược cũng như các điểm tương đồng về phát triển bao trùm, chuyển đổi xanh, kinh tế số và tự chủ chiến lược.
Hai nhà lãnh đạo vui mừng nhận thấy quan hệ Việt Nam – Úc ngày càng phát triển mạnh mẽ, tin cậy, thực chất và hiệu quả khi các lĩnh vực trụ cột trong Chương trình Hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện 2024 – 2027 đều được triển khai đúng tiến độ, đến nay đã cơ bản hoàn thành 96%.
Hai nhà lãnh đạo đánh giá tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, tác động tiêu cực đến chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, vì vậy nhất trí tăng cường phối hợp để góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế cùng quan tâm, trong đó có an ninh, an toàn hàng hải và an ninh năng lượng.
Hai bên nhất trí tăng cường tin cậy chính trị thông qua duy trì đều đặn các trao đổi và tiếp xúc trên tất các kênh Đảng, Nhà nước và giao lưu nhân dân; thúc đẩy thực chất, hiệu quả hợp tác về quốc phòng – an ninh, thương mại – đầu tư, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, ứng phó với biến đổi khí hậu, năng lượng và hợp tác biển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong Chính phủ Úc tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các hội trí thức, chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam và cộng đồng người Việt tại Úc ngày càng phát triển, cũng như giúp các giá trị văn hóa của Việt Nam đến gần hơn với người dân Úc.
Nhân dịp này, phía Việt Nam mong đón Thủ tướng Anthony Albanese sớm thăm lại; phía Úc cũng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sang thăm Úc vào thời điểm thích hợp.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Nhân Ngày Môi trường thế giới (5.6) và Ngày Đại dương thế giới (8.6), chúng ta cùng nhau suy ngẫm sâu sắc hơn về một vấn đề hệ trọng của thời đại, đó là quan hệ giữa con người với thiên nhiên đang đứng trước những chuyển biến lớn, đòi hỏi cách tiếp cận mới về phát triển, trách nhiệm và hành động. Môi trường an toàn và đại dương hòa bình, bền vững là vấn đề trung tâm của phát triển, an ninh, hòa bình, công bằng, đạo đức và sự trường tồn của các quốc gia dân tộc.
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc chưa từng có về môi trường sinh thái. Trái đất nóng lên liên tục, thời tiết cực đoan, băng tan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và đại dương đang tác động trực tiếp đến mọi châu lục. Sự mất cân bằng ấy cho thấy giới hạn của tự nhiên đang bị đẩy đến mức nguy hiểm.
Những thách thức đó đặt ra một câu hỏi lớn cho nhân loại: sự phát triển có bền vững không nếu nền tảng sinh thái nuôi dưỡng sự sống bị bào mòn? Trong nhiều thế kỷ, con người đã tạo nên những thành tựu vĩ đại về công nghiệp, khoa học, công nghệ, thương mại và đô thị hóa. Nhưng mô hình phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng hóa thạch, sản xuất tuyến tính và văn hóa tiêu dùng lãng phí cũng để lại những hệ quả nặng nề về môi trường sinh thái.
Từ nhận thức đó, bảo vệ môi trường phải được nhìn nhận như một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người. Một quốc gia có thể có tăng trưởng cao, nhưng nếu người dân phải sống trong ô nhiễm và suy thoái môi trường thì chưa thể coi là phát triển bền vững. Một xã hội hiện đại và thịnh vượng phải là xã hội biết làm giàu trong giới hạn sinh thái, sử dụng tài nguyên với trách nhiệm, xem thiên nhiên là điều kiện tồn tại, là tài sản quốc gia và là di sản của các thế hệ mai sau.
