Doanh nghiệp bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thu hồi nợ thuế là Công ty TNHH Invest Park Nha Trang – chủ dự án nhà hàng Nga tại công viên Phù Đổng trên bãi biển Nha Trang.
Theo Thuế tỉnh Khánh Hòa, tổng số tiền thuế Công ty TNHH Invest Park Nha Trang nợ (tính đến ngày 16-4-2026) tại cơ quan này là hơn 2,85 tỉ đồng (chưa tính tiền phạt chậm nộp trên các khoản nợ thuế chưa thanh toán).
Về các biện pháp cưỡng chế để thu hồi số tiền nợ thuế trên, Thuế tỉnh Khánh Hòa đã áp dụng biện pháp buộc ngừng sử dụng hóa đơn đối với Công ty TNHH Invest Park Nha Trang.
Đồng thời Thuế tỉnh Khánh Hòa còn áp dụng và công khai biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với ông Nguyễn Tất Hạnh – Tổng giám đốc, người đại diện pháp luật của Công ty TNHH Invest Park Nha Trang – cho đến khi doanh nghiệp nợ thuế hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo các chuyên gia, Đồng Nai và TP.HCM nằm liền kề, có những thế mạnh để cùng đóng vai trò dẫn dắt sự tăng trưởng, tạo ra nhiều đột phá cho sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Sau các cuộc làm việc giữa Đồng Nai và TP.HCM về phát triển hạ tầng, ông Nguyễn Thế Phong - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Đại Phước - cho hay Đồng Nai trở thành TP trực thuộc trung ương tiếp tục mở ra nhiều cơ hội kết nối cho hai địa phương và khu vực lân cận.
"Đồng Nai đã quy hoạch tại xã Đại Phước 6 dự án "siêu đô thị" ven sông Đồng Nai, sông Lòng Tàu. Nơi đây sẽ trở thành khu đô thị thông minh, khu đô thị sinh thái giáp ranh TP.HCM. Chúng tôi đang nỗ lực phát triển Đại Phước thành đô thị đáng sống", ông Phong nói.
Đánh giá vị thế của Đồng Nai hiện nay, ông Dương Văn Bắc - Tổng giám đốc Công ty CP Tập đoàn đầu tư địa ốc Novaland - cho hay TP Đồng Nai đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành cực tăng trưởng mới. Đồng Nai cộng hưởng cùng "siêu đô thị" TP.HCM sẽ tạo nên không gian phát triển liên kết và bền vững cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
"Sân bay Long Thành sẽ trở thành nam châm thu hút toàn bộ hệ sinh thái dịch vụ - logistics - thương mại cao cấp. Mặt khác, Đồng Nai sẽ tạo ra làn sóng dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao sẽ kéo theo nhu cầu lớn về nhà ở chất lượng cao cho chuyên gia và lực lượng lao động trình độ cao", ông Bắc nhận định.
Theo ông Bắc, Đồng Nai có lợi thế sông Đồng Nai, giáp TP.HCM và sân bay Long Thành với diện tích lên tới hàng chục nghìn ha là khu vực hội tụ đủ tiềm năng về quy mô, vị trí để xây dựng thành trung tâm mới hiện đại bậc nhất về kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế, y tế và giải trí bên cạnh trung tâm hiện hữu là TP.HCM.
Ông Bắc cho rằng cần có cơ chế đặc thù mạnh mẽ hơn cho Đồng Nai trong công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng và tháo gỡ pháp lý cho thị trường bất động sản... Đây là yếu tố quyết định để thu hút cư dân về ở cũng như tạo lực đẩy cho phát triển đô thị.
Là một doanh nghiệp lớn đầu tư vào Đồng Nai hàng chục năm qua, ông Lê Văn Kiểm - Chủ tịch hội đồng quản trị Tập đoàn KN Holdings - chia sẻ: "Trọng tâm trước hết là hạ tầng và tổ chức không gian phát triển. Khi giao thông, logistics, đô thị và hạ tầng xã hội được kết nối thành một hệ thống thống nhất không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tạo ra sức hút tự nhiên đối với người dân và nhà đầu tư...".
