“Bất ngờ” – nhiều giáo viên, phụ huynh và học sinh lớp 9 đã cho biết như thế sau khi xem số liệu thí sinh đăng ký vào lớp 10 năm 2026 ở TP.HCM do Sở GD-ĐT công bố ngày 4-5.
“Đã dự đoán tỉ lệ chọi vào lớp 10 công lập năm nay sẽ rất cao vì số lượng học sinh lớp 9 tăng hơn 40.000 em so với năm trước, tôi vẫn không ngờ nhiều trường THPT có số lượng thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 nhiều như vậy” – bà Ngô Mai Hòa Trang, phụ huynh ở phường Bến Thành, TP.HCM, chia sẻ.
Theo số liệu từ Sở GD-ĐT TP.HCM, ba trường THPT có tỉ lệ chọi vào lớp 10 cao nhất TP đều thuộc về những trường ở khu vực 1 (TP.HCM cũ).
Trong đó Trường THPT Bùi Thị Xuân có tỉ lệ chọi cao nhất với 1.787 học sinh đăng ký nguyện vọng 1, trong khi chỉ tiêu vào lớp 10 thường chỉ có 630 học sinh. Tính ra là 1 chọi 2,84.
Kế đó là Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa chỉ tiêu 360/1.004 học sinh dự tuyển, 1 chọi 2,79. Trường THPT Thủ Đức chỉ tiêu 900/2.312 học sinh dự tuyển, 1 chọi 2,57.
Những trường có tỉ lệ chọi cao (1 chọi trên 2) là Lê Trọng Tấn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hữu Huân, Phú Nhuận, Lương Thế Vinh, Phạm Văn Sáng, Vĩnh Lộc, Trần Phú, Thạnh Lộc, Gia Định, Tây Thạnh, Nguyễn Thượng Hiền… (khu vực 1); Dĩ An, Trịnh Hoài Đức, Trần Văn Ơn, Bến Cát…(khu vực 2 – Bình Dương cũ)…
Như vậy không chỉ những trường top đầu có tỉ lệ chọi cao mà cả những trường thuộc top giữa có số lượng học sinh đăng ký nguyện vọng 1 rất đông. Không chỉ ở những khu vực có số dân cơ học tăng cao như quận 12, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức (cũ) mà ngay cả những khu vực tỉ lệ người dân nhập cư thấp, tỉ lệ chọi cũng rất cao.
Như các trường ở quận 1, quận 6, quận Phú Nhuận (cũ) có số học sinh dự tuyển đông. Điều này một phần là do chất lượng giáo dục của những trường ở khu vực này ngày càng tăng lên. Mặt khác, nhiều học sinh ở các quận khác nhưng đăng ký sang trường THPT ở vùng giáp ranh.
Thêm một điều bất ngờ nữa trong mùa tuyển sinh lớp 10 năm nay là rất nhiều trường THPT có số học sinh đăng ký ít hơn so với chỉ tiêu tuyển sinh. Thậm chí có trường số thí sinh chỉ bằng 1/5 so với chỉ tiêu.
Như ở khu vực 1 có các trường THPT Nguyễn Văn Linh có chỉ tiêu 675/121 học sinh dự tuyển; Trần Hữu Trang chỉ tiêu 540/dự tuyển 159; Nguyễn Văn Tăng chỉ tiêu 1.125/ dự tuyển 286; Long Trường chỉ tiêu 720/ dự tuyển 266; Ngô Gia Tự chỉ tiêu 765/ dự tuyển 200; Lê Thị Hồng Gấm chỉ tiêu 495/ dự tuyển 150; Phong Phú chỉ tiêu 855/ dự tuyển 298; Sương Nguyệt Anh chỉ tiêu 450/ dự tuyển 149; Diên Hồng chỉ tiêu 450/ dự tuyển 228…
Ở khu vực 2 có các trường THCS-THPT Nguyễn Huệ chỉ tiêu 450/ dự tuyển 246; THCS-THPT Tây Sơn chỉ tiêu 450/ dự tuyển 265… Ở khu vực 3 (Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) có trường THPT: Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ tiêu 585/ dự tuyển 469; Bưng Riềng chỉ tiêu 450/ dự tuyển 398…
Chiều 4-5, sau khi xem số liệu thí sinh đăng ký dự tuyển vào lớp 10 ở TP.HCM, rất nhiều phụ huynh đã thắc mắc với Tuổi Trẻ: với những trường có số thí sinh thấp hơn chỉ tiêu tuyển như trên thì có chắc chắn đậu 100% không?