Đại dương càng cho thấy rõ hơn tính liên thông tác động lẫn nhau của nhân loại. Biến động khí hậu hay bất ổn ở một vùng đại dương có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực, thương mại, năng lượng và sinh kế của nhiều quốc gia. Vì vậy, bảo vệ đại dương không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà còn là yêu cầu của hòa bình, hợp tác, luật pháp quốc tế, công bằng phát triển và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, những vấn đề đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Việt Nam là quốc gia biển, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hơn 3.260 km bờ biển, hai đồng bằng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều đô thị ven biển, nơi hàng triệu ngư dân và cộng đồng sinh sống, nên đất nước ta dễ bị tổn thương trước tình trạng nước biển dâng, bão lũ, xâm nhập mặn, sạt lở, ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi và biến động sinh thái, cũng như sự khai thác quá mức thiên nhiên.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế thông qua cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng, giảm rác thải nhựa đại dương, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn đa dạng sinh học và thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Những cam kết ấy không phải là nghĩa vụ bên ngoài đưa lại, mà là nhu cầu tự thân của đất nước. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, trở thành quốc gia có thu nhập cao phải thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái.
Truyền thống văn hóa các vùng, miền và làng quê Việt Nam từ lâu đã chứa đựng tinh thần hòa hợp với thiên nhiên. Trong thời đại mới, truyền thống ấy cần được nâng lên thành hệ giá trị phát triển hiện đại: tôn trọng tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên, tiêu dùng có trách nhiệm, sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh hơn, quản trị minh bạch hơn và công bằng hơn giữa các thế hệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa rộng, từ rất sớm đã đặt con người, thiên nhiên và tương lai dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất. Người căn dặn: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Trong tư tưởng ấy, "trồng cây" là hành động thiết thực để gây dựng môi trường sống; "trồng người" là sự nghiệp căn bản để xây dựng chủ thể phát triển có tri thức, đạo đức và trách nhiệm. Người cũng viết: "Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân". Đó là lời kêu gọi giản dị mà vượt thời gian, mỗi cây xanh được trồng xuống là một niềm hy vọng vào tương lai, mỗi hành động bảo vệ thiên nhiên là một cách làm cho đất nước thêm bền vững, tươi đẹp và nhân văn.
Đối với biển, đảo, Người từng căn dặn đồng bào Cát Bà, Cát Hải: "…rừng là vàng, biển là bạc. Rừng biển là của ta, do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ …". Câu nói ấy chứa đựng một quan điểm phát triển sâu sắc, quyền làm chủ tài nguyên luôn đi liền với trách nhiệm gìn giữ, khai thác phải gắn với bảo vệ, phát triển hôm nay phải nghĩ đến ngày mai. Biển không chỉ là nguồn lợi kinh tế mà còn là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian kết nối và không gian chiến lược của dân tộc Việt Nam.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu của thời đại, chúng ta cần xác lập một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt rằng phát triển xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương và ứng phó biến đổi khí hậu phải trở thành một trụ cột của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây không phải là việc riêng của ngành tài nguyên và môi trường mà là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, từng địa phương, từng gia đình và mỗi người dân.
Muốn vậy, trong thời gian tới, cần tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện tư duy phát triển và thể chế quản trị môi trường theo hướng coi thiên nhiên là nền tảng của phát triển bền vững. Mọi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển phải được đặt trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái, khả năng thích ứng khí hậu và yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cần thay đổi tư duy từ xử lý ô nhiễm sau phát triển sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ thiết kế phát triển. Đổi mới phương thức quản trị môi trường và tài nguyên theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Mở rộng thước đo phát triển, không dừng ở sản lượng hay tốc độ tăng trưởng mà bao gồm chất lượng sống, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức phát thải, năng lực chống chịu khí hậu và công bằng xã hội. Thể chế phải bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí, người bảo vệ thiên nhiên phải được hưởng lợi, địa phương phát triển xanh phải được khuyến khích, doanh nghiệp đổi mới xanh phải được hỗ trợ, còn hành vi hủy hoại môi trường phải bị xử lý nghiêm minh.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng, cơ cấu năng lượng, sản xuất, tiêu dùng và đô thị hóa. Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với an ninh hệ thống, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy công nghiệp ít phát thải, nông nghiệp sinh thái, giao thông công cộng, công trình xanh, vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi chính doanh nghiệp là nơi đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế. Nhà nước cần có chính sách tài chính xanh, tín dụng xanh, mua sắm công xanh, tiêu chuẩn phát thải, cơ chế định giá các-bon và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường.
