Bộ Tài chính mới có báo cáo số 323 về tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 4 tháng năm 2026; các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Theo báo cáo, tổng kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026 đã được Thủ tướng Chính phủ giao là 1.013.443,4 tỷ đồng, bao gồm: vốn ngân sách Trung ương (NSTW) là 363.216,8 tỷ đồng và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng.
Tổng số vốn còn lại chưa phân bổ thuộc thẩm quyền của Chính phủ là 79.688,5 tỷ đồng, bao gồm: 44.810,55 tỷ đồng sẽ bố trí cho các dự án khởi công mới sau khi đã đánh giá được hiệu quả đầu tư và được giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; 25.000 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia; 9.877,96 tỷ đồng dự kiến bố trí cho các nhiệm vụ, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tổng hợp của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Kế hoạch vốn cân đối NSĐP năm 2026 các địa phương giao tăng so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (theo số liệu cập nhật đến thời điểm báo cáo) là 13.325,9 tỷ đồng.
Kế hoạch vốn các năm trước được phép kéo dài tính đến thời điểm báo cáo là 80.031,2 tỷ đồng, trong đó NSTW là 47.981,63 tỷ đồng, NSĐP là 32.049,6 tỷ đồng.
Như vậy, tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.106.800,55 tỷ đồng.
Bộ Tài chính cho biết, đến hết tháng 4/2026, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 980.550,8 tỷ đồng (bao gồm vốn NSTW là 327.321,9 tỷ đồng, vốn NSĐP là 653.228,9 tỷ đồng).
Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (13.325,9 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 967.224,93 tỷ đồng, đạt 95,44% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao.
Số vốn chưa phân bổ chi tiết là 46.218,5 tỷ đồng của 14 bộ, cơ quan trung ương và 17 địa phương (chiếm 4,56% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao).
Theo báo cáo, giải ngân từ đầu năm đến hết ngày 30/4/2026 là 144.282,9 tỷ đồng, đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Kết quả tính đến hết ngày 30/4/2026, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 8 bộ, cơ quan và 16 địa phương có tỉ lệ giải ngân đạt từ mức bình quân chung cả nước.
Bao gồm: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Bộ Tư pháp; Bộ Quốc phòng; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Ngoại giao; Bộ Công an; Hải Phòng; Hà Nội; Lai Châu; Lạng Sơn; Cà Mau; Thái Nguyên; Điện Biên; Quảng Ninh; Hà Tĩnh; Sơn La; Tuyên Quang; Gia Lai; Lào Cai; Huế; Phú Thọ; Khánh Hòa).
Bên cạnh đó, còn 27 bộ, cơ quan và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước.
Trong đó, một số bộ, cơ quan có tỉ lệ giải ngân dưới 1% và chưa giải ngân gồm: Kiểm toán Nhà nước; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam…
Để phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” theo Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục các tồn tại, hạn chế đã được nhận diện trong quá trình thực hiện các dự án, áp dụng bài học kinh nghiệm của các bộ, cơ quan và địa phương giải ngân tốt, triển khai thực hiện các giải pháp đột phá, mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
Đặc biệt, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Thông báo số 213 ngày 25/4/2026 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Trong đó, lưu ý khẩn trương thực hiện ngay một số các nhiệm vụ như sau:
Khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư, phân bổ ngay kế hoạch vốn năm 2026 đã được giao nhưng chưa phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án.
Đến hết ngày 10/5/2026, Bộ, cơ quan, địa phương nào chưa phân bổ thì yêu cầu báo cáo rõ lý do, nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân, gửi Bộ Tài chính trước ngày 15/5/2026 để tổng hợp, đề xuất báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý số vốn chưa phân bổ chi tiết theo quy định.
Báo cáo mới đây của Bộ Xây dựng cho biết, tính đến hết tháng 5, cả nước đã có 374.816 ô tô điện. Trong đó, ô tô con chiếm áp đảo với 369.849 xe (đạt 98,7%), phần còn lại là xe tải điện và xe buýt điện.
