Trong chuyến thăm và làm việc tại Quảng Trị dịp kỷ niệm 51 năm ngày giải phóng miền nam thống nhất đất nước vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến thăm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Bến phà Gianh và đã để lại những dòng lưu niệm trong sổ vàng của di tích.
Đây cũng là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến thăm “tọa độ lửa” đầy hào hùng trong kháng chiến này.
Tại di tích Bến phà Gianh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã bày tỏ lòng tri ân sâu sắc trước những đóng góp, hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước.
Trong sổ vàng lưu niệm tại di tích, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xúc động viết: “Sông Gianh – Bến phà sông Gianh lịch sử, miền đất anh hùng gắn liền với lịch sử anh hùng của đất nước”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh nơi đây là chứng tích lịch sử, chứng kiến sự hy sinh anh dũng, sự kiên cường dũng cảm của lực lượng thanh niên xung phong anh hùng, của bộ đội, nhân dân Quảng Trị và nhân dân cả nước. Chính tinh thần bất khuất đó đã đóng góp quan trọng cho những chiến thắng vĩ đại của dân tộc, đặc biệt là trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
“Nhân dịp kỷ niệm 51 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi được trở về với sông Gianh lịch sử, được tri ân sự đóng góp của những người anh hùng và nhân dân vùng đất lửa.
Những đóng góp, hy sinh của những thế hệ đi trước, để đất nước có hòa bình, thống nhất, độc lập, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, đất nước tiếp tục phát triển. Đời đời ghi nhớ công ơn của các anh, các chị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm viết.
Di tích Bến phà Gianh từ lâu đã trở thành biểu tượng cho tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của quân và dân Quảng Trị.
Đây được mệnh danh là “tọa độ lửa” khi chịu sự đánh phá vô cùng ác liệt của Mỹ để ngăn chặn tuyến đường chi viện cho chiến trường miền Nam của quân giải phóng.
Năm 2026, di tích này đã được tôn tạo thành khu tưởng niệm khang trang rộng 2,8ha ở ngay sát bờ bắc sông Gianh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Liên quan đến vụ ẩu đả xảy ra tại phường Tân Sơn Nhì, ngày 17.4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM cho biết đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Thành Đô (29 tuổi), Nguyễn Duy Huỳnh (42 tuổi), Trần Quang Anh Bằng (29 tuổi), Lê Tấn Phát (25 tuổi), Trần Hoàng Phúc (23 tuổi), Trương Quang Hiền (23 tuổi), Nguyễn Đình Tuấn (17 tuổi) và Trương Trung Hậu (30 tuổi) để điều tra về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Theo điều tra ban đầu, nguồn cơn vụ việc từ những mâu thuẫn trên mạng xã hội. Trước đó, Lê Tấn Phát và Nguyễn Đình Tuấn đăng bài viết vào các hội nhóm Facebook chia sẻ về quá trình đi phượt. Do nội dung bị cho là thiếu thực tế, bài viết đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều và tranh luận gay gắt từ cộng đồng mạng.
Sự việc đẩy lên cao trào khi Nguyễn Thành Đô đăng bài lên trang cá nhân nhằm mục đích trêu chọc Phát và Tuấn. Sau một hồi nhắn tin cự cãi, thách thức qua lại, 2 bên quyết định hẹn gặp mặt trực tiếp tại một quán cà phê trên đường Tân Thắng (phường Tân Sơn Nhì) để "giải quyết" mâu thuẫn. Tại điểm hẹn, 2 nhóm tiếp tục xảy ra cự cãi và dẫn đến xô xát.
Sau khi nhận tin báo, Công an phường Tân Sơn Nhì đã có mặt tại hiện trường, kịp thời ngăn chặn vụ việc và đưa những người liên quan về trụ sở. Tại cơ quan điều tra, những người này đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM tiếp tục củng cố hồ sơ, làm rõ vai trò của từng cá nhân để xử lý.
