Ngày 5-5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,6 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất (tăng 52%) và giảm duy nhất ở thị trường Mỹ (giảm 7%).
Điều này khiến Mỹ rơi xuống vị trí thứ ba (13% thị phần), còn Nhật vươn lên thứ hai (gần 14% thị phần), trong khi Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí dẫn đầu với gần 27% thị phần.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kết quả xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 3,6 tỉ USD cho thấy ngành thủy sản có khởi đầu tích cực, nhất là ở các nhóm hàng tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.
Tuy nhiên tăng trưởng chưa đồng đều giữa các sản phẩm và thị trường. Một số thị trường lớn như Mỹ, EU phục hồi chậm, trong khi Trung Quốc và Hong Kong tăng mạnh nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
“Nhìn chung xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm nay tích cực nhưng chưa thật sự bền vững. Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, đặc biệt là từ tháng 4, do tác động của chi phí logistics, cạnh tranh giá, rào cản kỹ thuật, chính sách thuế và các yêu cầu mới về chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm” – VASEP đánh giá.
Phân tích về các thị trường trong 4 tháng đầu năm, VASEP cho biết Trung Quốc và Hong Kong là điểm sáng lớn nhất với doanh số hơn 1 tỉ USD, tăng 52%, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của toàn ngành.
Trung Quốc và Hong Kong đang tăng nhập tôm hùm, cá tra, cua, sò, nghêu, ốc hương… từ nước ta, song thị trường 1,4 tỉ dân này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc, đăng ký doanh nghiệp và mã số vùng nuôi.
Do đó tăng trưởng tại thị trường này cần được củng cố bằng phương thức xuất khẩu chuyên nghiệp, chính ngạch và bền vững hơn.
Đối với thị trường Mỹ, VASEP cho biết nguyên nhân sụt giảm chủ yếu được các doanh nghiệp nhận định do tác động của việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp đối với tôm, cấm nhập 12 nhóm loài thủy sản Việt (Đạo luật Bảo vệ thú biển) và yêu cầu cấp giấy COA cho những loài có thể xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm nay.
Cùng với đó, Mỹ đang siết truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm, chính sách thuế quan và tâm lý mua hàng thận trọng trong bối cảnh thị trường biến động.
VASEP đánh giá thị trường Mỹ vẫn còn nhiều dư địa, nhưng cũng là thị trường rủi ro chính sách cao, đòi hỏi sự phối hợp, hỗ trợ thường xuyên giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, luật sư và doanh nghiệp để xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại, chương trình tương đương và yêu cầu kỹ thuật mới.
Trong khi đó, Nhật Bản tiếp tục là thị trường ổn định đối với tôm chế biến giá trị gia tăng, mực, bạch tuộc, cá biển, nhuyễn thể và sản phẩm tiện lợi. Còn Hàn Quốc là thị trường quan trọng của mực, bạch tuộc, chả cá, surimi và tôm.
Đối với thị trường châu Âu (EU), VASEP nhận định dù có nhiều lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU nhưng xuất khẩu chưa có sự bứt phá, chỉ tăng khoảng 3% và thu về khoảng 452 triệu USD trong 4 tháng.
Trên cơ sở kết quả 4 tháng đầu năm, năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và diễn biến thị trường quốc tế, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt kim ngạch trên 12 tỉ USD, tăng trưởng khoảng 8-10%.
Kịch bản này có thể đạt được nếu Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục tăng nhập. Cùng với đó, mặt hàng cá tra giữ được lợi thế ở các thị trường, còn tôm cải thiện khả năng cạnh tranh về giá thành và sản phẩm chế biến.
Các nhóm hải sản khai thác biển được tháo gỡ bất cập, vướng mắc về IUU, giấy COA, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất, và chi phí logistics không tăng đột biến.