Số liệu này ghi nhận tốc độ tăng trưởng cực mạnh của xe điện bởi số liệu báo cáo hồi tháng 7 năm ngoái mới chỉ ghi nhận hơn 184.000 ô tô điện lưu hành. Nghĩa là chỉ sau khoảng 8 tháng, quy mô xe điện tại Việt Nam đã gần như tăng gấp đôi.
Sự bùng nổ này diễn ra trong bối cảnh doanh số xe xăng, dầu giai đoạn 2022 - 2025 sụt giảm mạnh 12% (từ 486.217 xe xuống còn 428.943 xe). Ngược lại, xe thuần điện ghi nhận mức tăng phi mã 628%, chiếm gần 30% thị phần xe mới vào năm 2025.
Tốc độ nhân đôi quy mô chỉ sau 8 tháng là minh chứng rõ nhất cho thấy người tiêu dùng không còn chần chừ. Làn sóng này lan tỏa mạnh mẽ ở mọi phân khúc, từ những cá nhân đổi xe lần đầu, các gia đình đô thị cho đến cuộc chuyển đổi ồ ạt mang tính sống còn của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải.
Đáng chú ý, cuộc cách mạng xanh tại Việt Nam không chỉ diễn ra ở nhóm xe 4 bánh mà còn được cộng hưởng mạnh mẽ từ thị trường xe máy điện - phương tiện di chuyển quốc dân.
Theo báo cáo ngành ô tô - xe máy Việt Nam năm 2025 dẫn nguồn từ GIZ, Kirin Capital và VinFast, số lượng xe hai bánh điện đăng ký tại Việt Nam đã tăng từ 500.000 chiếc năm 2016 đã lên hơn 2,65 triệu chiếc năm 2024, trước khi chính thức cán mốc 3 triệu chiếc vào năm 2025.
Trong 5 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã bứt phá trở thành thị trường xe máy điện lớn thứ ba toàn cầu, đồng thời là một trong những nơi có tốc độ tăng trưởng doanh số nhanh nhất thế giới với hiệu suất vượt hơn 100%.
Sự phổ cập của hơn 3 triệu xe máy điện đã tạo ra một thế hệ người tiêu dùng mới: những người đã quen với tiếng động cơ êm ái, việc sạc pin hàng ngày và tư duy bảo vệ môi trường. Không ai có thể ngờ chỉ sau vài năm, xe điện đã phủ khắp mọi ngõ ngách, trở thành 'hàng hot' được hàng triệu người Việt săn đón, đặt mua và tin dùng.
Các chuyên gia, nhận định nguyên nhân cốt lõi khiến dòng chảy xe điện tăng thần tốc như vậy nằm ở bài toán hạ tầng đã có lời giải bài bản. Việc VinFast thiết lập một hệ sinh thái toàn diện với quy hoạch 150.000 cổng sạc phủ khắp 63 tỉnh thành, từ các ngõ ngách đô thị, trung tâm thương mại đến dọc các trục quốc lộ và cao tốc, đã thay đổi hoàn toàn định nghĩa về sự tiện lợi.
Cùng với 99 siêu trạm sạc công nghệ sạc siêu nhanh và mạng lưới hơn 400 xưởng dịch vụ trên toàn quốc, rào cản lớn nhất của xe điện là nỗi lo hết pin đã bị xóa sổ. Người dùng giờ đây mua xe điện không còn vì tò mò công nghệ, mà vì họ nhìn thấy một hệ sinh thái sạc và sửa chữa hiện hữu ngay trước cửa nhà, tiện lợi không thua kém gì cây xăng truyền thống.
Trong tất cả những bài viết phân tích về sự trỗi dậy của xe điện đến từ giới chuyên gia toàn cầu, yếu tố đầu tiên được nhắc tới đó là ý thức chuyển đổi vì một môi trường xanh, bền vững.
TS Nguyễn Sơn, giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam đánh giá người tiêu dùng hiện nay, đặc biệt là người trẻ tuổi với thu nhập trung bình và cao, đã bắt đầu coi bảo vệ môi trường là một trong những động lực quan trọng khi tìm hiểu mua xe.
Điều này phù hợp với xu hướng toàn cầu hướng tới giao thông bền vững và cũng là thành quả của truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trường. Đây là yếu tố đầu tiên hình thành nên sự thay đổi đáng kể trong nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về xe điện nói chung.