Theo ông Kiểm, khi hạ tầng, thể chế và chất lượng đô thị được nâng cấp đồng bộ, môi trường đầu tư sẽ hấp dẫn hơn. Đồng Nai cũng sẽ thu hút được các dòng vốn chất lượng cao trong thời gian tới và mở rộng hợp tác quốc tế. Qua đó, sự phát triển của doanh nghiệp cũng sẽ góp phần tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống và thu nhập cho người lao động...
Ngoài chuẩn bị hạ tầng xã hội cho địa phương, ông Nguyễn Thế Phong cho hay hiện Đại Phước cùng chính quyền Đồng Nai đang phối hợp với TP.HCM để làm ba cây cầu gồm Cát Lái, Phú Mỹ 2 và Phước Khánh đi qua cao tốc Bến Lức - Long Thành.
Đây là ba cây cầu chiến lược kết nối không chỉ TP.HCM mà cả vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là kết nối vào sân bay Long Thành. "Sắp tới, cư dân từ TP.HCM qua Đại Phước rồi về đường Tôn Đức Thắng (25B), đường Nguyễn Ái Quốc (25C) đến sân bay Long Thành sẽ rút ngắn thời gian rất nhiều", ông Phong nhìn trước triển vọng.
Theo ghi nhận, vào thời điểm Đồng Nai lên TP, bộ khung giao thông chiến lược cũng đã và đang được triển khai đồng loạt, nhiều dự án tiến sát mốc hoàn thành. Cụ thể, ở khu vực giáp ranh Đồng Nai - TP.HCM, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu đang đưa vào khai thác đoạn 37km để giảm áp lực giao thông trên quốc lộ 51.
Kế đến là dự án đường vành đai 3 TP.HCM dài 76km, cao tốc Bến Lức - Long Thành dài 58km cũng đang được đôn đốc để giữa năm nay cơ bản hoàn thành. Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM - Long Thành - tuyến chủ lực nối TP.HCM đi sân bay Long Thành - cũng đang thi công tất bật để cơ bản hoàn thành cuối năm 2026.
Cùng với đó, các dự án như đường vành đai 4 TP.HCM, cao tốc Long Thành - Hồ Tràm, metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên đến sân bay Long Thành, metro số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm... đang được khẩn trương thực hiện.
Như vậy, trong vài năm tới, hệ thống hạ tầng đường bộ chiến lược qua lại giữa TP.HCM - Đồng Nai sẽ cơ bản hình thành, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển liên kết vùng.
Ông Nguyễn Hữu Nguyên - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Long Thành - cho biết địa phương đang phối hợp cùng với các bộ và sở, ngành của Đồng Nai và TP.HCM tập trung thực hiện các nhóm dự án chiến lược. Đó là tập trung hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối cùng hệ thống các tuyến cao tốc ra vào sân bay Long Thành và các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt cao tốc Bắc - Nam để tạo động lực tăng trưởng.
"Tại Long Thành cũng sẽ hình thành khu thương mại tự do, trung tâm logistics hàng không, phát triển mô hình đô thị thông minh và quy hoạch các dự án y tế - giáo dục để thu hút đầu tư...", ông Nguyên nêu kế hoạch.
Các chuyên gia cho rằng kinh nghiệm từ TP.HCM cho thấy việc vận dụng hiệu quả các cơ chế đặc thù đã giúp khơi thông nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ nhiều dự án hạ tầng lớn. Chẳng hạn các cơ chế từ nghị quyết 98, 260 đang giúp TP.HCM triển khai nhanh các tuyến đường cửa ngõ, cảng biển... Hay từ nghị quyết 188, nhiều dự án metro, đường sắt đã được triển khai nhanh chóng với mục tiêu đến năm 2030 sẽ hoàn thiện 6 tuyến với tổng chiều dài 187km.