Công an phường Tân Sơn Nhì nhận định vụ việc là hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng mâu thuẫn ảo dẫn đến hậu quả thật đang có xu hướng gia tăng tại TP.HCM thời gian gần đây. Để ngăn chặn tình trạng này, bên cạnh việc xử lý nghiêm của pháp luật, rất cần sự phối hợp chặt chẽ từ gia đình, nhà trường trong việc quản lý, giáo dục thanh thiếu niên.
Để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, Công an phường Tân Sơn Nhì đề nghị người dân khi phát hiện thông tin về tội phạm cần liên hệ ngay cảnh sát khu vực hoặc số điện thoại trực ban: 028.3847.0006.
Tin Gốc: Thanh Niên

1. Những con đường nhỏ và lở lói. Những dãy nhà mái tôn tường gỗ, từng là các khu gia binh của quân đội VNCH giờ được sử dụng làm khu tập thể cho cán bộ công nhân viên. Dân thì ở trong những ngôi nhà thưng ván, xung quanh là đất đỏ...
Thời khó khăn, chỗ nào có đất là cuốc lên trồng khoai lang và su su. Là nói mùa mưa, còn mùa khô thì chịu. Nước không có, không cây gì sống nổi. Cả chục năm sau đấy, khi tôi đã có gia đình thì trong cái bếp phía sau của phòng tập thể, chỗ quan trọng nhất là... 2 cái thùng phuy đựng nước. Ông bố vợ làm giám đốc chi nhánh điện huyện Ayun Pa (cũ), cách Pleiku 80 km, thi thoảng chở lên cho gia đình con gái bao gạo kèm cái thùng phuy đựng dầu chạy máy điện. Dùng hắc ín quét kỹ trong ngoài rồi chứa nước. Hồi ấy nhà nào có 2 cái thùng phuy như thế giống như có... ô tô bây giờ. Lại còn khen: thùng phuy quét hắc ín nước trong và ngọt, hơn hẳn thùng phuy quét xi măng...
Dân Pleiku khi ấy, không tính cán bộ công nhân viên, có 2 loại chính, một là buôn bán, mà xịn nhất là mấy cửa hàng vàng, đa phần gốc gác từ làng Kế Môn, Huế, lên từ khoảng những năm 1950, mấy hiệu thuốc tây, mấy quán phở, còn lại là dân lao động.
Tôi nhớ hồi ấy, sau mỗi cái xe đạp lạch xạch thường cột cái cuốc, con dao... là công cụ làm rẫy. Mỗi buổi sáng hàng đoàn xe đạp như thế tiến ra ngoại ô, đa phần là phụ nữ. Nam giới chủ yếu đi dò phế liệu. Cả cái sân bay Cù Hanh to uỳnh thế, bao nhiêu căn cứ chiến tranh từng lừng lững thế, vào tay họ, món nào ra món ấy hết. Những tấm ghi lỗ lát làm đường băng và cả đường cho ô tô chạy, những cây sắt 3 cạnh để làm cọc rào thép gai, và những cuộn thép gai được cuộn rất khéo... là sản phẩm của họ mỗi chiều, là nguồn thu nhập chính của rất nhiều gia đình. Làm ăn lớn hơn, nhiều người rủ nhau vào rừng sâu, lên tận Sa Thầy, Đăk Tô tìm xác máy bay, xe tăng, và thẻ bài của lính Mỹ.
Đấy là phố, còn mươi cây số ra ngoại ô là tới các làng bà con bản địa Tây nguyên, nơi mưa kéo dài cả tháng trời, nước cuồn cuộn đỏ…
Nói Gia Lai có đặc sản cà phê nhưng quả là bà con Jrai, Bahnar hồi ấy không uống cà phê, và cũng rất ít người trồng. Người Ê Đê ở Đắk Lắk trồng nhiều hơn. Cà phê là món của người Kinh, người ở phố. Dưới nông thôn không có, kể cả những ngôi làng nổi tiếng như làng S'tơ, tức làng Kông Hoa trong Đất nước đứng lên, nơi mà ngay sau chiến tranh, nhà nước đầu tư rất lớn để xây dựng một xã kiểu mẫu. Máy cày, máy bơm đưa vào, đưa người Kinh và người Tày phía bắc vào sống cùng.