Thế nhưng, sức hấp dẫn của xe điện không chỉ xuất phát từ ý thức bảo vệ môi trường, mà còn đến từ chính những tính năng ưu việt khiến người dùng loại phương tiện xanh này không muốn trở lại với xe xăng.
Anh Hoàng Minh (35 tuổi, Hà Nội), người đã chuyển từ xe xăng sang ô tô điện hơn một năm, thừa nhận chi phí vận hành chính là yếu tố thay đổi cục diện. Nếu như trước đây mỗi tháng anh tốn 3 - 4 triệu tiền xăng, thì nay tiền điện chỉ bằng 1/3. Đi kèm với đó là trải nghiệm vận hành êm ái, không mùi khí thải và ngập tràn công nghệ hỗ trợ lái. Nhiều người dùng như anh Minh đều có chung khẳng định rằng một khi đã quen với những ưu điểm của xe điện, việc quay lại sử dụng xe xăng là điều rất khó xảy ra.
Không chỉ khách hàng cá nhân, những người làm kinh doanh vận tải cũng khẳng định hiệu quả kinh tế vượt trội của xe điện. Anh Nguyễn Văn Hùng, một tài xế công nghệ tại TP.HCM, cho biết với dân chạy xe dịch vụ thì bài toán chi phí là sống còn. Xe điện không chỉ giúp anh tiết kiệm được khoản tiền lớn từ nhiên liệu mà chi phí bảo dưỡng định kỳ cũng rẻ hơn xe xăng rất nhiều vì không phải thay dầu hay lọc nhớt phức tạp. Khách hàng bây giờ cũng chuộng đi xe điện hơn vì xe rộng, mát và không có mùi xăng dầu.
Các chuyên gia khẳng định các thành quả ghi nhận cho thấy xe điện đã trở thành xu hướng tiêu dùng chủ đạo tại Việt Nam. Xu hướng trên là bảo chứng rõ ràng cho khả năng hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đi đầu về phổ cập xe điện trên thế giới trong tương lai gần.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam. Trong đó, nội dung khảo sát liên quan tới hộ kinh doanh rất đáng chú ý.
Khảo sát được VCCI thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ tháng 2 - tháng 4, thu thập phản hồi của 1.001 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
Kết quả ghi nhận nhiều lo ngại của hộ kinh doanh trong quá trình tuân thủ chính sách thuế. Cụ thể, tỷ lệ lo ngại tương đối cao đối với thủ tục phức tạp (71,2%); rủi ro bị xử phạt (68,3%); không cập nhật kịp thời (63,5%); chi phí tuân thủ cao (63,5%); thiếu kỹ năng công nghệ (59,4%); thiếu hướng dẫn cụ thể (54,9%); lo ngại mất khách hàng (41%) và phát sinh chi phí không chính thức (37,7%).
Các phân tích sâu cho thấy, lo ngại về chi phí tuân thủ cao xuất hiện ở khoảng 63 - 64% hộ kinh doanh và tăng rõ ở nhóm doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở lên. Lo ngại thiếu kỹ năng công nghệ và thiếu hướng dẫn phổ biến hơn ở nhóm chủ hộ lớn tuổi, học vấn thấp, ở vùng khó khăn.
Lo ngại về thủ tục phức tạp, không cập nhật kịp và rủi ro xử phạt đều ở mức cao, cho thấy yêu cầu quan trọng hiện nay không chỉ là duy trì kỷ cương thực thi chính sách, mà còn là làm cho hệ thống trở nên dễ hiểu, minh bạch và có tính hỗ trợ tốt hơn.
Đáng chú ý, khi được hỏi về mức đóng thuế hiện nay (thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng) so với quy mô và khả năng kinh doanh, 49,1% hộ kinh doanh được khảo sát cho rằng, mức đóng là tương đối cao; 22% cho là quá cao; 10,8% thấy phù hợp và 18% cho biết khó đánh giá.
"Kết quả này cho thấy cảm nhận về gánh nặng thuế vẫn là một nội dung cần tiếp tục được giải thích, truyền thông và hoàn thiện trong thực thi, nhằm giúp hộ kinh doanh hiểu rõ hơn căn cứ chính sách, đồng thời để cơ quan quản lý có thêm thông tin thực tiễn phục vụ điều chỉnh nếu cần thiết", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, phân tích.
