Đó còn là một lát cắt văn hóa, khi một món ăn tưởng chừng bình dân lại trở thành điểm hẹn của nhiều quốc tịch, nhiều câu chuyện, nhiều cảm xúc.
Trong dòng người đó, nhiều du khách đã không ngớt lời khen rằng mặc dù đã ăn qua rất nhiều món ngon trên thế giới, nhưng bánh mì vẫn là món ăn số 1 đối với họ.
Có lẽ chúng ta đã quen với bánh mì đến mức quên mất rằng đó là một “kỳ tích văn hóa” rất riêng của Việt Nam. Nếu nhìn ở góc độ nguyên liệu, bánh mì không có gì quá đặc biệt: một ổ bánh giòn, vài lát thịt, chút rau, ít nước xốt.
Nhưng điều làm nên sức sống của nó không nằm ở từng thành phần mà ở sự hòa trộn. Đó là câu chuyện của một nền ẩm thực biết tiếp nhận, biến đổi và làm mới.
Từ chiếc baguette của Pháp, qua thời gian, người Việt đã biến nó thành bánh mì Việt – nhỏ hơn, giòn hơn, đậm đà hơn và quan trọng nhất là “Việt Nam hơn”.
Trong mỗi ổ bánh mì là sự giao thoa của lịch sử, của khẩu vị, của đời sống đô thị và cả nhịp sống nhanh.
Chính vì vậy bánh mì không chỉ là món ăn mà đã trở thành một biểu tượng của sự thích nghi, của sáng tạo. Và cũng là biểu tượng của một nền văn hóa biết “làm của mình” từ những gì tưởng như không thuộc về mình.
Điều đáng nói là trong khi người Việt ăn bánh mì mỗi ngày, nhiều khi chỉ như một lựa chọn tiện lợi, thì du khách quốc tế lại nhìn thấy trong đó một trải nghiệm đặc biệt. Họ sẵn sàng xếp hàng dưới nắng như tại lễ hội này, sẵn sàng thử nhiều loại khác nhau và thậm chí mang về khách sạn để ăn tiếp.
Tại sao lại có sự khác biệt đó? Có lẽ vì người ngoài nhìn vào bằng sự tò mò, còn người trong cuộc đôi khi lại nhìn bằng thói quen. Chúng ta quen nên không còn thấy lạ, quen nên không còn thấy quý.
Thực ra lễ hội bánh mì không chỉ là nơi ăn uống mà là một dịp để kể lại câu chuyện của bánh mì Việt Nam một cách có ý thức.
Khi một món ăn được đưa lên thành lễ hội, được tổ chức bài bản, được truyền thông, được trải nghiệm, nó không còn chỉ là “đồ ăn” mà trở thành “giá trị” – nếu được gìn giữ và phát triển đúng hướng có thể đi rất xa, như chủ đề của lễ hội năm nay: “Bánh mì Việt Nam: Giá trị ẩm thực thế giới – Lan tỏa năm châu”.
Câu chuyện bánh mì cũng là câu chuyện của văn hóa Việt trong bối cảnh hội nhập. Làm sao để những gì bình dị nhất có thể trở thành điểm nhấn? Làm sao để một món ăn đường phố có thể đứng ngang hàng với những thương hiệu ẩm thực toàn cầu?
Câu trả lời nằm ở việc hiểu và giữ được bản sắc. Một ổ bánh mì ngon không cần phải cầu kỳ. Nó cần đúng vị. Đúng cái giòn của vỏ, cái mềm của ruột, cái đậm đà của nhân. Và hơn hết, nó cần giữ được cái “hồn” – thứ không thể đo bằng công thức.
Cũng giống như văn hóa, khi đánh mất “hồn” thì dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ là vỏ ngoài. Và điều quan trọng nữa là phải có những kế hoạch thúc đẩy cụ thể, thường xuyên để bánh mì “lan tỏa năm châu” chứ không dừng ở lễ hội mỗi năm một lần.
Điều đáng mừng là qua những lễ hội như thế này, người trẻ bắt đầu quan tâm hơn đến những giá trị tưởng như rất quen thuộc.