Ngã ba Phù Đổng - Gia Lai trước đây và hiện nay
ẢNH: HUY TỊNH
Ra khỏi Pleiku 5 km là miên man đất đỏ chói chang, dã quỳ vàng rờm rợp. Vậy nên theo tôi, công trình vĩ đại nhất đối với Tây nguyên khi ấy là các hồ thủy lợi. Bên Đắk Lắk còn đắp đập cái hồ thủy lợi rất lớn bằng chính đất bazan nữa, mà tới giờ, nghe nói vẫn còn tác dụng. Gia Lai thì có hồ Ayun Hạ được thiết kế để tưới cho 13.500 ha, một sự đổi đời không ngờ, một tầm nhìn hết sức đúng đắn.
Và sau đấy là một loạt những hồ thủy lợi khác, đưa văn minh nương rẫy truyền thống hòa nhập với văn minh lúa nước của người Kinh.
2. Sự giao thoa kinh tế kéo theo sự giao thoa văn hóa, tạo nên ở Gia Lai một vùng văn hóa độc đáo. Ấy là nói khi chưa nhập tỉnh, giờ thành tỉnh Gia Lai mới, một sự giao thoa văn hóa hết sức thú vị đang, đã và sẽ diễn ra, trong đó, năm 2026 này là năm du lịch quốc gia do tỉnh Gia Lai đăng cai với slogan "Đại ngàn chạm biển xanh".
Và tới lúc ấy, những cao su, cà phê, tiêu, chanh dây..., các loại cây quả có giá trị kinh tế cao sẽ còn dư địa phát triển mạnh nữa.
Theo thống kê tôi vừa có thì diện tích cà phê năm 2025 của tỉnh Gia Lai đạt khoảng 108.389 ha, sản lượng ước đạt 340.612 tấn. Trong đó, diện tích cà phê sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ có chứng nhận là 56.691,04 ha. Vùng nguyên liệu cà phê cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho 3 nhà máy chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh, với tổng công suất 157.000 tấn/năm.
Diện tích chanh dây năm 2025 đạt khoảng 5.650 ha, sản lượng ước đạt 213.150 tấn. Trong đó, diện tích chanh dây sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, có chứng nhận VietGAP là hơn 1.153 ha. Chanh dây đã được cấp 48 mã số vùng trồng xuất khẩu/1.153 ha và 6 mã số cơ sở đóng gói chanh dây xuất khẩu, với tổng công suất 365 tấn quả tươi/ngày.
Diện tích rầu riêng năm 2025 đạt khoảng 9.262 ha, sản lượng ước đạt 57.725 tấn. Trong đó, diện tích sầu riêng sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, có chứng nhận GlobalGAP hơn 1.081 ha, tiêu chuẩn VietGAP hơn 741 ha...
Dẫu còn điều này điều kia chưa tương xứng, chưa như kỳ vọng, nhưng khi tỉnh xác định lấy du lịch là một trong 5 trụ cột phát triển kinh tế thì yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc trở thành điểm nhấn quan trọng. Lâu nay ai cũng bảo phải giữ gìn, tôn trọng rồi khai thác, nhưng làm như thế nào thì vẫn mỗi nơi mỗi phách, mỗi người mỗi kiểu. Nên có lúc phát triển nóng quá, cái khối băng bản sắc có nguy cơ bị vỡ, cần có sự can thiệp kịp thời của nhà nước. Sự kiện tỉnh Gia Lai quyết định phá bỏ cái công trình bê tông gần chục tỉ đồng án ngữ mặt chính của núi lửa Chư Đang Ya, trả lại mặt bằng, giữ nguyên hiện trạng ngay trước tết năm rồi là một ví dụ.