Khi đi vào thực hiện nghiệp vụ thuế và kế toán, nhiều hộ kinh doanh cho biết gặp khó khăn ở các khâu khác nhau.
Tỷ lệ đánh giá ở mức khó/rất khó khá cao đối với thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử (71,2%); hạch toán chi phí được trừ (67,6%); theo dõi cập nhật chính sách (66,8%); hiểu và áp dụng quy định (63,4%); kê khai và nộp thuế (62,3%); lưu trữ sổ sách kế toán (58,4%) và lấy hóa đơn đầu vào (46,3%).
Theo kết quả khảo sát, hóa đơn điện tử là một trong những khâu đòi hỏi nhiều hỗ trợ nhất đối với hộ kinh doanh.
Tỷ lệ hộ kinh doanh đánh giá các bước liên quan đến hóa đơn điện tử ở mức khó/rất khó khá cao, gồm: không biết sửa hóa đơn sai (54,8%); xử lý lỗi kỹ thuật trong thao tác (35,3%) và thiếu thiết bị hoặc internet (31,1%). Chỉ 13,6% hộ kinh doanh cho biết, không gặp khó khăn trong quá trình thực hiện hóa đơn điện tử.
Điều này phản ánh nhu cầu rất rõ về hướng dẫn cụ thể, hỗ trợ kỹ thuật dễ tiếp cận và phương thức triển khai thân thiện hơn với những hộ có điều kiện công nghệ còn hạn chế.
Theo VCCI, thời gian tới cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Ngoài ra, cần phát triển các công cụ hỗ trợ tuân thủ chi phí thấp và dễ sử dụng, như phần mềm kế toán đơn giản, hướng dẫn kê khai theo ngôn ngữ dễ hiểu và cơ chế hỗ trợ trực tiếp tại địa phương, thay vì giả định rằng đa số hộ kinh doanh có thể tự hấp thụ các quy định mới mà không cần trung gian hỗ trợ.
Ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh không nên dàn đều mà cần xác định rõ các nhóm ưu tiên.
Nhóm hộ phụ thuộc hoàn toàn vào hộ kinh doanh như nguồn sinh kế cần được ưu tiên trong các chính sách giảm sốc và tăng sức chống chịu; nhóm siêu nhỏ và dễ tổn thương cần được hỗ trợ về tuân thủ và quản trị cơ bản.
Nhóm có quy mô lớn hơn, khách hàng B2B (doanh nghiệp, tổ chức..., không phải người tiêu dùng cá nhân), hoặc nhu cầu ký kết hợp đồng và huy động vốn rõ hơn nên là đối tượng trọng tâm của các chương trình thúc đẩy chuyển đổi lên doanh nghiệp.
"Cách tiếp cận phân tầng như vậy sẽ hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế chính sách bình quân áp dụng cho toàn bộ khu vực hộ kinh doanh", ông Tuấn nói.
Theo CTCK SHS, VN-Index có thời điểm giảm mạnh về vùng 1.757 điểm trong phiên. Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu Vingroup, vốn hóa toàn thị trường chỉ còn khoảng 300 tỷ USD, trong khi mức định giá P/E vào khoảng 10,7 lần - tương đương vùng định giá từng xuất hiện trong các giai đoạn khủng hoảng trước đây.
Nhiều cổ phiếu cũng đã lùi về vùng giá hấp dẫn cho đầu tư trung và dài hạn. SHS cho rằng khi áp lực bán ngắn hạn và áp lực giải chấp dần hạ nhiệt, thị trường có thể phục hồi dựa trên triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà đầu tư kiểm soát tốt rủi ro có thể cân nhắc chọn lọc các doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt và triển vọng tăng trưởng.
CTCK TPS đánh giá VN-Index tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh trong phiên sáng 16/7 khi lùi về kiểm định vùng hỗ trợ 1.780 điểm, cũng là khu vực hội tụ của đường trung bình động MA200. Tuy nhiên, lực cầu gia tăng mạnh trong phiên chiều đã giúp chỉ số đảo chiều và đóng cửa trong sắc xanh.
