“Chúng tôi đã tiếp quản một con tàu, chúng tôi đã thu giữ hàng hóa, chúng tôi đã thu giữ dầu. Đó là một công việc rất có lợi nhuận. Chúng tôi giống như cướp biển. Chúng tôi kiểu như cướp biển và chúng tôi không đùa”, Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu trong một sự kiện.
Ông Trump đưa ra tuyên bố trên sau khi lực lượng Mỹ thu giữ một số tàu, cùng với các tàu container bị trừng phạt và tàu chở dầu của Iran tại vùng biển châu Á, sau khi những phương tiện này rời khỏi các cảng của Iran.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 1-5 cho biết lực lượng Mỹ đã chặn 45 tàu đang tìm cách vượt qua lệnh phong tỏa tại các cảng Iran.
“Lực lượng Mỹ sẽ tiếp tục tuần tra trên vùng biển quốc tế và thực thi lệnh phong tỏa hải quân đang áp dụng với Iran. Tính đến thời điểm hiện tại, 45 tàu thương mại đã được yêu cầu quay đầu hoặc trở lại cảng để đảm bảo tuân thủ”, CENTCOM thông báo trong một bài đăng trên mạng xã hội X.
Trong khi đó Tehran đã chặn gần như tất cả các tàu đi qua eo biển Hormuz, ngoại trừ tàu của nước này, kể từ khi chiến sự bắt đầu.
Ngoài ra, Tổng thống Trump tuyên bố ông có ý định đạt được một thỏa thuận với Iran mà Mỹ có thể chấp nhận. Nhưng hiện tại Washington không hài lòng với những đề nghị của Tehran.
“Chúng tôi phải hoàn thành việc này và chúng tôi đang làm rất tốt. Chúng tôi đang thắng thế. Họ không đưa ra được thỏa thuận mà chúng tôi cần và chúng tôi sẽ giải quyết việc này một cách thích đáng. Chúng tôi sẽ không rút lui sớm để rồi vấn đề lại nảy sinh sau 3 năm nữa”, ông nói.
Trước đó nhà lãnh đạo Mỹ khẳng định cuộc xung đột với Iran thực chất đã kết thúc từ đầu tháng 4, sau khi hai bên đạt thỏa thuận ngừng bắn.
Tuy nhiên giới phân tích nhận định động thái này dường như chủ yếu xuất phát từ yêu cầu tuân thủ các quy định pháp luật trong nước, về việc triển khai quân đội Mỹ tại các cuộc xung đột ở nước ngoài.
Theo Luật Quyền hạn chiến tranh của Quốc hội năm 1973, Tổng thống Mỹ chỉ được tiến hành chiến dịch quân sự tối đa 60 ngày nếu không có sự phê chuẩn của Quốc hội, hoặc có thể xin gia hạn thêm 30 ngày trong trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn cho lực lượng khi rút quân.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Đài ABC News ngày 20-5 đưa tin, một chú chó nghiệp vụ đã trở thành tâm điểm chú ý khi được trao chiếc "bằng tốt nghiệp dành cho chó" (dogploma) ngay trên sân khấu buổi lễ tốt nghiệp đại học của chủ nhân.
Sự kiện diễn ra tại nhà thi đấu United Supermarkets Arena thuộc khuôn viên Đại học Công nghệ Texas ở thành phố Lubbock (Mỹ). Theo đoạn video do nhà trường chia sẻ trên Instagram, sinh viên Makaela Muse đã bước lên sân khấu để nhận bằng cử nhân và bắt tay với Hiệu trưởng nhà trường Lawrence Schovanec.
Sau khi bắt tay Muse, ông Schovanec đã cúi xuống và trao cho chú chó Sadie đang đứng bên cạnh cô một chiếc "bằng" đặc biệt - một khúc xương được thắt nơ bằng ruy băng đỏ.
Khoảnh khắc trên đã nhận được những tiếng hò reo và vỗ tay nồng nhiệt từ toàn thể khán giả, trong khi Sadie nhận món quà và cùng Muse rời khỏi sân khấu.
Muse chia sẻ: "Tôi hoàn toàn cạn lời. Điều đó đã làm cho khoảnh khắc trở nên đặc biệt hơn rất nhiều. Tôi sẽ không bao giờ quên được".