Vì thế, Đồng Nai cần tham khảo kinh nghiệm nói trên trong bối cảnh cần phải cấp bách phát triển hạ tầng hiện đại, đặc biệt là đường sắt và metro. Đồng Nai cũng cần được hưởng những cơ chế đủ mạnh để tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển tương xứng với vai trò mới trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
"Chúng tôi tin rằng khi có thêm cơ chế, chính sách thì Đồng Nai sẽ cùng TP.HCM tạo ra những đột phá ở khu vực phía Nam, đóng góp cho ngân sách rất lớn cho đất nước", ông Nguyễn Hữu Nguyên kiến nghị.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
'Miền Tây mất dần vị thế doanh nghiệp trong bản đồ kinh tế quốc gia'

Thông điệp trên được các chuyên gia đưa ra chiều 28/5 trong buổi công bố Báo cáo kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long, diễn ra tại Cần Thơ.
Theo báo cáo, Kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn tăng trưởng ổn định nhưng chưa tạo được bước nhảy về năng suất và quy mô doanh nghiệp. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng khoảng 7,24%, đóng góp 8,39% vào tăng trưởng chung cả nước và chiếm 12,2% GDP quốc gia. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế vùng vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông - thủy sản. Tuy nhiên, mức tăng này thấp hơn các vùng công nghiệp hóa nhanh.
Từ năm 2023, Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất nước. Sau sáp nhập, khi không còn Long An, số doanh nghiệp đang hoạt động của vùng giảm khoảng 20%, còn xấp xỉ 65.000 đơn vị.
Tiến sĩ Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết Đồng bằng sông Cửu Long đang đối diện một nghịch lý sau khi điều chỉnh địa giới, vùng không còn Long An (sáp nhập với Tây Ninh và thuộc vùng Đông Nam Bộ), những hạn chế cố hữu về công nghiệp, FDI và năng lực doanh nghiệp càng bộc lộ rõ nét. Mô hình tăng trưởng cũ dựa vào tài nguyên, sản lượng thô, lao động giản đơn và hộ sản xuất nhỏ đã chạm trần giới hạn.
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (đồng chủ biên báo cáo, giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright) thông tin rằng năm 2000, ĐBSCL từng chiếm khoảng 22% tổng số doanh nghiệp cả nước, đến năm 2024 tỷ lệ này chỉ còn khoảng 7%.
"Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp ở miền Tây không chỉ ít mà còn thiếu động lực tái tạo, sự nâng cấp về quy mô cũng như đơn vị đầu chuỗi đủ năng lực dẫn dắt các chuỗi giá trị của vùng", chuyên gia nói.
Đến nay, khu vực này vẫn giữ vai trò chiến lược trong an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản của Việt Nam, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, khoảng 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, khoảng 70% sản lượng trái cây và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, logistics vẫn là điểm nghẽn cố hữu, trực tiếp làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vùng.
Mỗi năm, nơi đây vận chuyển khoảng 18 triệu tấn hàng hóa xuất nhập khẩu, nhưng chi phí logistics chiếm tới 20–25% giá thành sản phẩm. 70% hàng hóa vẫn phải trung chuyển qua TP HCM và Đông Nam Bộ.
Năm 2025, mạng lưới cao tốc liên quan trực tiếp đến Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm cả các tuyến đã đưa vào khai thác và đang triển khai, dài khoảng 550 km; thời gian di chuyển giữa TP HCM – Cần Thơ giảm từ hơn bốn giờ xuống hơn hai giờ.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cao tốc chỉ tạo đột phá nếu đi kèm lớp hệ thống cơ sở hạ tầng phối hợp như đường thủy, kho lạnh, trung tâm phân loại, kiểm định, logistics số và mạng lưới doanh nghiệp đủ sức tổ chức chuỗi cung ứng để biến cải thiện hạ tầng thành giá trị kinh tế.