Thứ ba, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ chủ quyền, sinh kế nhân dân và hòa bình trên biển. Việt Nam coi gìn giữ môi trường biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển, phát triển kinh tế biển bền vững phải đi liền với giữ vững hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, và cùng xây dựng Biển Đông thành vùng biển của hợp tác, trách nhiệm và phát triển bền vững. Việt Nam sẽ xác lập mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại hơn dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu biển, bảo tồn hệ sinh thái; phát triển hệ thống cảng biển xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, du lịch sinh thái biển đảo, dịch vụ hàng hải, v.v... Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác hải sản bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao đời sống ngư dân.
Thứ tư, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên và xây dựng năng lực thích ứng khí hậu như một hạ tầng chiến lược của quốc gia. Đầu tư cho thiên nhiên là đầu tư cho tương lai. Tích cực phòng chống thiên tai, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và ổn định sinh kế. Cần ưu tiên phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ven biển, rừng ngập mặn. Bảo vệ nghiêm các hệ sinh thái nhạy cảm; kiểm soát khai thác cát, nước ngầm, tài nguyên ven bờ. Xây dựng các đô thị thích ứng với khí hậu, tái thiết không gian sông, hồ, kênh rạch; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và quản trị rủi ro thiên tai. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung ven biển, miền núi phía bắc và các đô thị lớn, thích ứng khí hậu phải trở thành nội dung cốt lõi của quy hoạch phát triển, đầu tư công và bảo đảm an sinh.
Thứ năm, xây dựng nền quản trị môi trường dựa trên khoa học, dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của xã hội. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về phát thải, chất lượng nước, không khí, rác thải, đa dạng sinh học, tài nguyên biển, sạt lở, xâm nhập mặn, rủi ro khí hậu và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, bản đồ số, cơ sở dữ liệu biển đảo, mô hình dự báo thiên tai và nền tảng phản ánh của người dân cần được ứng dụng rộng rãi. Người dân có quyền được biết về chất lượng môi trường nơi mình sống, doanh nghiệp có nghĩa vụ minh bạch tác động môi trường, cơ quan nhà nước phải ra quyết định dựa trên bằng chứng và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cùng với đó, cần thúc đẩy giáo dục môi trường trong trường học, cộng đồng và xã hội; truyền thông khoa học, lối sống xanh, phân loại rác tại nguồn, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần và xây dựng văn hóa công dân sinh thái trong toàn xã hội.
Thứ sáu, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi xanh và tăng cường hợp tác quốc tế vì khí hậu, môi trường và đại dương. Chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đó là quá trình công bằng, bao trùm và nhân văn. Những người nghèo, lao động trong các ngành phát thải cao, cộng đồng ven biển, phụ nữ, trẻ em và các nhóm dễ tổn thương cần được hỗ trợ về sinh kế, đào tạo nghề, tài chính, bảo hiểm rủi ro, hạ tầng thích ứng và tiếp cận dịch vụ xã hội. Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh; tạo sinh kế bền vững cho người dân bảo vệ môi trường sinh thái.
Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, thực hiện đầy đủ và thực chất hơn các cam kết về tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ thích ứng, bồi đắp năng lực quản trị và mở rộng thị trường cho các sản phẩm xanh của các nước đang phát triển. Các nước công nghiệp phát triển đã đi trước trong quá trình công nghiệp hóa, đã tích lũy của cải trong một thời gian dài dựa trên mức phát thải lớn hơn và có năng lực tài chính, công nghệ vượt trội hơn. Vì vậy, trách nhiệm của họ trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đại dương và phục hồi hệ sinh thái toàn cầu phải tương xứng với năng lực hiện tại và trách nhiệm lịch sử. Một trật tự xanh công bằng phải giúp các nước đang phát triển không bị bỏ lại phía sau, không biến các tiêu chuẩn môi trường thành rào cản thương mại mới.
Các nước đang phát triển cần quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện các cam kết xanh. Nhưng lộ trình chuyển đổi phải phù hợp với trình độ phát triển, năng lực công nghệ, điều kiện ngân sách, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Việt Nam sẵn sàng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong các nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm ô nhiễm nhựa, bảo vệ đại dương, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và xây dựng nền kinh tế xanh. Chúng ta mong muốn cùng các đối tác phát triển một khuôn khổ hợp tác thực chất hơn, trong đó tài chính xanh đến được với những nơi cần nhất, công nghệ sạch được chia sẻ rộng rãi hơn, tri thức quản trị được lan tỏa nhanh hơn, và lợi ích của chuyển đổi xanh được phân bổ công bằng hơn giữa các quốc gia, các cộng đồng và các thế hệ.