Makaela Muse tốt nghiệp vào ngày 16-5. Nhiều năm trước, cô được chẩn đoán mắc một số tình trạng di truyền khá hiếm gặp, đòi hỏi phải có sự giám sát liên tục. Sadie, thuộc giống chó chăn cừu Đức, vốn là một thành viên trong gia đình Muse và sau đó đã được huấn luyện đặc biệt để luôn túc trực bên cạnh cô trong suốt thời gian đi học.
Chú chó Sadie nhận "bằng tốt nghiệp" bên cạnh chủ nhân - Video: ABC News
Hiệu trưởng Lawrence Schovanec nhận xét: "Giống như rất nhiều sinh viên tốt nghiệp của chúng tôi, Makaela đại diện cho sự kiên cường, quyết tâm và tấm lòng định hình nên sinh viên Đại học Công nghệ Texas".
Đại diện Đại học Công nghệ Texas chia sẻ với ABC News rằng Muse đã nhận bằng cử nhân ngành khoa học động vật. Mục tiêu tương lai của cô là theo đuổi sự nghiệp trở thành bác sĩ thú y chuyên về các loài động vật lớn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cơ quan Quản lý Eo biển Vùng Vịnh (PGSA) của Iran ngày 20/5 đã xác định vùng quản lý giám sát đối với eo biển Hormuz.
Trong một thông báo đăng trên tài khoản X chính thức, PGSA xác định vùng quản lý là "đường nối núi Mubarak ở Iran và phía nam Fujairah thuộc Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, ở phía đông của eo biển, kéo dài đến đường nối điểm cuối của đảo Qeshm ở Iran và Umm Al Quwain thuộc Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, ở phía tây của eo biển”.
"Việc di chuyển trong khu vực này để đi qua eo biển Hormuz yêu cầu phải có sự phối hợp với PGSA và phải xin giấy phép từ cơ quan này", thông báo cho biết thêm.
Iran đã đóng cửa một phần eo biển Hormuz kể từ khi xung đột với Mỹ và Israel nổ ra hồi cuối tháng 2.
Iran bắt đầu áp dụng các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt hơn nhiều sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố duy trì lệnh phong tỏa hàng hải đối với các cảng của Iran vốn triển khai từ ngày 13/4.
Trong bối cảnh đó, Iran đã thành lập PGSA như một thể chế mới để điều tiết và giám sát lưu thông tàu thuyền qua eo biển Hormuz.
Trong bài đăng đầu tiên trên X, cơ quan này tuyên bố sẽ cung cấp các cập nhật theo thời gian thực về các hoạt động ở eo biển Hormuz, cũng như các diễn biến đang diễn ra liên quan đến quản lý vận tải hàng hải.
Theo các quan chức Iran, kênh liên lạc mới này là một phần của hệ thống vận hành rộng lớn hơn được thiết kế nhằm cải thiện sự phối hợp với hoạt động vận tải hàng hải thương mại.
Theo cơ chế này, các tàu thuyền có ý định đi qua eo biển sẽ nhận được các thông báo điện tử trực tiếp nêu rõ các quy tắc, quy định áp dụng và các yêu cầu về thủ tục trước khi quá cảnh.
Trong một diễn biến khác, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) hôm qua cho biết, lưu lượng tàu thuyền qua eo biển Hormuz đang gia tăng theo các thỏa thuận mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quá cảnh qua tuyến đường thủy chủ chốt này.
Theo IRGC, đã có tổng cộng 26 tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz trong vòng 24 giờ qua, bao gồm tàu chở dầu, tàu container và các tàu thương mại khác.
Bộ tư lệnh Hải quân IRGC, cơ quan kiểm soát eo biển phối hợp với quân đội Iran, cho biết thêm tất cả hoạt động quá cảnh đều diễn ra với sự phối hợp của Hải quân IRGC và lực lượng này đã bảo đảm an ninh cho việc qua lại eo biển.
Iran tuyên bố sẽ tiếp tục kiểm soát việc quá cảnh qua eo biển Hormuz bằng cách cấm hoặc hạn chế các tàu thuyền của đối phương và thu phí đối với các tàu thuyền khác muốn được đi qua an toàn.
Tehran cũng cho thấy họ sẽ sẵn sàng mở cửa trở lại eo biển như một phần của một thỏa thuận đảm bảo việc chấm dứt vĩnh viễn cuộc xung đột với Mỹ và Israel, dỡ bỏ tất cả các lệnh trừng phạt cũng như phong tỏa đối với Iran.
Tin Gốc: Dân Trí