Không chỉ là ăn, mà là hiểu. Không chỉ là thưởng thức, mà là tự hào. Một bạn trẻ có thể check-in với ổ bánh mì nhưng nếu từ đó họ hiểu thêm về lịch sử, về cách làm, về câu chuyện phía sau thì đó đã là một bước tiến.
Văn hóa không tự nhiên tồn tại mà cần được kể lại, được làm mới và được truyền đi. Sự yêu thích của du khách quốc tế cũng là một lời nhắc nhở rằng những gì chúng ta đang có không hề nhỏ bé.
Một món ăn có thể trở thành cầu nối. Một trải nghiệm ẩm thực có thể trở thành lý do để người ta quay lại một đất nước.
Khi một người Mỹ, một người Slovakia hay bất kỳ ai tìm đến bánh mì như một “món ăn số 1”, thì đó không chỉ là câu chuyện khẩu vị. Đó là câu chuyện của cảm xúc. Và khi đã chạm đến cảm xúc, văn hóa đã thực sự “đi ra thế giới”.
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết ngày 22/5, cơ quan này đã có công văn gửi UBND các tỉnh, thành về việc tăng cường các hoạt động truyền thông về xăng E10. Công văn được ban hành trong bối cảnh chỉ còn gần 10 ngày nữa (ngày 1/6), xăng E10 sẽ chính thức triển khai trên phạm vi toàn quốc, thay thế xăng khoáng RON 95.
Trong khi đó, xăng E5 RON 92 vẫn được phối trộn và pha chế để sử dụng cho động cơ xăng đến hết năm 2030 để đảm bảo phục vụ xe máy đời cũ sử dụng cho phù hợp.
Công văn mới nhất của Bộ Công Thương nêu rõ, ngày 8/12/2025, Bộ trưởng Công Thương đã ban hành kế hoạch phổ biến thông tư quy định lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống tại Việt Nam.
Sau gần 5 tháng triển khai, công tác truyền thông về xăng sinh học E10 đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho biết qua theo dõi vẫn xuất hiện một số thông tin, ý kiến bày tỏ lo ngại về tính tương thích, mức độ an toàn của xăng E10 đối với một số loại động cơ, phương tiện; tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các luồng thông tin trái chiều nếu không được định hướng, giải thích kịp thời.
Bộ này đề nghị UBND các tỉnh, thành quan tâm chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí, truyền thông trên địa bàn; các cơ quan trực thuộc; các thương nhân đầu mối kinh doanh, phân phối xăng dầu tăng cường thông tin, tuyên truyền về lộ trình triển khai mặt hàng xăng E10.
Công tác tuyên truyền cần bảo đảm khách quan, chính xác, bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm kịp thời định hướng thông tin, dư luận xã hội.
Hiện, nhiều doanh nghiệp đầu mối lớn đã tiên phong triển khai rộng rãi loại xăng sinh học này tại các cửa hàng xăng dầu trực thuộc trên cả nước. Cụ thể, từ ngày 15/5, gần 1.000 cửa hàng xăng dầu của PV OIL trên toàn quốc đã kinh doanh xăng sinh học E10.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) - doanh nghiệp đầu mối chiếm thị phần lớn nhất cả nước cũng chuyển đổi sang kinh doanh xăng E10 từ ngày 20/5.
Xăng sinh học E10 là nhiên liệu chứa 10% thể tích cồn sinh học và 90% thể tích xăng truyền thống. Việc sử dụng xăng sinh học giúp cải thiện tính năng động cơ, giảm phát thải, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và xã hội.
Do ethanol có trị số octan (RON - Research Octane Number) cao tới 109 nên khi pha vào xăng sẽ giúp nhiên liệu chống kích nổ tốt hơn.
Ngoài ra, ethanol chứa nhiều oxy hơn so với xăng thường, giúp quá trình cháy trong động cơ diễn ra triệt để hơn, tăng công suất, giảm tiêu hao nhiên liệu, đồng thời giảm thiểu phát thải các chất độc hại trong khí thải động cơ.