Một lãnh đạo Sở GD-ĐT giải thích: “Số liệu mà chúng tôi công bố mới chỉ là số thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 vào các trường. Theo quy định thì học sinh lớp 9 được đăng ký tất cả ba nguyện vọng vào lớp 10 thường và hầu hết các em đều chọn cả ba nguyện vọng chứ không bỏ nguyện vọng nào. Những trường có số thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 thấp hơn so với chỉ tiêu hầu hết là những trường được học sinh chọn đăng ký nguyện vọng 2, 3 rất đông.
Bên cạnh đó trong quá trình xét điểm chuẩn, sở sẽ tính toán sao cho số lượng học sinh đậu nguyện vọng 1, 2, 3 ở mức độ phù hợp, điểm chuẩn nguyện vọng 1 và 2, 2 và 3 không quá cách xa nhau. Vì vậy dù cho chỉ tiêu cao hơn số học sinh đăng ký nguyện vọng 1 thì cũng không chắc tất cả học sinh đăng ký nguyện vọng 1 đều thi đậu.
Điều quan trọng là năng lực học tập và kết quả bài làm của thí sinh. Nguyên tắc khi xét điểm chuẩn là xét từ trên xuống cho đến khi đủ chỉ tiêu” – lãnh đạo sở cho hay.
Đến thời điểm này, các học sinh lớp 9 ở TP.HCM đã có tất cả tài liệu để tham khảo trước khi quyết định thay đổi nguyện vọng vào lớp 10.
Theo cô Nguyễn Minh Hà – giáo viên chủ nhiệm lớp 9 ở khu vực 1, phụ huynh học sinh cần tham khảo những tài liệu sau: điểm chuẩn vào lớp 10 ở TP.HCM trong ba năm gần nhất, tỉ lệ chọi vào lớp 10 năm nay, điểm thi cuối học kỳ 2 của bản thân học sinh ở lớp 9.
“Tôi cho rằng yếu tố quyết định có thay đổi nguyện vọng hay không phụ thuộc vào căn cứ chính, đó là lực học của học sinh. Nếu học sinh học tốt, nhiều năm liền có điểm ba môn toán, văn, tiếng Anh đạt loại xuất sắc thì hãy tự tin đăng ký vào Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa hoặc THPT Bùi Thị Xuân hay bất cứ một trường top đầu khác.
Các em đừng bỏ lỡ cơ hội thể hiện bản thân và tranh tài để được vào học ở trường top. Nhưng nếu học sinh có học lực chỉ ở mức khá hoặc khá – giỏi thì nên cân nhắc để chọn trường vừa sức, không nên chọn trường top đầu” – cô Hà phân tích.
Tương tự, cô Nguyễn Thị Thanh Mai – giáo viên môn văn ở khu vực 1 – đúc kết: “Hơn 10 năm tư vấn và theo dõi tình hình tuyển sinh lớp 10 ở TP.HCM, tôi đã rút ra kinh nghiệm là đừng chọn nguyện vọng dựa vào tỉ lệ chọi của các trường, chưa kể đây mới là tỉ lệ chọi của nguyện vọng 1. Do đó nếu dựa vào căn cứ này rất dễ lâm vào tình trạng “sai 1 li, đi 1 dặm”.
Có năm học trò của tôi thấy trường X có số thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 thấp, xem tỉ lệ chọi thì thấy trường X rất dễ thở. Thế là các em ào ào đổi nguyện vọng sang trường X. Ở các trường lân cận với trường chúng tôi cũng có tình trạng tương tự.
Cuối cùng thì điểm chuẩn của trường X năm đó tăng cao đến hơn 2 điểm. Và học trò của tôi có nhiều em bị rớt nguyện vọng 1, phải ngậm ngùi sang học ở trường nguyện vọng 2″.
Cô Mai khẳng định: “Yếu tố quan trọng nhất vẫn là lực học của học sinh. Hơn ai hết, bản thân học sinh và giáo viên ba môn toán, văn, tiếng Anh sẽ nắm rõ học sinh nên chọn trường THPT nào là phù hợp”.
