Một trong những nhiệm vụ đặt ra của Nghị quyết 30 là xây dựng chương trình đào tạo 5.000 nhân lực phát triển game VN phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa.
Các chuyên gia cho rằng VN có tiềm năng lớn về ngành công nghiệp game khi doanh thu không ngừng tăng. Nhưng thực tế VN chỉ mạnh về gia công và sản xuất game ngắn hạn, yếu ở khâu sáng tạo nội dung gốc, đặc biệt là các dòng game có chiều sâu cốt truyện hay game có yếu tố quảng bá văn hóa bản địa.
Thạc sĩ Vũ Anh Đức, Giám đốc đào tạo của Hệ thống Arena Multimedia, cho biết VN liên tục vào top 5 quốc gia có lượt tải game cao nhất toàn cầu. Lý do vì VN có dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng internet cao.
Ông Đinh Trí Dũng, Giám đốc Học viện Kỹ xảo điện ảnh và hoạt hình MAAC, thông tin: Về quy mô thị trường, năm 2024 doanh thu ngành game tại VN ước hơn 650 triệu USD (tương đương khoảng 17.000 tỉ đồng), với khoảng 33 triệu người chơi game di động và lượng người tiếp cận giải trí game là hơn một nửa dân số. Đồng thời, theo dự báo từ Google, năm 2026 doanh thu từ game và ứng dụng tại VN đạt khoảng 2,7 tỉ USD.
“Tuy nhiên, hiện nay game ngoại vẫn đang chiếm ưu thế mạnh ở thị trường VN. Gần 85% game G1 (có sự tương tác giữa nhiều người chơi) phát hành hợp pháp tại VN có xuất xứ nước ngoài. Trong top 10 game mobile doanh thu cao nhất năm 2024, có tới 7 game do nhà phát hành nước ngoài cung cấp, trong khi doanh thu mảng game mobile của doanh nghiệp Việt chỉ chiếm khoảng hơn 20%”, ông Đinh Trí Dũng nhận định.
Thạc sĩ Vũ Anh Đức đánh giá VN chỉ mạnh về gia công (outsourcing) và sản xuất game ngắn hạn, nhưng lại rất yếu ở khâu sáng tạo nội dung gốc, đặc biệt là các dòng game chất lượng đồ họa cao (AAA), game có chiều sâu cốt truyện hay game có yếu tố quảng bá văn hóa bản địa.
Theo dự báo từ Bộ TT-TT, VN cần 30.000 nhân lực ngành game trong 2 – 3 năm tới, ở các vị trí như lập trình viên, thiết kế game và chuyên gia marketing. Cùng với đó, Nghị quyết 30 của Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng chương trình đào tạo 5.000 nhân lực phát triển game VN phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa theo mục tiêu của Chính phủ, cho thấy vai trò của các đơn vị đào tạo là rất lớn.
Nhu cầu nhân lực cao là vậy, nhưng tại VN, số lượng trường ĐH và các đơn vị đào tạo ngành/chuyên ngành riêng về thiết kế game hiện rất ít. Đa số thiết kế và lập trình game là môn học hoặc học phần trong ngành công nghệ thông tin hay khoa học máy tính. Khảo sát ban đầu hiện có Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông có chương trình thiết kế và phát triển game, ĐH RMIT VN có ngành thiết kế game, ĐH Anh quốc Việt Nam có ngành thiết kế và lập trình game, Học viện Kỹ xảo điện ảnh và hoạt hình MAAC đào tạo ngành đồ họa game, Hệ thống Arena Multimedia đào tạo chương trình thiết kế hoạt hình – kỹ xảo – game 3D.
Theo ông Đinh Trí Dũng, nhân lực game tại VN hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp và studio. “VN có lợi thế về lực lượng trẻ, nền tảng kỹ thuật tốt và khả năng làm sản phẩm nhanh, nhưng vẫn thiếu đáng kể đội ngũ được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm phát triển các dự án lớn”, ông Dũng nhận định.
Cùng quan điểm, thạc sĩ Đức cho rằng nhân lực game của VN đông nhưng chưa đủ chất lượng: “Chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng các vị trí đầu não như game designer (thiết kế hệ thống game), narrative designer (thiết kế cốt truyện) và art director (giám đốc nghệ thuật)”.
