Rất nhiều lần, tôi đi ăn hàng quán, gặp phải tình huống oái ăm, gây linh cảm không tốt về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng không biết phải làm sao. Trộm vía, có lẽ hệ tiêu hóa của tôi tốt, nên chưa xảy ra sự cố nào trong hơn chục năm chinh chiến khắp các hàng quán.
Tôi sợ nhất là trong quán có thú cưng chó, mèo của chủ. Có lần tôi tận mắt chứng kiến bà chủ quán sau khi bưng tô bún bò cho tôi, sau khi tháo cái găng tay nylon đã nhàu nhĩ, không biết đã dùng bao nhiêu lượt rồi, đã cúi người xuống bế con chó vào lòng.
Quy định về việc chủ quán phải đảm bảo vệ sinh khi chế biến thực phẩm thì ai cũng biết. Nhưng thực tế, nhiều người vẫn bóc tay trần cho đỡ vướng víu. Găng tay, nếu có, đôi khi chỉ mang tính đối phó, dùng đi dùng lại, thậm chí còn bẩn hơn cả tay không.
Đã có ai thực sự bị nhắc nhở, bị xử phạt nghiêm túc vì những vi phạm kiểu này chưa?
Thứ nữa là chuyện cầm tiền mặt. Một tay thối tiền, một tay bốc đồ ăn, chuyện quá quen thuộc. Có người vừa lau bàn xong, khăn còn ướt và đen, đã quay sang cắt thịt, chan nước dùng.
Nếu là món cơm, đến lúc đem chén canh ra cho khách, tôi sợ nhất là cảnh người phục vụ vô thức chạm ngón tay vào miệng chén. Những chi tiết nhỏ như vậy, nhưng đủ để khiến thực khách mất đi cảm giác ngon miệng.
Những rổ rau sống nhìn qua thì có vẻ xanh tươi, nhưng cách bảo quản thì khó mà yên tâm. Rau được để chồng lên nhau, rau thừa của khách trước chưa chắc đã bị bỏ đi. Khách sau đến, lại tiếp tục được bổ sung vào rổ cũ.
Điều đáng nói là, không phải chủ quán nào cũng vô ý thức. Rất nhiều người làm ăn tử tế, giữ gìn vệ sinh cẩn thận, coi uy tín là tài sản lớn nhất. Nhưng chính sự tồn tại của những quán làm ẩu, làm đối phó lại đang kéo mặt bằng chung đi xuống, khiến niềm tin của thực khách bị bào mòn.
Về những hàng quán không nghiêm túc về vấn đề vệ sinh, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang quá dễ dãi với những tiêu chuẩn tối thiểu liên quan trực tiếp đến sức khỏe của chính mình.
Tôi cũng như vậy vì: Chẳng lẽ vào quán ăn, gọi món rồi nhìn họ chế biến lại kêu thôi, đừng làm nữa?
Năm nay tôi 30 tuổi, thu nhập khoảng 40 triệu đồng mỗi tháng (tức gấp 5 lần thu nhập trung bình người Việt). Nếu nhìn con số đó, nhiều người sẽ nghĩ tôi thuộc nhóm "có điều kiện" so với mặt bằng chung. Thực tế, suốt từ lúc đi làm, tôi không tiêu xài hoang phí, không ăn chơi sang chảnh, không du lịch xa xỉ. Tôi luôn cố gắng tiết kiệm tối đa với mục tiêu rất mua một căn nhà cho riêng mình. Nhưng càng đi làm lâu, tôi càng nhận ra giấc mơ đó xa hơn tưởng tượng rất nhiều.
Điều khiến tôi thấy bất công không phải vì bản thân lười biếng hay thiếu cố gắng. Ngược lại, tôi luôn cảm thấy thế hệ mình đang phải chạy nhanh hơn rất nhiều mà vẫn khó chạm tới những điều từng được xem là cơ bản ở thế hệ trước.
Bố mẹ tôi ngày trước chỉ là công nhân viên chức bình thường, đồng lương không cao, còn phải nuôi mấy anh em tôi ăn học tới đại học. Vậy mà sau nhiều năm tích góp, họ vẫn mua được nhà, rồi tích lũy thêm được chút đất đai. Cuộc sống không dư dả nhưng ít nhất có cảm giác càng chăm chỉ thì tương lai càng ổn định.