Đó là những ý kiến của các chuyên gia tại tọa đàm "Chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ 5 tuổi bước vào lớp 1" do Hệ thống giáo dục mầm non Wisdomland World School (Khu vườn trí tuệ) tổ chức vào sáng nay (23.5), tại Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM, phường Xuân Hòa, TP.HCM.
Nghiên cứu sinh, thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Nuôi, giảng viên Khoa Giáo dục mầm non, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, cho biết vấn đề thường gặp ở nhiều trẻ sắp vào lớp 1 đó là thiếu kỹ năng tự phục vụ.
Nếu như ở trường mầm non, các trẻ đã quen với việc được các cô giáo hỗ trợ chăm sóc từ bữa ăn, giấc ngủ tới mọi việc học tập, trải nghiệm ở trường thì khi vào lớp 1, các em phải thể hiện năng lực tự lập, tự phục vụ trong nhiều hoạt động ở trường hơn. Để bắt nhịp, cha mẹ cần khuyến khích con cùng làm việc nhà, nhờ con "trợ giúp" một số việc nhẹ nhàng khi dọn dẹp, nấu nướng, để con tăng cường kỹ năng tự phục vụ.
Một vấn đề thường gặp khác ở trẻ vào lớp 1, đó là thiếu kỹ năng bày tỏ cảm xúc. Nhiều bé khó bày tỏ mong muốn kết nối với bạn bè để cùng học cùng chơi, khó khăn khi chia sẻ vấn đề, nhờ người lớn hỗ trợ... Những điều này khiến trẻ chưa cảm nhận được niềm vui khi đến trường tiểu học.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Nuôi cũng chỉ ra một hiện tượng, nhiều trẻ vào lớp 1 chưa quen với việc tập trung học tập. Khi ở môi trường mầm non, các trẻ học thông qua chơi, các hoạt động giáo dục thường ngắn, các con được thoải mái chạy nhảy, nô đùa. Nhưng khi vào lớp 1, các trẻ cần tập trung trong mỗi tiết học kéo dài 35 phút, các trẻ cũng cần chú ý giữ gìn trật tự, kỷ luật.
Cô Nuôi cho rằng cùng với nhà trường, cha mẹ, ông bà là những người đồng hành cùng con vào lớp 1 vững vàng. Trên trường mầm non, trẻ lớp lá đã được các thầy cô giáo rèn về sự tự lập, kỹ năng cầm bút đúng cách, sự tập trung. Về nhà, ông bà cha mẹ có thể cùng con đọc sách, kèm thêm cho con cách ngồi đúng tư thế, rèn khả năng ngồi tập trung ở bàn học mỗi ngày trong một khoảng thời gian nhất định, kèm thêm cho con cách diễn đạt ngôn ngữ, cách bày tỏ cảm xúc, kết nối với mọi người xung quanh... Đó là những cơ sở vững vàng để con tự tin vào lớp 1.
Tiến sĩ xã hội học Phạm Thị Thúy, thạc sĩ tâm lý trị liệu, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở TP.HCM, cho biết không phải đợi đến mùa hè năm trẻ 5 tuổi thì phụ huynh mới chuẩn bị cho con vào lớp 1. Quá trình này là một hành trình dài, ngay từ những năm tháng đầu đời của trẻ.
Bà Thúy nhắc đến từ khóa "nội lực vững vàng", bởi trong thời đại VUCA (thuật ngữ mô tả thế giới hiện đại đầy biến động, khó đoán trước. VUCA là viết tắt của 4 từ tiếng Anh: V - Volatility (biến động), U - Uncertainty (bất định), C - Complexity (phức tạp), A - Ambiguity (mơ hồ)), nơi mà tương lai của trẻ rộng mở nhưng không ngừng biến động, thì sự học hỏi phải suốt đời. Mỗi trẻ em cần phải được chuẩn bị kỹ 3 chữ "lực", đó thể lực; trí lực; tâm lực.
Bà Thúy cũng nhắc tới 3 từ "không", mà cha mẹ cần dạy cho con, không chỉ trong hành trình con sắp vào lớp 1, mà điều này cần đi theo suốt cuộc đời con. Đó là con có thể làm những gì con thấy phù hợp, nhưng phải là không gây hại cho mình; không gây hại cho người khác và không gây hại cho môi trường, thiên nhiên, xã hội.