Công ty cổ phần Dịch vụ hàng không sân bay Đà Nẵng (MASCO) vừa gửi văn bản giải trình biện pháp và lộ trình khắc phục tình trạng chứng khoán bị cảnh báo.
Cụ thể, ngày 27-3-2026, công ty nhận được thông báo của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội về việc cổ phiếu MAS tiếp tục duy trì diện bị cảnh báo do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại ngày 31-12-2025 trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán là số âm.
Mặc dù lợi nhuận sau thuế năm 2025 doanh nghiệp đạt 8,6 tỉ đồng, tăng gần 18% nhưng lỗ lũy kế tại thời điểm cuối năm là 1,7 tỉ đồng. Số lỗ lũy kế cuối năm 2024 là 9,1 tỉ đồng.
Công ty này cho biết hoạt động kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực liên quan đến ngành hàng không, như cung ứng suất ăn máy bay cho các hãng hàng không, bán hàng tại các sân bay miền Trung, đào tạo nghề lái xe ô tô, mô tô... Tuy nhiên, giai đoạn 2020-2022 ngành hàng không bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi dịch COVID-19. Do đó doanh thu bị giảm mạnh và ghi nhận lỗ lớn năm 2020 và năm 2021.
Giai đoạn 2022-2025, thị trường hàng không phục hồi chậm nên lượng khách tại các sân bay miền Trung tuy có tăng trưởng nhưng vẫn còn thấp.
Trong văn bản giải trình, doanh nghiệp cho biết mặc dù doanh thu năm 2025 tăng trưởng mạnh (gần 27%) nhưng có sự thay đổi về cơ cấu. Mảng cung ứng suất ăn cho các chặng bay quốc tế (tỉ lệ lãi gộp cao) vẫn còn thấp. Ngoài ra, chi phí sản xuất tăng cao trong khi giá dịch vụ cung cấp cho các hãng tăng chậm hơn, ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Bên cạnh đó, sự thay đổi, sáp nhập các sở ngành và chuyển đổi chức năng quản lý lĩnh vực sát hạch lái xe, thay đổi chủng loại phương tiện đào tạo hạng C tác động lớn đến mảng đào tạo lái xe ô tô, mô tô. Doanh thu và lợi nhuận lĩnh vực này cùng sụt giảm.
Công ty này hiện có 2 trung tâm đào tạo lái xe tại Đà Nẵng và Huế. Doanh thu mảng đào tạo lái xe năm 2025 ở mức 36,22 tỉ đồng, chiếm khoảng 16% tổng doanh thu.
Năm vừa qua, doanh thu đào tạo lái xe tại thị trường Huế giảm do thay đổi chính sách đào tạo cho các học viên là bộ đội xuất ngũ. Ngoài ra, việc chuyển đổi đơn vị sát hạch, cấp giấy phép lái xe giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đã làm gián đoạn hoạt động đào tạo từ tháng 12-2024 đến tháng 7-2025 ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của đơn vị.
Báo cáo thường niên năm 2025 cho biết công ty có 5 lĩnh vực kinh doanh chính gồm cung cấp suất ăn trên tàu bay; bán hàng và dịch vụ nhà hàng tại khu vực nhà ga hàng không sân bay; dịch vụ phòng chờ hạng C; dịch vụ vận chuyển hành khách và tổ lái tiếp viên; đào tạo lái xe mô tô, ô tô các hạng. Dịch vụ cung ứng suất ăn trên tàu bay là lĩnh vực cốt lõi chiếm tỉ trọng gần 70 % doanh thu và lợi nhuận.
Đơn vị này nêu ra một số giải pháp khắc phục tình trạng lỗ lũy kế như giảm chi phí, tăng lợi nhuận như đẩy mạnh marketing, tìm kiếm hợp đồng cung cấp suất ăn cho các hãng hàng không nước ngoài, phát triển thêm các mảng kinh doanh ngoài ngành hàng không, tìm kiếm và khai thác thêm các nhà cung cấp có giá tốt hơn...