Thanh khoản khớp lệnh tăng vượt mức bình quân 20 phiên cho thấy dòng tiền tham gia tích cực hơn. Theo TPS, việc chỉ số tiếp tục giữ vững vùng hỗ trợ 1.780-1.800 điểm và hình thành phiên hồi phục với thanh khoản cải thiện đã củng cố tín hiệu đảo chiều ngắn hạn, đồng thời cho thấy xu hướng tăng trong trung và dài hạn vẫn được duy trì.
Công ty chứng khoán này tiếp tục duy trì quan điểm tích cực với triển vọng thị trường. Ngoài ra, mức P/E hiện khoảng 13,7 lần, thấp hơn mức trung bình 10 năm là 15,3 lần, cho thấy định giá thị trường vẫn ở vùng tương đối hấp dẫn trong trung và dài hạn.
Theo CTCK VCBS, VN-Index kết phiên tăng điểm nhờ sự hỗ trợ của nhóm cổ phiếu Vingroup và lực cầu quay trở lại ở nhóm ngân hàng. Trên đồ thị ngày, chỉ số giằng co quanh vùng 1.760-1.770 điểm trước khi tăng mạnh trong khoảng 30 phút cuối phiên để lấy lại mốc 1.800 điểm.
Chỉ báo dòng tiền CMF đã đảo chiều đi lên, phản ánh lực mua chủ động đang dần quay trở lại. VCBS kỳ vọng VN-Index có thể tiếp tục hồi phục trong những phiên tới, với vùng kháng cự gần nằm quanh đường MA20, tương ứng khu vực 1.840-1.850 điểm.
Tuy vậy, công ty chứng khoán cũng lưu ý dòng tiền vẫn phân hóa mạnh, chủ yếu tập trung ở nhóm vốn hóa lớn và một số cổ phiếu vốn hóa vừa và nhỏ. Nhà đầu tư có thể cân nhắc giải ngân vào những cổ phiếu đang thu hút dòng tiền và còn dư địa tăng giá so với đỉnh gần nhất, trong đó đáng chú ý là các nhóm ngân hàng, bất động sản và chứng khoán.
BWE: Công ty TNHH Thương mại N.T.P, tổ chức liên quan đến ông Nguyễn Thanh Phong - Thành viên HĐQT, đăng ký mua 995.000 cổ phiếu BWE trong thời gian từ 21/7 đến 19/8 theo phương thức thỏa thuận. Nếu hoàn tất giao dịch, đơn vị này sẽ nâng tỉ lệ sở hữu lên 0,455% vốn điều lệ.
HKT: CTCP QP Holdings thông qua kế hoạch đầu tư hơn 234 tỷ đồng để sở hữu 93,16% vốn điều lệ tại Công ty TNHH Bất động sản Thủ Dầu Một.
RYG: CTCP Sản xuất và Đầu tư Hoàng Gia (Royal Invest JSC) dự kiến chào bán 22,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo tỉ lệ 50%, giá chào bán 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó huy động khoảng 225 tỷ đồng. Đợt phát hành dự kiến triển khai trong quý III-IV/2026, sau khi được cơ quan quản lý chấp thuận. Toàn bộ số tiền thu được sẽ được sử dụng để thanh toán các khoản vay ngân hàng.
VNS: Công ty TNHH Tư vấn Kim Ngưu, tổ chức liên quan đến thành viên HĐQT Đặng Tiến Sỹ, đăng ký bán toàn bộ hơn 2,51 triệu cổ phiếu VNS, tương đương 3,7% vốn điều lệ, trong thời gian từ 21/7 đến 18/8 bằng phương thức khớp lệnh và/hoặc thỏa thuận.
DMX: CTCP Đầu tư Điện Máy Xanh đã nộp hồ sơ niêm yết gần 1,27 tỷ cổ phiếu trên HOSE. Với giá IPO 80.000 đồng/cổ phiếu, doanh nghiệp ước đạt vốn hóa hơn 101.400 tỷ đồng, xấp xỉ quy mô vốn hóa của công ty mẹ là CTCP Đầu tư Thế giới Di động theo thị giá ngày 15/7.