Thạc sĩ Vũ Anh Đức cho rằng game phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa trước đây rất hiếm và manh mún; đa số chỉ dừng lại ở các dự án độc lập của các nhóm nhỏ đam mê sử Việt hoặc đồ án tốt nghiệp của sinh viên; rất ít dự án đủ sức vươn lên thành sản phẩm thương mại hoàn chỉnh. So với quy mô hàng nghìn game của thị trường, đây vẫn là một phân khúc nhỏ; lý do là chi phí sản xuất cao, rủi ro thu hồi vốn lớn và đặc biệt là áp lực từ dư luận về tính chuẩn xác lịch sử.
Để có 5.000 nhân lực làm game lịch sử, văn hóa, theo ông Đức, các cơ sở giáo dục không thể chỉ dạy sinh viên cách dùng phần mềm mà phải dịch chuyển từ trường dạy ngành nghề thành vườn ươm văn hóa; không chỉ dạy công cụ, mà phải dạy sinh viên cách tư duy, nghiên cứu văn hóa, mỹ thuật truyền thống và cách kể chuyện. “Cơ sở đào tạo còn phải là cầu nối giữa lịch sử và giải trí, trở thành nơi kết nối các chuyên gia sử học, nhà văn hóa với những nhà phát triển game trẻ, giúp họ hiểu đúng bản chất lịch sử để sáng tạo mà không phản cảm”, thạc sĩ Đức nhìn nhận.
Trong khi đó, ông Dũng cho rằng các đơn vị đào tạo liên ngành để hình thành thế hệ người làm game vừa giỏi công nghệ, vừa hiểu lịch sử, văn hóa và biết kể câu chuyện Việt bằng ngôn ngữ số.
“Khó nhất khi đào tạo nhân lực game phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa không phải là dạy dùng engine (công nghệ) hay dạy code, mà là tạo được năng lực liên ngành thật sự. Một sản phẩm game loại này phải đồng thời đúng về nội dung lịch sử, có chiều sâu văn hóa, phù hợp tâm lý người chơi, có tính sư phạm, và vẫn đủ hấp dẫn để người dùng muốn chơi. Nếu chỉ đúng lịch sử mà không hay thì khó lan tỏa; nếu chỉ hấp dẫn mà lệch chuẩn nội dung thì lại không đạt mục tiêu giáo dục”, tiến sĩ Huỳnh Trọng Thưa, Trưởng khoa Công nghệ thông tin Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông, chia sẻ.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Dung, Giám đốc Trung tâm Truyền thông Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cũng cho rằng vai trò của các đơn vị không chỉ dừng ở việc đào tạo người biết làm game, mà là đào tạo đội ngũ có khả năng kết hợp công nghệ, mỹ thuật, tư duy nội dung và hiểu biết văn hóa để tạo ra những sản phẩm vừa hấp dẫn, vừa có giá trị giáo dục.
Theo các chuyên gia, nếu đào tạo tách khỏi doanh nghiệp thì đầu ra dễ lệch khỏi nhu cầu thực tế. Các mô hình đào tạo ngành game hiện nay đang cho thấy hướng đi “đồng đào tạo”. Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông hợp tác với Công ty Cổ phần Tập đoàn VNG trong đào tạo nhân lực game; Trường ĐH Công nghệ thông tin (ĐH Quốc gia TP.HCM) và VNG triển khai môn học dựa trên chương trình Game Development Fresher và năm 2026 hai đơn vị này cũng đã phối hợp mở khóa phát triển game trên Roblox với 14 chuyên gia doanh nghiệp trực tiếp xây dựng và giảng dạy.
VNG cũng ký hợp tác 2026 – 2030 với Trường ĐH Ngoại thương để mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong ngành công nghệ và game. Sparx và Glass Egg (studio của Tập đoàn phát triển game toàn cầu Virtuos) hợp tác với Học viện MAAC và Arena Multimedia trong chuỗi series ProClass để đào tạo các sinh viên năm cuối về quy trình sản xuất game của studio.
