Sáng 25.4, tại Sở chỉ huy Quân khu 5 (thành phố Đà Nẵng), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tổ chức lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến thăm và làm việc.
Lễ đón diễn ra trang nghiêm, đúng nghi thức, thể hiện sự kính trọng và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 5 đối với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác.
Tại buổi làm việc, trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5, đã báo cáo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thời gian qua. Trong đó, Quân khu 5 duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu xử lý kịp thời các tình huống; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; triển khai hiệu quả công tác dân vận, góp phần củng cố “thế trận lòng dân” trên địa bàn chiến lược.
Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ghi lưu bút vào sổ vàng truyền thống của Quân khu 5, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang Quân khu, đồng thời động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy truyền thống “Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, mưu trí sáng tạo, chiến đấu kiên cường, chiến thắng vẻ vang”, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trong sáng nay, đoàn công tác đã đến dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng thời trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5 và Bảo tàng Khu 5.
Trong không khí trang nghiêm, thành kính, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; tưởng nhớ công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại lễ dâng hương Đài Tưởng niệm thành phố Đà Nẵng, trong không khí linh thiêng và trang nghiêm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác của Trung ương, thành phố Đà Nẵng, lãnh đạo, Chỉ huy Quân khu 5… đã dành phút mặc niệm, kính cẩn nghiêng mình bày tỏ lòng biết ơn vô hạn, thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí, với tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết một lòng, không quản gian khổ, chiến đấu kiên cường, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi thanh xuân, dũng cảm chiến đấu, hy sinh trên khắp các chiến trường của đất nước để bảo vệ độc lập tự do, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Sau lễ dâng hương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tặng quà, động viên giáo viên, học sinh Trường tiểu học Lý Công Uẩn và Trường THCS Lý Thường Kiệt (thành phố Đà Nẵng) đang tham quan, học tập tại Bảo tàng Khu 5.
Đoàn đại biểu đã tham quan khu trưng bày các mô hình, sáng kiến, sản phẩm tiêu biểu của lực lượng vũ trang Quân khu 5, thiết thực chào mừng sự kiện Quân khu 5 đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, qua đó khẳng định những nỗ lực, thành tích nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn chiến lược.
Cũng trong sáng 25.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn công tác của Trung ương đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Mễ (có chồng và một con trai là liệt sĩ) đang sống ở phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại cuộc hội kiến, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam luôn đặt ưu tiên cao cho quan hệ với Ấn Độ. Việt Nam ủng hộ vai trò lớn hơn nữa của Ấn Độ tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, ủng hộ Ấn Độ đẩy mạnh chính sách "Hành động hướng Đông" và kết nối chặt chẽ với các nước ASEAN.
Thông báo kết quả cuộc hội đàm rất thành công với Thủ tướng Narendra Modi cùng ngày, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết hai bên đã nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất.
Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao, góp phần củng cố tin cậy chính trị; làm sâu sắc hơn nữa hợp tác quốc phòng, nhất là hợp tác công nghiệp quốc phòng. Đồng thời, tạo đột phá trong hợp tác kinh tế - thương mại; khuyến khích hợp tác sâu về khoa học và công nghệ, như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, 6G, năng lượng tái tạo, công nghệ mới, đất hiếm, hợp tác năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
Tổng thống Droupadi Murmu đánh giá cao kết quả hội đàm giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Narendra Modi; bày tỏ vui mừng khi hai bên nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Tổng thống Droupadi Murmu hoan nghênh hai nước đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác thuộc nhiều lĩnh vực như khoa học - công nghệ, an ninh mạng, y tế, khoáng sản thiết yếu, du lịch,… trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Bà khẳng định ủng hộ mạnh mẽ việc hai nước tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa quan hệ trong khuôn khổ mới, bà cho rằng việc tăng cường quan hệ hai nước hơn nữa sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người dân mỗi nước, dẫn chứng văn kiện hợp tác về y tế sẽ góp phần giúp có thêm các sản phẩm y tế chất lượng cao với giá cả hợp lý được đến tay người tiêu dùng.