Đáng chú ý, bà Thúy nhắc đến 5 từ "yêu", cha mẹ cần dạy cho con. Biết yêu chính mình; biết yêu gia đình; yêu đất nước, sống có lý tưởng, khát vọng; yêu nhân loại, thế giới xung quanh; biết yêu muôn loài, thiên nhiên, môi trường sống quanh con...
Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Lâm Thư, Giám đốc trải nghiệm học tập Hệ thống giáo dục mầm non Wisdomland World School, Tổng hiệu trưởng cơ sở Imperia, phường Bình Trưng, TP.HCM, cho rằng cần thay đổi quan niệm rằng chỉ chuẩn bị kiến thức toán, tiếng Việt cho con để vào lớp 1 là đủ.
Cô Thư đặc biệt nhấn mạnh tới sự kết nối giữa cha mẹ - con cái trong bối cảnh cuộc sống bận bịu ngày nay. Đó có thể là những câu hỏi mở như "điều gì con vui nhất ở trường hôm nay?", hay những cái ôm, cái nhìn đầy khích lệ, động viên của cha, mẹ. Đó là điều mà trí tuệ nhân tạo (AI) không thể thay thế.
"Chuẩn bị vào lớp 1 không phải là mua cho con một cái cặp mới, hộp bút mới, điều quan trọng nhất là sự chuẩn bị tâm thế mới. Trẻ cần được trao sự tự tin, tự lập, biết tự chăm sóc mình, biết tư duy độc lập, có tình yêu thương với bản thân và biết bảo vệ bản thân, có sự kết nối với những người xung quanh bằng trái tim yêu thương", cô Thư nói.
Ngày 3.4, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư phối hợp với Bộ GD-ĐT, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo quốc gia: "Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục".
Chia sẻ tại hội thảo, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH FPT, cho hay ở trường ông yêu cầu về tiếng Anh không phải là chuẩn đầu ra mà là chuẩn đầu vào. Sau khi trúng tuyển, em nào không đạt yêu cầu về tiếng Anh sẽ được tham gia một khóa học trước khi học chuyên ngành. Nhấn mạnh "tiếng Anh là công cụ, không phải là một môn học, bởi nếu là môn học thì mãi mãi nó chỉ là môn học", ông Tùng cho biết phần lớn chương trình đào tạo, thi cử… trong trường là bằng tiếng Anh.
Theo ông Tùng, để tiếng Anh như một công cụ, trách nhiệm lớn thuộc về các trường phổ thông. Sở dĩ hiện nay trường đại học (ĐH) phải dạy dự bị tiếng Anh cho sinh viên mới nhập học vì trường phổ thông chưa làm tốt việc đó, trường ĐH phải làm thay.
Ông Tùng đề nghị Bộ GD-ĐT cần cho phép trường phổ thông được sử dụng sách giáo khoa toán và các môn khoa học tự nhiên của nước ngoài, thay thế cho sách giáo khoa trong nước để nhà trường có thể dạy các môn này bằng tiếng Anh.
Đồng tình với ý kiến phải coi tiếng Anh là công cụ chứ không phải môn học, ông Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội), cũng cho hay: "Chừng nào còn là môn học thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai còn xa vời lắm. Nó phải là công cụ", ông Tuấn Minh dẫn ví dụ một trong số ít trường ĐH đang có sự chuyển biến tích cực trong việc tuyên bố tiếng Anh không phải là ngoại ngữ mà là một ngôn ngữ là ĐH Kinh tế quốc dân. Tiếng Anh xuất hiện trong giáo trình đào tạo, trong các văn bản hành chính và giao tiếp, làm việc tự nhiên hằng ngày ở ĐH này.
Tiếp lời, ông Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết dù trường có khoảng 50 - 60% chương trình đào tạo thuần túy bằng tiếng Anh nhưng cách tiếp cận không chỉ coi đây là công cụ trong hoạt động chuyên môn mà trong các hoạt động khác của trường.