Tiến sĩ Huỳnh Trọng Thưa cho biết: “Với các trường ĐH, vai trò sẽ rất quan trọng ở 3 khía cạnh. Thứ nhất là đào tạo nhân lực lõi cho chuỗi sản xuất game: thiết kế kịch bản, lập trình, mỹ thuật, âm thanh, kiểm thử, vận hành. Thứ hai là đào tạo nhân lực liên ngành, vì game phục vụ giáo dục lịch sử, văn hóa không chỉ cần giỏi công nghệ mà còn phải hiểu lịch sử, văn hóa, tâm lý người học, pháp luật và thương mại hóa sản phẩm. Thứ ba là kết nối doanh nghiệp, chuyên gia nội dung và nhà trường để người học được làm dự án thật, giải bài toán thật của thị trường”.
Huỳnh Quốc Bảo nhận kết quả thi SAT hồi cuối tuần trước. Bảo kể không có mục tiêu điểm số trước ngày thi. Đây cũng là tâm thế của em trong học tập nói chung – không đặt nặng thành tích, miễn học hết sức và phát huy đúng năng lực.
SAT là bài thi chuẩn hóa bằng tiếng Anh, gồm hai phần Đọc - Viết (54 câu) và Toán (44 câu), được dùng rộng rãi trong xét tuyển đại học ở Mỹ và các nước châu Âu. Theo College Board, đơn vị tổ chức, từ mức 1520 điểm, thí sinh đã thuộc nhóm 1% cao nhất toàn cầu.
Nam sinh có kế hoạch ôn thi SAT từ cuối năm lớp 11 để tăng cơ hội trúng tuyển vào đại học. Tháng 6 năm ngoái, Bảo bắt đầu tìm hiểu những chủ đề kiến thức chung. Đến tháng 9, em được chọn vào đội tuyển của TP HCM dự thi học sinh giỏi cấp quốc gia môn Hóa nên phải tạm ngưng.
Nam sinh sau đó đạt giải ba – đủ điều kiện được tuyển thẳng vào đại học nhưng vẫn tiếp tục ôn tập, luyện đề SAT, để chủ động cơ hội lựa chọn ngành nghề.
Lần thi thử đầu tiên, Bảo đạt 1500 điểm. Nam sinh nhận ra bản thân "sa lầy" ở những câu khó, bỏ qua nhiều câu dễ nên mất điểm đáng tiếc. Bảo sau đó vạch chiến lược phân bổ thời gian hợp lý, giải quyết câu dễ trước, khó sau và luôn dành thời gian kiểm tra lại bài.
Ngày thi chính thức, Bảo không gặp khó khăn với phần Toán nhưng mất thời gian với một số câu Đọc - Viết khó. Em dùng phương pháp loại trừ, suy luận để chọn phương án.
"Có một số câu em không chắc chắn nhưng kết quả này nằm trong dự tính của em", Bảo cho hay.
Theo em, câu hỏi và dữ kiện trong đề SAT thường khó hiểu vì dài và ngữ pháp phức tạp. Nếu đọc nhanh, thí sinh thường cảm thấy mơ hồ và phải đọc lại, từ đó làm ảnh hưởng đến thời gian làm bài.
"SAT cũng hiểm hóc ở chỗ mọi từ trong câu đều có nghĩa. Nếu đọc lướt, mình dễ hiểu sai rồi chọn phương án sai", Bảo phân tích. "Em luôn cẩn thận, tỉ mỉ khi đọc".
Nam sinh nhìn nhận SAT đòi hỏi thí sinh phải có vốn từ vựng dồi dào để đọc hiểu dữ liệu. Khi đọc đề, em phân tích các thành phần chính trong câu, ý chính trong đoạn văn để chọn đáp án logic nhất.
Tiếng Anh là lợi thế của Bảo nhờ học từ nhỏ, đã thi đạt chứng chỉ IELTS 7.5 hồi năm ngoái. Để tích lũy vốn từ, nam sinh hay dùng "vòng quay may mắn" để học từ mới. Yếu tố bất ngờ mỗi khi quay chữ giúp em có phản xạ nhanh và nhớ lâu hơn. Ngoài ra, Bảo hay tạo ví dụ gắn liền với từ vựng để dễ dàng liên tưởng.
Bảo kể vốn định đi theo hướng chuyên Anh cho đến khi được tiếp xúc với môn Hóa vào năm lớp 8. Nam sinh bị thu hút bởi những nguyên tố độc lạ, phản ứng hóa học đầy màu sắc trong phòng thí nghiệm.