Kế đến, năng suất lao động là điểm nghẽn trực tiếp của mục tiêu phát triển doanh nghiệp vùng. Cụ thể, năng suất lao động của vùng này hiện ở nhóm thấp nhất cả nước, khoảng 133 triệu đồng/lao động mỗi năm, xấp xỉ vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Đáng chú ý, năng suất lao động công nghiệp của vùng chỉ bằng khoảng một nửa mức trung bình cả nước, còn khu vực dịch vụ chỉ đạt khoảng hai phần ba. Điều này cho thấy vùng chưa tạo được các ngành và doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao để kéo mặt bằng năng suất đi lên.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng chỉ đạt 16,3%, trong khi Đông Nam Bộ 23,9%. Tương tự, tỷ lệ đô thị hóa của vùng chỉ đạt khoảng 29%, thấp hơn mức trung bình cả nước 38%. Đây là ràng buộc lớn đối với các ngành chế biến sâu, logistics, dịch vụ kỹ thuật, chuyển đổi số và thu hút FDI chất lượng cao...
Báo cáo xác định ĐBSCL đã mất dần vị thế doanh nghiệp trong bản đồ kinh tế quốc gia. Mặc dù số lượng doanh nghiệp của vùng vẫn tăng nhưng trong giai đoạn 2015–2025 có tốc độ tăng thấp nhất nước. Chất lượng doanh nghiệp cũng đáng lo ngại. Phân loại theo quy mô vốn, đến năm 2024, doanh nghiệp siêu nhỏ ở đây vẫn chiếm tới 42%, mức cao nhất cả nước. Trong khi tỷ trọng doanh nghiệp lớn của vùng cũng thuộc nhóm thấp nhất nước...
Các chuyên gia khuyến nghị cấp địa phương cần chuyển từ cạnh tranh đơn lẻ sang hợp tác và liên kết trong một hệ sinh thái doanh nghiệp vùng. Trung ương cần kiến tạo thể chế vùng có thực quyền và gắn đầu tư công với kế hoạch khai thác kinh tế. Đồng thời hình thành cơ chế bảo lãnh tín dụng công cấp vùng, ưu tiên cho chế biến sâu, kho lạnh, logistics, thương mại điện tử nông thôn, công nghệ số, chuỗi liên kết bền vững....
Các nghiên cứu chỉ ra rằng đến năm 2030, đột phá của ĐBSCL sẽ không chỉ nằm ở những tuyến cao tốc, cảng biển hay khu công nghiệp mới, mà ở việc hình thành được một cộng đồng doanh nghiệp đủ sức biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng, biến thách thức khí hậu thành năng lực thích ứng và biến bản sắc vùng thành lợi thế cạnh tranh bền vững...
Báo cáo kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 là ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâu được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Trường Chính sách công và quản lý Fulbright thực hiện năm thứ năm liên tiếp, theo nhiệm vụ Thủ tướng giao tại Nghị quyết 57/2022 về hoàn thiện thể chế vùng kinh tế xã hội.
Ấn phẩm cung cấp cho Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp một bức tranh thực chứng, khách quan và đủ chiều sâu về một vùng kinh tế đặc biệt quan trọng của quốc gia.
Tin Gốc: Vnexpress

Như vậy, theo quy định EVN sẽ phải rà soát, đánh giá lại các chi phí để báo cáo tới Bộ Công Thương trước ngày 25-7 tới.
Những nội dung phải báo cáo bao gồm: Sản lượng điện thương phẩm thực tế của quý trước và tổng sản lượng điện cộng dồn từ đầu năm cũng như ước sản lượng còn lại trong năm.
Xác định chi phí phát điện của quý trước liền kề, chi phí phát điện cộng dồn từ đầu năm (bao gồm cả chi phí mua điện từ các nhà máy cung cấp dịch vụ phụ trợ). Các chi phí khâu phát điện các tháng còn lại, các khoản chi phí khác chưa được tính vào giá bán lẻ điện bình quân.