Việc tuyển dụng giảng viên, theo ông Đức, cũng chia 2 mảng, trong đó yêu cầu phải có chứng chỉ tiếng Anh đủ để sử dụng trong công việc, ưu tiên những người tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo quốc tế. Việc tuyển dụng nhóm hành chính cũng tương tự, nhóm tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, giảng viên, sinh viên thì yêu cầu phải sử dụng được tiếng Anh trong soạn thảo văn bản, giao tiếp…
Ông Đức cũng cho biết mới đây ĐH này đã tiến hành khảo sát trình độ tiếng Anh của đội ngũ trong toàn trường để đánh giá lại và có những kế hoạch tiếp theo cho việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Về hạ tầng, tất cả các bảng chỉ dẫn trong trường đều trình bày ở dạng song ngữ…
Ông Lê Anh Đức cho rằng Nhà nước cần có chính sách cụ thể, bởi nếu các ĐH chỉ ưu tiên sinh viên đầu vào có năng lực tiếng Anh tốt thì các em đến từ địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ bất lợi, có thể giảm cơ hội vào trường tốt của các em. Do vậy, nếu có chính sách chung của Nhà nước thì các nhà trường sẽ tổ chức một khóa dự bị về tiếng Anh cho sinh viên ở những địa bàn khó khăn khi các em mới vào trường, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho các em
Đại diện Trường ĐH Sư phạm Hà Nội chia sẻ đã bổ sung 15 tín chỉ tiếng Anh dành cho sinh viên mới vào trường. Nhà trường cũng đã có các tài liệu chuẩn bị cho việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông dạy một số môn (khoa học tự nhiên) bằng tiếng Anh trên toàn quốc.
Tham luận tại hội thảo, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng khó khăn lớn nhất là định kiến sai lầm của xã hội về tiếng Anh và ngôn ngữ Anh như một công cụ hay một điểm thi quốc tế.
Nhóm cũng nêu đề nghị VN cần đưa ra một định nghĩa chính thức "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" là gì và phân biệt với việc chỉ học thêm một ngoại ngữ.
Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long cũng cho rằng cần đào tạo đội ngũ giáo viên (GV) có đủ năng lực giảng dạy song ngữ một cách bài bản. Đối với việc giảng dạy những môn học vốn đang được dạy bằng tiếng Việt hoặc những môn đại cương, cần rà soát khẩn trương khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh của đội ngũ GV hiện có, kể cả với các GV có chứng chỉ ngoại ngữ. Vì việc biết một thứ tiếng không thể đảm bảo rằng GV có đủ khả năng giảng dạy chuyên môn của mình bằng thứ tiếng đó.
Khi đã hoàn tất quy trình rà soát, ngành giáo dục có thể đặt hàng các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành hoặc giảng dạy bằng tiếng Anh chuyên ngành ở các cơ sở giáo dục ĐH để vừa nâng cao trình độ ngôn ngữ vừa đảm bảo kỹ năng giảng dạy cho GV.
Ông Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cũng thông tin trong các nhóm khó khăn thì đội ngũ giảng viên cũng là một yếu tố cản trở. Khả năng thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực ngoại ngữ xuất sắc còn hạn chế tại nhiều trường do cạnh tranh từ các cơ sở đào tạo khác hoặc khu vực tư nhân.
Cạnh đó, vấn đề cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính là khó khăn phổ biến của nhiều trường. Môi trường học tập và cơ hội thực hành tiếng Anh còn hạn chế. Thiếu môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên và tự nhiên ngoài giờ lên lớp, đặc biệt tại những trường ở các tỉnh, vùng xa trung tâm, làm giảm cơ hội thực hành và duy trì động lực học tập của sinh viên…
Ông Vũ Thanh Mai, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, khẳng định vai trò người thầy là quan trọng nhất trong việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của đội ngũ GV, giảng viên phải được ưu tiên hàng đầu.
Bà Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (Bộ GD-ĐT), nêu: "Việc triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục ĐH cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống giáo dục ĐH VN. Đối với nhóm các ĐH nghiên cứu và trường trọng điểm, mục tiêu là từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ và tiến tới triển khai rộng rãi các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI) ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị. Các cơ sở này cần đi đầu trong việc phát triển chương trình đào tạo song ngữ, trong đó từ 30% đến 70% học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, đồng thời mở rộng các chương trình EMI hoàn toàn với tỷ lệ học phần bằng tiếng Anh (trừ các nội dung bắt buộc triển khai bằng tiếng Việt)".