"Em học tốt Toán, Lý nhưng không thấy hứng thú. Hóa cho em cảm giác muốn khám phá, giải nghĩa vì sao lại có những hiện tượng xảy ra khi các chất tiếp xúc với nhau", Bảo nói.
Dù vậy, cậu vẫn duy trì đầu tư cho Toán và Tiếng Anh. Bảo nhận thấy hai môn này bổ trợ nhiều cho việc học Hóa, đặc biệt là kiến thức bồi dưỡng học sinh giỏi. Với các phương trình hóa học nâng cao, học sinh phải vận dụng tư duy Toán học để tính chuẩn xác. Tiếng Anh giúp em tiếp cận những tài liệu chuyên Hóa mới nhất trên thế giới.
Sự kết hợp này giúp Bảo vượt cấp tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh dành cho học sinh lớp 11 (Olympic 27/4) của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và đạt giải khuyến khích ngay từ lớp 10. Hai năm sau, em giành hàng loạt giải thưởng, từ thủ khoa Olympic 27/4, huy chương vàng Olympic truyền thống 30/4, giải khuyến khích rồi đến giải ba cấp quốc gia.
Có những thời điểm phải dồn sức cả bài vở trên lớp lẫn các cuộc thi nhưng Bảo vẫn dành thời gian chơi piano hoặc guitar để giải tỏa căng thẳng, hỗ trợ hoạt động ngoại khóa, văn nghệ của trường. Đặc biệt, nam sinh đặt ra kỷ luật với giấc ngủ để giữ sức khỏe.
"Phương châm của em là học ít mà hiệu quả còn hơn cày ngày cày đêm. Càng thức khuya năng suất càng giảm nên em hiếm khi đi ngủ trễ hơn 22h30", Bảo nói.
Chủ nhiệm lớp Bảo suốt 3 năm qua, cô Nguyễn Thị Liên, đánh giá Bảo sống tình cảm, khiêm tốn và kiên định với con đường của mình thay vì chạy theo số đông. Với sức học và tính cách của Bảo, nhiều thầy cô gợi ý em đi theo khối ngành y dược, nhưng Bảo vẫn chọn gắn bó với Hóa.
Ngoài ra, dù phải dành thời gian nhiều cho các cuộc thi và môn chuyên, nhưng với các môn phụ, Bảo vẫn học nghiêm túc, không bỏ bê.
"Em ấy học tập trong tâm thế thoải mái, không đặt nặng phải đạt giải cao nên trong lớp rất hay nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè", cô Liên cho biết.
Nhiều khả năng được tuyển thẳng nhưng Bảo cho biết vẫn cố gắng tối đa trong kỳ thi tốt nghiệp THPT sắp tới. Nam sinh đang cân nhắc đặt nguyện vọng vào ngành Kỹ thuật Hóa, Hóa học hoặc Sư phạm Hóa của trường Đại học Bách khoa, Khoa học Tự nhiên, Sư phạm TP HCM.
"Em dự định hoàn thành chương trình cử nhân trong nước sau đó tìm kiếm học bổng du học ngành Hóa ứng dụng", Bảo nói.
Ngày 27-4, bà Nguyễn Thị Lan - Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam - đã ban hành quyết định tạm dừng áp dụng khoản 3 điều 10 tại quy định công tác sinh viên vừa được học viện ban hành hôm 16-4.
Mục đích tạm dừng để tổ chức rà soát, đánh giá và hoàn thiện quy định.
Động thái trên được học viện đưa ra sau làn sóng phản ứng gay gắt của sinh viên về quy định tại khoản 3 điều 10: "Sinh viên phải đăng ký và tham gia hoạt động ít nhất 1 câu lạc bộ (thuộc hệ thống các câu lạc bộ của học viện) với thời gian tối thiểu 24 tháng trong quá trình học tập tại học viện (áp dụng từ K69 trở đi - sinh viên năm 2)".
Nhiều sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng việc tham gia các câu lạc bộ phải trên tinh thần tự nguyện của mỗi cá nhân. Học viện yêu cầu sinh viên phải tham gia câu lạc bộ trong trường tối thiểu 2 năm là quy định cứng nhắc, mang tính ép buộc. Điều này dễ dẫn đến tình trạng tham gia cho có, để đối phó với quy định.