Còn bây giờ, tôi nhìn quanh bạn bè đồng trang lứa mà thấy chạnh lòng. Rất nhiều người như tôi, thu nhập 30-40 triệu mỗi tháng, vẫn không dám nghĩ tới chuyện mua nhà ở thành phố. Có người đi làm gần 15 năm vẫn ở thuê. Có người lấy vợ sinh con rồi vẫn sống chung với bố mẹ vì không kham nổi giá nhà. Có người vay ngân hàng mua căn hộ nhỏ nhưng phải sống trong áp lực trả nợ suốt vài chục năm.
Với thế hệ bố mẹ tôi, có một mái nhà từng là điều cơ bản mà người chăm chỉ có thể đạt được sau nhiều năm tích lũy. Nhưng với rất nhiều người trẻ hôm nay, nó đang dần trở thành một mục tiêu quá xa vời, dù họ đã cố gắng không hề ít.
>> Băn khoăn khi bán chung cư để mua nhà mặt đất 18 tỷ dưỡng già
Nhiều người thường nói: "Người trẻ phải cố gắng hơn, giỏi hơn thì mới mua được nhà". Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng nói vậy thì dễ quá, ai chẳng nói được. Vấn đề là nếu chỉ những người thật sự xuất sắc, thu nhập cực cao mới mua nổi nhà, thì rốt cuộc sẽ có bao nhiêu phần trăm người trẻ làm được? Nhà ở đâu thể trở thành thứ chỉ dành cho một nhóm nhỏ?
Theo tôi, giá bất động sản ít nhất phải có sự cân bằng nào đó với thu nhập của người lao động. Một người đi làm ổn định, biết tiết kiệm, mất khoảng 15-20 năm để mua được nhà thì còn có thể chấp nhận. Nhưng nếu giá nhà tương đương 40-50 năm thu nhập, thì vấn đề rõ ràng không còn nằm ở chuyện người trẻ có chăm chỉ hay không nữa.
Tôi thấy người trẻ bây giờ kiếm tiền không hề kém. Nhiều người rất giỏi, làm việc cường độ cao, học thêm kỹ năng liên tục, làm ngày làm đêm. Nhưng giá nhà còn tăng chóng mặt hơn nhiều lần tốc độ tăng thu nhập của họ. Cuối cùng, rất nhiều người trẻ đang phải dành gần như toàn bộ sức lực cuộc đời chỉ để đổi lấy một chỗ ở tạm ổn. Họ trì hoãn chuyện sinh con, từ bỏ sở thích cá nhân, không dám nghỉ việc, không dám sống chậm vì áp lực tiền nhà luôn treo lơ lửng.
Tôi có vài người bạn ở nước ngoài. Họ cũng áp lực công việc, cũng phải trả tiền nhà, nhưng nhà ở không nuốt gần hết tương lai của họ như cách nhiều người trẻ Việt Nam đang trải qua. Họ vẫn còn thời gian cho bản thân, cho gia đình, cho những thú vui riêng. Họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tinh thần, nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn.
Còn ở đây, không ít người đang sống trong tâm thế phải hy sinh tuổi trẻ chỉ để đổi lấy một căn hộ nhỏ. Mọi giấc mơ khác đều phải xếp lại phía sau. Tôi tự hỏi, nếu một người phải đánh đổi gần như toàn bộ tuổi trẻ, sức khỏe và sự tự do để sở hữu một căn nhà, thì liệu ngôi nhà đó có còn mang đúng ý nghĩa của một nơi để sống hạnh phúc nữa không?
Những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6, nền nhiệt tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung liên tục chạm ngưỡng 40 độ C, có nơi vượt qua kỷ lục do hiệu ứng đô thị và gió Lào.
Giữa cái lò lửa hầm hập ấy, hàng triệu học sinh phổ thông lại phải căng mình, vắt kiệt những giọt mồ hôi cuối cùng để chạy đua trong các kỳ thi chuyển cấp và tốt nghiệp THPT.
Nhìn những gương mặt phờ phạc, những chiếc áo ướt đầm đìa của các cháu tôi lại nhớ về mùa thi đại học năm 2000 của thế hệ mình. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, dù phòng thi nay đã có thêm cây quạt, chiếc điều hòa, nhưng con cái chúng ta vẫn đang phải đối chọi với thiên tai khí hậu bằng một lịch trình xơ cứng từ thế kỷ trước.
Tại sao chúng ta không chủ động điều chỉnh lịch trình giáo dục để bảo vệ sức khỏe của học sinh?