Bày tỏ cảm ơn Việt Nam đã ủng hộ sớm hoàn tất rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA), Tổng thống Droupadi Murmu cho biết hiện nay có hơn 400 nhà đầu tư Ấn Độ đang hoạt động tại Việt Nam, mong Việt Nam sẽ tiếp tục quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trên tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường và luật pháp Việt Nam; tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư của Việt Nam đầu tư sang Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong Tổng thống Droupadi Murmu quan tâm chỉ đạo các lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, đặc biệt là chỉ đạo các cơ quan hữu quan của Ấn Độ để Việt Nam tăng tần suất các chuyến bay thẳng đến Ấn Độ, gỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá của Việt Nam nhập khẩu vào Ấn Độ.
Nhằm tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ, hai bên khẳng định mở rộng hợp tác văn hóa, tôn giáo, giao lưu nhân dân và giáo dục. Tổng thống Ấn Độ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Mekong - Sông Hằng, các chương trình học bổng Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC) và học bổng giáo dục; mong muốn có thêm nhiều khách du lịch Ấn Độ và Việt Nam đến mỗi nước.
Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc và ASEAN. Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Thủ tướng Phạm Minh Chính trân trọng gửi lời cảm ơn sau 5 năm nhiệm kỳ

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc lại, cách đây đúng 5 năm, ngày 5.4.2021, ông được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ và ngày 6.4.2021, Chính phủ được kiện toàn.
Trong 5 năm qua, tình hình có thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng nhìn chung thách thức, khó khăn nhiều hơn là thời cơ và thuận lợi. Theo Thủ tướng, dù phải vượt qua nhiều "cơn gió ngược", nhưng con thuyền kinh tế - xã hội của đất nước chúng ta đã cập bến an toàn, cơ bản đạt được các mục tiêu đã đề ra như đánh giá của Trung ương, Quốc hội và các cơ quan.
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất đến Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, các lãnh đạo chủ chốt, các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, đơn vị, địa phương và toàn thể nhân dân; các cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên luôn sát cánh, chia sẻ ngọt bùi cùng với Chính phủ, các thành viên Chính phủ trong những lúc khó khăn, gian khổ và thách thức.
Thủ tướng gửi lời tri ân đến cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đồng hành cùng với Chính phủ trong những năm vừa qua; cảm ơn bạn bè, đối tác quốc tế về sự giúp đỡ rất hiệu quả đối với Việt Nam trong những lúc khó khăn về vắc xin, xăng dầu…
Đặc biệt, Thủ tướng gửi lời tri ân, cảm ơn đến tất cả nhân dân cả nước đã chia sẻ, giúp đỡ, ủng hộ Chính phủ trong suốt 5 năm vừa qua và trong suốt quá trình trưởng thành, lớn mạnh của Chính phủ trong hơn 80 năm từ khi thành lập đến nay.
Thủ tướng cũng cảm ơn những đóng góp và chúc mừng 5 cơ quan trước đây thuộc Chính phủ vừa được chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mong muốn và tin tưởng các cơ quan sẽ tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Thủ tướng tin tưởng và hy vọng, Chính phủ mới của nhiệm kỳ tới sẽ tiếp tục kế thừa, tôn trọng, phát huy truyền thống tốt đẹp của Chính phủ qua các thời kỳ, khắc phục những hạn chế, bất cập để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, với tinh thần kết quả của năm sau, của nhiệm kỳ sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ trước.
Về các nhiệm vụ thời gian tới, người đứng đầu Chính phủ cũng khẳng định kiên định mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo thế, tạo lực, tạo đà cho cả năm 2026 và những năm tiếp theo.
Theo đó, thúc đẩy quyết liệt đầu tư công, bảo đảm giải ngân 100%. Khẩn trương phê duyệt, triển khai các chương trình, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; kiên quyết không để tình trạng đã bố trí vốn mà không triển khai thực hiện.
Đẩy nhanh khởi công, xây dựng các dự án thành phần 2, 3 các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc. Tập trung giải quyết vướng mắc pháp lý các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần giải phóng nguồn lực, không để tiếp tục lãng phí.
Về quản lý thị trường, giá cả, Bộ Tài chính, Bộ Công thương và các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện nghiêm các quy định về kê khai, niêm yết giá; xử lý nghiêm vi phạm; đẩy mạnh đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh khó khăn, thách thức là cơ hội để chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tái cấu trúc nền kinh tế bền vững, tiết kiệm xăng dầu, năng lượng, thúc đẩy triển khai điện mặt trời áp mái, xử lý các dự án tồn đọng kéo dài, dự án điện hạt nhân…
Tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Hoàn thành hồ sơ trình Chính phủ trong ngày 5.4 để trình Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định liên Chính phủ Việt Nam - Liên bang Nga về xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