Thậm chí, có liên chi đoàn - liên chi hội, thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã thông báo mỗi sinh viên phải tham gia ít nhất 1 câu lạc bộ của học viện trong 24 tháng là quy định bắt buộc và là một trong những điều kiện để xét tốt nghiệp, khiến nhiều sinh viên bức xúc.
Tính đến tháng 4-2026, Học viện Nông nghiệp Việt Nam có hơn 80 câu lạc bộ, với nhiều lĩnh vực hoạt động đa dạng, thuộc các khối như: học thuật, nghiên cứu khoa học; khối văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, truyền thông; tổ, đội, nhóm tình nguyện.
Mỗi năm trường tuyển 6.000 - 7.000 sinh viên. Tổng quy mô đào tạo trên 20.000 sinh viên/năm.
Bộ Tư pháp vừa công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và lộ trình miễn học phí, giáo trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Dự thảo do Bộ GD-ĐT chủ trì soạn thảo.
Theo đề xuất của Bộ GD-ĐT, việc cấp miễn phí sách giáo khoa sẽ được thực hiện đối với sách giáo khoa dạng sách in, sách chữ nổi Braille. Riêng sách giáo khoa điện tử chưa áp dụng cấp miễn phí do hiện nay Bộ GD-ĐT đang triển khai nghiên cứu, xây dựng nên chưa có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể cho sách giáo khoa điện tử.
Về hình thức, Bộ GD-ĐT đề xuất triển khai theo mô hình thư viện cho mượn sách giáo khoa dùng chung.
Theo đó, Nhà nước đầu tư mua sách giáo khoa cho các nhà trường để đưa vào thư viện dùng chung. Cơ sở giáo dục thực hiện cấp phát sách theo hình thức cho mượn có thời hạn (theo học kỳ hoặc năm học).
Sau khi kết thúc thời gian mượn, thư viện thực hiện công tác thu hồi sách giáo khoa. Sách sau khi sử dụng được thu hồi và bảo quản để tiếp tục sử dụng.
"Toàn bộ sách giáo khoa phải được cập nhật vào hệ thống quản lý thư viện, thực hiện dán nhãn, mã hóa và phân loại sách theo quy định", dự thảo nêu.
Về thời điểm, Bộ GD-ĐT đề xuất miễn phí sách giáo khoa đối với học sinh phổ thông triển khai trên phạm vi toàn quốc kể từ năm học 2029 - 2030.
Đối với các địa phương có khả năng cân đối ngân sách địa phương, khuyến khích UBND cấp tỉnh quyết định thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa sớm hơn lộ trình trên.
Trong đó, ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai trước đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Riêng sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số, Bộ GD-ĐT cho biết đã hoàn thành biên soạn, thẩm định và đang triển khai in, phát hành sách giáo khoa tiếng M'nông, Bahnar, Chăm, Khmer, Ê đê, Jrai, Mông cấp tiểu học.
Từ năm học 2026 - 2030, Bộ GD-ĐT tiếp tục biên soạn, thẩm định sách giáo khoa tiếng Raglai, tiếng Mường, tiếng Cơ Tu (cấp tiểu học); cấp THCS đối với tiếng Khmer, tiếng Chăm, tiếng Ê đê và thực hiện in ấn, phát hành để cấp phát về thư viện các cơ sở giáo dục.
Bộ GD-ĐT tính toán, việc miễn phí sách giáo khoa cho toàn bộ học sinh từ năm học 2029 - 2030 sẽ cần tổng kinh phí hơn 4.000 tỉ đồng, do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Căn cứ số lượng học sinh và mức giá sách giáo khoa tại thời điểm lập dự toán ngân sách hằng năm, các địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch mua sắm ban đầu để bảo đảm đủ sách giáo khoa phục vụ việc dạy và học trên địa bàn tỉnh.
Đối với cơ sở giáo dục phổ thông trực thuộc địa phương, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện hoặc phân cấp cho sở giáo dục và đào tạo, UBND cấp xã, cơ sở giáo dục thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch.
Đối với cơ sở giáo dục trực thuộc các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học do cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch.
Ngoài ra, ngân sách nhà nước cấp bù hằng năm cho các trường để mua sắm bổ sung trong các trường hợp sau: thay thế sách hư hỏng do sử dụng lâu ngày; dự phòng đáp ứng sự gia tăng đột xuất về số lượng học sinh; thay đổi giáo trình theo chương trình mới...