Tôi nghĩ đã đến lúc cần thay đổi tư duy quản lý vĩ mô: "Quản lý đồng bộ không có nghĩa là bắt buộc phải đồng loạt". Việc áp một cái khuôn duy nhất về thời gian học, thời gian thi và tuyển sinh cho cả 34 tỉnh thành bất chấp sự khác biệt lớn về địa lý và khí hậu đang gây khó khăn cho thí sinh và sức khỏe xã hội.
Vài năm gần đây, cứ đến gần các dịp lễ, câu chuyện quen thuộc lại quay trở lại: có nên hoán đổi ngày làm - ngày nghỉ để nối dài kỳ nghỉ hay không: Hoán đổi để có kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2026 bốn ngày liên tục,
Và đang có tranh luận về việc hoán đổi để có kỳ nghỉ 9 ngày liên tục từ giỗ Tổ Hùng Vương đến 30/4-1/5 tôi lại thấy thông tin Lao động đề nghị hoán đổi để nghỉ 4 ngày dịp Ngày Văn hóa Việt Nam.
Trong tất cả những đề xuất hoán đổi trên xuất hiện người háo hức vì sắp có vài ngày liền để đi chơi, người khác lại thở dài vì biết trước sẽ phải đi làm bù vào một ngày thứ Bảy nào đó.
Thoạt nhìn, việc hoán đổi dường như là một giải pháp linh hoạt. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, đó là một kiểu vận hành thiếu ổn định.
Điều đáng nói là tư duy hoán đổi đang dần trở thành phản xạ. Cứ thấy ngày nghỉ rơi vào giữa tuần thậm chí đầu tuần (thứ ba, 24/11 năm nay) là lập tức nghĩ đến chuyện dời, ghép, nối. Ít ai đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta lại cần phải nối dài kỳ nghỉ dù trong luật đã quy định cụ thể số ngày nghỉ?
Nhìn chung, có lẽ vì trong thực tế, nhiều người không có đủ cơ hội nghỉ ngơi một cách chủ động. Khi ngày phép cá nhân còn hạn chế, khi văn hóa làm việc vẫn nặng về sự có mặt hơn là hiệu quả, thì những dịp lễ trở thành cơ hội hiếm hoi để nghỉ thật sự. Và khi cơ hội đó xuất hiện, người lao động muốn kéo dài nó ra càng nhiều càng tốt.
Nhưng chính điều này lại làm lộ ra một vấn đề lớn hơn theo tôi đó là hệ thống nghỉ ngơi của chúng ta đang thiếu tính linh hoạt.
Nếu một người chỉ có thể nghỉ khi cả xã hội cùng nghỉ, thì đó không phải là một hệ thống tối ưu. Một xã hội hiện đại không nên vận hành theo cách tất cả cùng dừng lại, rồi cùng chạy lại theo một lịch chung được điều chỉnh mỗi năm.
Thay vì cứ tranh luận nên hoán đổi hay không, có lẽ đã đến lúc cần một nguyên tắc rõ ràng hơn: Nghỉ đúng ngày theo luật. Luật quy định sao thì cứ nghỉ đúng ngày, nghe có vẻ cứng nhắc, nhưng chính sự rõ ràng này lại tạo ra ổn định. Khi lịch nghỉ không còn thay đổi mỗi năm, cả hệ thống từ trường học, doanh nghiệp đến người lao động đều có thể chủ động hơn trong việc sắp xếp thời gian.
Phần còn lại nên được trao về cho từng tổ chức và từng cá nhân. Doanh nghiệp có thể tự quyết định lịch làm việc phù hợp với đặc thù của mình. Người lao động nên có nhiều quyền hơn trong việc sử dụng ngày phép, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào những kỳ nghỉ chung.
Chiều 9/4, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết nhận được nhiều ý kiến đề xuất hoán đổi ngày làm việc thứ hai ngày 23/11 sang làm bù vào thứ bảy tuần kế tiếp, nhằm tạo kỳ nghỉ liên tục từ 21/11 đến 24/11. Nguyên nhân là theo Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, ngày 24/11 được xác định là Ngày Văn hóa Việt Nam và người lao động được nghỉ hưởng nguyên lương, nhưng năm này rơi vào thứ ba.
Cơ quan này cho biết sẽ tiếp tục tổng hợp ý kiến từ cơ sở, phối hợp với các bên liên quan để kiến nghị phương án phù hợp với thực tiễn.