3. Tôi rất quý cô bé Uyên Nie, người Ê Đê (Đắk Lắk), học Trường ĐH Văn hóa Nghệ thuật quân đội, lấy một anh bác sĩ người Jrai ở làng Kép, Ia Mơ Nông, Chư Păh cũ. Thay vì bắt chồng phải về nhà vợ theo phong tục, thì Uyên về quê chồng, và trở thành thủ lĩnh du lịch của làng, biến làng Kép thành một mô hình du lịch cộng đồng.
Đây là một sự đổi đời rất lớn, vì chúng ta biết người Tây nguyên bản địa chủ yếu đang sống với phương thức tự cung tự cấp, không có chợ, cần gì thì trao đổi hàng lấy hàng trong làng. Thế mà giờ, biến ngay ngôi làng mình, lối sống thường ngày của mình, công việc hằng ngày của mình... thành sản phẩm để thu hút du khách.
Trở lại chuyện cà phê trên đất này. Quả là tôi đã từng rất ngạc nhiên khi hồi mới lên Tây nguyên mà chả thấy cây cà phê đâu, hay chính xác là rất ít. Các quán cà phê cũng không nhiều như từng hình dung. Nhớ quán chúng tôi hay "ngồi đồng" mỗi sáng chủ nhật hồi ấy là cà phê Kim Liên của ông Giáp, một người đàn ông lịch thiệp di cư. Giờ mới đây nhất, trong hội nghị kêu gọi đầu tư do tỉnh Gia Lai tổ chức, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Gia Lai - một trong những doanh nghiệp dẫn đầu về xuất khẩu cà phê, thuộc Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam - đã trình bày hệ sinh thái chiến lược cho ngành cà phê thông qua 5 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư hơn 710 triệu USD, tương đương khoảng 18.000 tỉ đồng.
Từ một cơ sở gia đình, Vĩnh Hiệp đã trở thành nhà xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam, hiện diện tại hơn 60 thị trường, đóng góp hơn 769 triệu USD trong niên vụ 2024 - 2025, chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.
Ông Hiệp là người đưa ra thông điệp: "Việt Nam không chỉ xuất khẩu cà phê; chúng tôi muốn chia sẻ giá trị, bản sắc và tinh thần sáng tạo của người nông dân Việt Nam với thế giới".
Và tôi, người có tròn 45 năm ở đất này, được coi là người Pleiku, trở thành một phần ký ức ở đây, nhiều khi đi lại những con đường cũ đã ngỡ ngàng trước những đổi thay...
Tin Gốc: Thanh Niên

Gần nửa năm sau trận lũ lịch sử, cuối tháng 5.2026, tôi trở lại xã Hòa Thịnh. Chiếc xe từ TP.Đà Nẵng đến P.Tuy Hòa (tỉnh Đắk Lắk) khi mặt trời vừa ló dạng. Khung cảnh yên bình đến mức bỗng cảm thấy khó tin nơi này từng là tâm điểm của lũ dữ.
Từ trung tâm P.Tuy Hòa, tôi thuê xe máy chạy về Hòa Thịnh - vùng rốn lũ bị cô lập dài ngày phía đông tỉnh Đắk Lắk. Con đường xuyên qua cánh đồng thơm mùi rơm mới. Những ruộng lúa vàng óng trải dài đến tận chân trời, người dân tất bật gom lúa, phơi rơm. Nhìn vùng quê đang vào mùa gặt, tôi chợt nghĩ có lẽ lớp phù sa mà trận lũ lịch sử để lại đã phần nào giúp nơi này hồi sinh sau những ngày tang thương.
Ký ức về Hòa Thịnh cuối tháng 11.2025 vẫn còn nguyên vẹn. Ngày ấy, tôi rời rốn lũ khi nước đã rút hẳn, bùn non phủ kín các con đường bê tông dẫn vào làng. Không khí đặc quánh mùi bùn đất và xác gia súc. Đêm cuối cùng trước khi rời khu vực phía đông Đắk Lắk sau gần 20 ngày chi viện tác nghiệp giữa rốn lũ, nhóm phóng viên chúng tôi không ai ngủ được. Chúng tôi kể cho nhau nghe những chuyến tác nghiệp ám ảnh nhất trong đời làm nghề. Có người từng lao vào tâm dịch Covid-19, có người "quen mặt" với điểm nóng thiên tai miền Trung, nhưng tất cả đều lặng người ở Hòa Thịnh...