Sáu nhóm nhiệm vụ trên đây phải được triển khai bằng tinh thần hành động thực chất với sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội. Mỗi địa phương phải có chương trình hành động phù hợp với đặc điểm sinh thái và mô hình phát triển của mình. Mỗi bộ, ngành phải tích hợp mục tiêu xanh vào chính sách chuyên ngành. Mỗi doanh nghiệp phải coi tuân thủ môi trường là tiêu chuẩn tồn tại và đổi mới xanh là điều kiện cạnh tranh. Mỗi người dân phải biến tình yêu thiên nhiên, yêu biển đảo, yêu quê hương thành hành động cụ thể hằng ngày.
Ngày Môi trường thế giới và Ngày Đại dương thế giới nhắc chúng ta ngưỡng chịu đựng của trái đất có giới hạn, đại dương đang bị tổn thương và hành động trách nhiệm của nhân loại. Chúng ta đứng trước sứ mệnh kiến tạo một Việt Nam xanh, trách nhiệm và bền vững trong thế kỷ XXI; một mô hình phát triển thịnh vượng, nhân văn, hiện đại và hài hòa với thiên nhiên; xây dựng đất nước giàu mạnh mà môi trường vẫn trong lành, biển đảo vẫn bình yên, dòng sông vẫn xanh, cánh rừng vẫn đại ngàn và mỗi người dân được sống an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc.
Mỗi người Việt Nam hãy bắt đầu từ một việc cụ thể: trồng và chăm một cây xanh, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần, tiết kiệm năng lượng, phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, giữ sạch bãi biển, lan tỏa một thói quen sống xanh, hãy hành động vì tương lai của Việt Nam luôn mãi xanh tươi và bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp nguyên Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long

Dự cuộc tiếp còn có ông Tiêu Chí Hiền, Chủ tịch Temasek Holdings, kiêm Cố vấn cao cấp Văn phòng Thủ tướng Singapore, nguyên Phó thủ tướng Singapore.
Bộ trưởng cao cấp, Cố vấn cấp cao của Đảng Hành động nhân dân Singapore, nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long vui mừng gặp lại Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; đánh giá cao nội dung phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Đối thoại Shangri-La, thể hiện tầm nhìn, trách nhiệm cao đối với các vấn đề chung của khu vực, góp phần mở ra tư duy mới trong quản trị khủng hoảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ trân trọng và ghi nhận những đóng góp hết sức quan trọng của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu và Bộ trưởng cao cấp, Cố vấn cấp cao, nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long đối với quá trình xây dựng, phát triển và làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước trong nhiều thập kỷ qua, góp phần đưa quan hệ Việt Nam - Singapore trở thành một trong những hình mẫu hợp tác năng động, hiệu quả hàng đầu trong ASEAN.
Hài lòng trước sự phát triển tích cực, thực chất và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước sau một năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long đã trao đổi về một số phương hướng làm sâu sắc quan hệ hai nước trong giai đoạn phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Singapore tiếp tục quan tâm, hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực đào tạo cán bộ, chia sẻ kinh nghiệm về cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hoạt động hiệu quả của bộ máy nhà nước và hoàn thiện chính sách, cơ chế trong những lĩnh vực phát triển mới.
Ông Lý Hiển Long đánh giá cao việc thiết lập cơ chế Đối thoại chiến lược giữa Đảng Hành động nhân dân Singapore và Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định trên cương vị Cố vấn cấp cao của Đảng Hành động nhân dân Singapore, ông sẽ tiếp tục ủng hộ đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa hai Đảng và thúc đẩy việc triển khai các chương trình hợp tác quan trọng giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Thủ tướng Lý Hiển Long nhất trí cho rằng trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, hai nước cần tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa, vì sự phát triển của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực Đông Nam Á.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm Sri Lanka, Tổng thống Anura Kumara Dissanayake cho biết lãnh đạo, nhân dân Sri Lanka luôn dành những tình cảm hữu nghị, chân thành đối với Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Ông cũng bày tỏ khâm phục Việt Nam, một hình mẫu phát triển ở khu vực và trên thế giới; ngưỡng mộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước Việt Nam phát triển như ngày hôm nay.