Trên cơ sở đó, EVN sẽ được thực hiện điều chỉnh/giữ nguyên giá theo thẩm quyền. Cụ thể, nếu giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2%, EVN báo cáo Bộ Công Thương việc không điều chỉnh giá, lập hồ sơ gửi Bộ Công Thương để kiểm tra, giám sát.
Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân được tính toán giảm từ 1% trở lên hoặc cần điều chỉnh tăng từ 2-5% so với giá hiện hành, EVN lập hồ sơ phương án giá báo cáo Bộ Công Thương kiểm tra, rà soát và cho ý kiến. Bộ sẽ trả lời trong 15 ngày và EVN thực hiện điều chỉnh giá sau 5 ngày theo đúng quy định giá điện có thể điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần.
Giá bán lẻ điện bình quân đã được điều chỉnh lần gần đây nhất là ngày 10-5-2025, với mức tăng 4,8%, lên 2.204,0655 đồng/kWh (chưa gồm VAT).
Trong khi đó, báo cáo mới đây nhất của EVN cho hay năm 2025 tình hình tài chính của tập đoàn này khởi sắc khi thoát lỗ sang lãi.
Báo cáo gần đây nhất của EVN cho hay trong 6 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỉ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ 2025.
Đây là mức tăng khá cao trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh để phục vụ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân do thời tiết nắng nóng.
Hệ thống điện vì thế liên tục lập kỷ lục với sản lượng điện ngày cao nhất đạt 1.215,4 triệu kWh (ngày 25-6), công suất cực đại đạt 57.537 MW (ngày 24-6). Hầu hết, các nguồn điện đều được huy động tối đa, trong đó có nguồn giá cao. Cụ thể, tổ máy chạy dầu Nhiệt điện Ô Môn, một số tổ máy tua bin khí đã chuyển nhiên liệu khí thiên nhiên sang DO để tăng công suất khả dụng hệ thống.
Trong cơ cấu nguồn, điện than chiếm tỉ trọng tới gần 55%, điện khí chiếm 8%, năng lượng tái tạo chiếm gần 13%, trong khi nguồn điện giá rẻ là thủy điện chỉ chiếm 21%. Với cơ cấu như vậy, chi phí giá thành sản xuất điện đang có yếu tố bất lợi hơn so với năm 2025 khi phải huy động những nguồn điện giá cao như than, khí và dầu.
Trả lời Tuổi Trẻ trước đó, ông Nguyễn Đình Phước - Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) - cho hay báo cáo tài chính riêng công ty mẹ - EVN được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế công ty mẹ - EVN năm 2025 là 39.762 tỉ đồng, góp phần giảm lỗ lũy kế còn 5.611 tỉ đồng.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất được kiểm toán, lợi nhuận sau thuế toàn tập đoàn là 51.881,9 tỉ đồng, không còn lỗ lũy kế hợp nhất đến hết năm 2025. Tuy nhiên, khoản chênh lệch tỉ giá chưa được ghi nhận vào chi phí sản xuất, ước tính còn khoảng 17.500 tỉ đồng. Trường hợp không thực hiện phân bổ tỉ giá trong năm 2025, giá điện đã có thể có cơ hội giảm nhờ giá thành giảm mạnh.
Tuy nhiên, sức ép tăng giá đang hiện hữu. Mức giá mua điện của EVN trong ba tháng đầu năm liên tục tăng, ghi nhận mức bình quân là 1.907,65 đồng/kWh, gấp đôi so với thời điểm tháng 11-2025 chỉ với 954,89 đồng/kWh. Nếu cộng thêm khoản chênh lệch tỉ giá, đây là áp lực không nhỏ cho tập đoàn này trong việc giữ ổn định giá điện.
Ông Nguyễn Đình Phước cho hay từ đầu năm 2026 tới nay, đã có những diễn biến khó lường, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của EVN. Điều này khiến chi phí mua điện từ các nhà máy điện của EVN tăng, gây áp lực lớn lên cân đối tài chính.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