Tôi vẫn nhớ đêm 20.11.2025, khi nước lũ dâng cao, hàng dài phương tiện mắc kẹt trên QL1 giữa cảnh mưa trắng trời. Trạm CSGT Tuy An thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Đắk Lắk dùng xe chuyên dụng mở đường để chúng tôi kịp theo lực lượng cứu hộ tiến vào xã Hòa Thịnh, vùng bị cô lập nặng nhất. Ánh đèn ưu tiên quét dài trên mặt nước đục ngầu, nhiều chiến sĩ ngâm mình trong nước lạnh hàng giờ để điều tiết giao thông. Trước lúc chia tay, một cán bộ CSGT nói với tôi: "Nhờ các anh đưa hình ảnh bà con vùng lũ sớm, để cả nước biết mà giúp đỡ".
Khi vào được xã Hòa Thịnh, điện mất hoàn toàn, sóng điện thoại chập chờn. Muốn gửi bài về tòa soạn, chúng tôi phải chạy xe hàng cây số ra vùng ven mới bắt được tín hiệu. Những bản tin đầu tiên phát đi cũng là lúc các đoàn cứu trợ từ nhiều nơi bắt đầu đổ về. Có hôm theo ghe cứu trợ len qua biển nước cả ngày, chúng tôi chỉ kịp ăn vội gói mì giữa mưa lạnh.
Ám ảnh nhất là chuyến ghe chở quan tài vào nhà bà Lê Thị Cúc, người phụ nữ sống một mình đã qua đời trong căn nhà 3 gian cũ khi nước lũ dâng quá nóc. Không ai biết bà mất từ lúc nào. Chỉ đến khi nước rút, người con gái xin ghe vượt qua nhiều đoạn nước sâu để vào tìm mẹ và phát hiện thi thể bà giữa căn nhà ngập bùn đất. Người dân đoán bà lặng lẽ rời khỏi cuộc đời trong đêm 19.11.2025, thời điểm nước lũ dâng cao nhất.
Sau khi phóng viên Thanh Niên kết nối, đội cứu hộ Ghềnh chè Thái Nguyên dùng ghe đưa quan tài vượt qua cánh đồng ngập sâu để vào nhà bà Cúc. Khung cảnh hôm ấy khiến tất cả lặng người. Căn nhà ngổn ngang bùn đất, đồ đạc đổ sập, thi thể người phụ nữ xấu số nằm trên tấm ván ướt ở góc nhà lạnh lẽo. Đến cả bộ đồ khô để khâm liệm cho mẹ, người con gái cũng không tìm thấy...
Đi qua những ngày lũ dữ ở xã Hòa Thịnh, thứ ám ảnh tôi nhất không phải dòng nước xiết hay những chuyến ghe chòng chành, mà là mùi tử khí. Tôi nhớ mãi khoảnh khắc chiếc ghe quay lại giữa cánh đồng ngập sâu để đưa một thi thể vào bờ. Người sống ngồi hai bên mạn ghe, người chết nằm giữa. Mùi thi thể phân hủy bốc lên nồng nặc giữa không khí ẩm lạnh. Lúc đó tôi mới hiểu vì sao những người đi cứu nạn thường mang theo nhang. Đó là cách để sưởi ấm linh hồn người đã khuất và "át" bớt mùi tử khí để người sống dễ thở. Nhưng hôm ấy giữa cánh đồng mênh mông nước, khó có thể tìm được một bó nhang…
Ngày ấy, trước khi rời xã Hòa Thịnh, tôi ghé nhà ông Võ Trọng Đàn, một trong nhiều hộ dân được bạn đọc Báo Thanh Niên hỗ trợ kịp thời sau lũ. Mái nhà ông sập gần một nửa, gió lạnh và nước mưa tạt thẳng vào trong. Bàn thờ tổ tiên bị nước đánh vỡ, di ảnh cha mẹ, ông bà lẫn trong lớp bùn non chưa kịp dọn. Dưới phần mái hiên còn sót lại, chúng tôi cùng vợ chồng ông đứng ăn vội chiếc bánh ngọt giữa cái lạnh sau lũ. Ông Đàn co ro trong bộ quần áo ướt sũng, giọng run run: "Giờ chỉ ước có bộ đồ khô để mặc. Tài sản cũng trôi hết rồi…".