Bày tỏ vui mừng được thăm lại đất nước Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Sri Lanka đã đạt được những kết quả tích cực trong ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nợ và phục hồi sau khủng hoảng (2020 - 2024), đặc biệt là triển khai hiệu quả chương trình cải cách kinh tế cũng như việc triển khai chương trình "Sri Lanka sạch 2026".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Dissanayake, Sri Lanka sẽ bước vào quỹ đạo tăng trưởng ổn định, bền vững, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển và "Tầm nhìn 2048" đưa Sri Lanka thành nước phát triển nhân kỷ niệm 100 năm độc lập, xứng đáng với tên gọi "hòn ngọc Ấn Độ Dương".
Hai nhà lãnh đạo đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước, bày tỏ vui mừng về quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt đã trải qua hơn nửa thế kỷ với tin cậy chính trị, thủy chung, sự ủng hộ chí tình, sự tương đồng về văn hóa Phật giáo và đều là thành viên tích cực của Phong trào Không Liên kết.
Đánh giá cao quan hệ song phương đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi về những phương hướng hợp tác mang tính định hướng lớn nhằm đưa quan hệ hai nước phát triển sâu rộng hơn nữa, tương xứng với tiềm năng to lớn sẵn có, nâng tầm hợp tác song phương vì lợi ích hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Hai bên nhất trí nâng tầm tin cậy chính trị, phát triển toàn diện quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước; mở rộng trao đổi và tiếp xúc cấp cao và các cấp và triển khai định kỳ các cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực. Đồng thời, đẩy mạnh quan hệ giữa hai đảng cầm quyền; tăng cường trao đổi lý luận, chính sách đối ngoại, các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.
Hai bên nhất trí đưa hợp tác quốc phòng, an ninh đi vào thực chất, hiệu quả, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, mở rộng hợp tác về trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng; tăng cường hợp tác về an ninh hàng hải, an ninh mạng.
Nhấn mạnh tiềm năng hợp tác về thương mại và đầu tư, hai nhà lãnh đạo nhất trí triển khai các biện pháp đột phá nhằm sớm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 1 tỉ USD trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam sẵn sàng cung ứng cho thị trường Sri Lanka các sản phẩm có thế mạnh và Sri Lanka có nhu cầu như lương thực, thực phẩm, các loại máy dùng cho nông nghiệp...
Về phần mình, Tổng thống Anura Kumara Dissanayake khẳng định Chính phủ Sri Lanka sẽ tạo thuận lợi và có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Sri Lanka; thúc đẩy hợp tác nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi xanh.
Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường hợp tác nông nghiệp, kết nối chuỗi cung ứng nông sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, thủy sản, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, chia sẻ kinh nghiệm về phát triển các mặt hàng chủ lực và triển khai các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cùng có lợi giữa hai nước, hướng đến việc hai nước các dự án có tính biểu tượng.
Hai bên nhất trí đưa hợp tác văn hóa, giáo dục, kết nối và giao lưu nhân dân thành một trụ cột quan trọng của quan hệ song phương. Theo đó, hai bên sẽ mở rộng hợp tác du lịch nhất là du lịch tâm linh; mở đường bay thẳng giữa hai nước, thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu.
Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đề nghị Việt Nam mở phân hiệu của một số trường đại học lớn tại Sri Lanka.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng cần phát huy hơn nữa hợp tác văn hóa và đề nghị Sri Lanka hỗ trợ các hoạt động tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như lan tỏa văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam tại Sri Lanka. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, hai nước cần quyết tâm đưa ngay các thỏa thuận vào triển khai.
Về các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm, hai bên nhấn mạnh trong bối cảnh thế giới, khu vực có những biến động phức tạp, Việt Nam và Sri Lanka cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết và Diễn đàn Phương Nam toàn cầu.
Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải và nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Ngay sau hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Dissanayake đã chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực an ninh, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin và truyền thông và chủ trì gặp gỡ báo chí chung.
Tin Gốc: Thanh Niên