Hôm nay trở lại, căn nhà của ông Đàn đã khác. Ngôi nhà mới có gác lửng nằm vững chãi giữa xóm làng hồi sinh sau lũ. Thấy tôi, ông Đàn ban đầu ngập ngừng rồi bất ngờ nhận ra: "Phóng viên Báo Thanh Niên đây mà!".
Người đàn ông từng kiệt sức trong căn nhà đổ sập ngày nào giờ khỏe khoắn hơn nhiều. Ông kể sau lũ, gia đình được nhà nước hỗ trợ hơn 150 triệu đồng, thêm sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm để dựng lại nhà mới. "Sau vài tháng, bà con bắt đầu gượng dậy. Người giúp nhau sửa nhà, nhà hảo tâm gửi giống lúa, nhu yếu phẩm. Ai còn sức thì phụ người mất trắng tài sản", ông Đàn nói. Người vợ ngồi bên cạnh tiếp lời: "Tết vừa rồi đủ đầy hơn mong đợi. Điều quý nhất là tình cảm của đồng bào cả nước dành cho dân vùng lũ".
Tôi chạy xe qua cánh đồng rộng lớn đến căn nhà cũ của bà Lê Thị Cúc, chỉ mong thắp nén nhang sau ngày đưa quan tài vượt biển nước vào nhà bà năm ngoái. Căn nhà khóa cửa im lìm. Qua ô cửa khép hờ, tiếng kinh vang vọng. Tôi đứng ngoài sân, chắp tay khấn vọng vào bên trong. Gió từ cánh đồng thổi qua mang theo mùi rơm mới khiến lòng tôi chợt nhẹ đi rất nhiều...
Điểm dừng cuối cùng là nhà cụ Trần Văn Khánh ở thôn Phú Hữu, đại gia đình từng mất trắng 4 căn nhà chỉ sau một đêm lũ dữ. Thấy tôi bước vào sân, cụ Khánh cười hiền: "Ngày mấy chú tới đợt lũ năm ngoái, nhà sập hết rồi, vợ chồng tôi phải chui vô phòng vệ sinh trú tạm. Giờ chú quay lại, tôi nhớ ngay".
Căn nhà mới kiên cố nằm giữa khoảng sân rộng khác hẳn khung cảnh hoang tàn tôi từng chứng kiến. Sau lũ, bộ đội về giúp dân dựng nhà rất nhanh trong "Chiến dịch Quang Trung". "Chỉ 3 tháng là xong căn nhà cho 4 cha con tôi. Gần 80 tuổi rồi, tôi không nghĩ đời mình còn có được căn nhà chắc chắn như vậy. Giờ đến mùa mưa lũ cũng đỡ lo", cụ Khánh xúc động.
Chiều muộn, rời Hòa Thịnh, tôi ngoái nhìn những cánh đồng đang vào mùa gặt dưới ánh nắng cuối ngày. Dòng nước dữ đã rút đi, người dân nơi đây bước qua mất mát bằng sự cưu mang của đồng bào cả nước, bằng những chuyến xe cứu trợ xuyên đêm, bằng bàn tay của bộ đội, công an, lực lượng cứu hộ và cả những người chưa từng quen biết.
Với người làm báo như tôi, hành trình trở lại xã Hòa Thịnh là dịp chứng kiến vùng đất này hồi sinh sau thiên tai, và hiểu rằng phía sau những bản tin giữa mưa lũ luôn là những phận người.
Tin Gốc: Thanh Niên