“Ngược lại, nếu các vướng mắc về thủ tục, chứng nhận, nguyên liệu, chi phí tuân thủ, phòng vệ thương mại và logistics kéo dài, tăng trưởng xuất khẩu có thể chậm lại trong nửa cuối năm, nhất là ở các nhóm tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và hải sản khai thác” – VASEP nhận định.
Thông tin từ Bộ Công Thương cho biết cơ quan này vừa ban hành quyết định thu hồi Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu của Công ty cổ phần Thương mại Dầu khí Cửu Long và Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Dịch vụ Hoàng Hà theo đề nghị của chính các doanh nghiệp.
Cụ thể, tại Quyết định 1297 ngày 29/5, Bộ Công Thương thu hồi Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu cấp cho Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Dịch vụ Hoàng Hà ngày 23/8/2024, có hiệu lực đến hết ngày 23/8/2029.
Doanh nghiệp có trụ sở tại Lô T03-VP02, số 35 phố Lê Văn Thiêm, phường Thanh Xuân, TP Hà Nội. Việc thu hồi được thực hiện trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp tại văn bản gửi Bộ Công Thương ngày 15/5.
Cùng ngày, Bộ Công Thương cũng ban hành Quyết định 1296 thu hồi Giấy xác nhận đủ điều kiện làm thương nhân phân phối xăng dầu cấp cho Công ty cổ phần Thương mại Dầu khí Cửu Long ngày 17/1/2025, có giá trị đến hết ngày 17/1/2030.
Công ty cổ phần Thương mại Dầu khí Cửu Long có trụ sở tại phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long. Quyết định thu hồi được ban hành căn cứ đề nghị của doanh nghiệp và đề xuất của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước.
Bộ Công Thương giao Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện. Hai quyết định đều có hiệu lực kể từ ngày ký.
Mở cửa phiên giao dịch ngày 15/5, giá giao dịch vàng miếng SJC tại các thương hiệu lớn là 161-164 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với giá đóng cửa phiên hôm qua.
Giá vàng trong nước giảm cùng chiều với diễn biến quốc tế. Giá vàng thế giới sáng nay tiếp tục giảm 33 USD, xuống 4.617 USD/ounce. Theo tỷ giá chưa tính thuế, phí, giá vàng thế giới tương đương khoảng 148 triệu đồng/lượng.
Giá vàng giảm trong bối cảnh giới đầu tư cân nhắc giữa các tín hiệu lạm phát còn dai dẳng, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ duy trì quanh vùng 4,4% và tình hình mong manh liên quan đến Iran và eo biển Hormuz.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng việc thiếu hụt nguồn cung đang làm cạn kiệt tồn kho dầu toàn cầu với tốc độ kỷ lục. Yếu tố này tiếp tục hỗ trợ giá vàng thông qua nhu cầu trú ẩn an toàn.
Bộ Lao động Mỹ cho biết số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc ngày 9/5 đạt 211.000 đơn (đã điều chỉnh theo mùa), cao hơn mức dự báo 205.000 đơn. Trong khi đó, dữ liệu của tuần trước được điều chỉnh giảm còn 199.000 đơn từ mức công bố ban đầu là 200.000 đơn.
Bình quân số đơn trong 4 tuần gần nhất ở mức 203.750 đơn, gần tương đương kỳ vọng 203.500 đơn của thị trường. Số người tiếp tục nhận trợ cấp thất nghiệp trong tuần kết thúc ngày 2/5 đạt 1,782 triệu người, thấp hơn nhẹ so với dự báo 1,79 triệu người.
Thị trường vàng hiện vẫn trong trạng thái tích lũy quanh ngưỡng tâm lý 4.700 USD/ounce, phản ánh tín hiệu tiêu dùng tại Mỹ đang có dấu hiệu chậm lại đúng như dự báo trước đó.
Theo Bộ Thương mại Mỹ, doanh số bán lẻ tháng 4 tăng 0,5% sau khi tăng 1,6% trong tháng 3 (số liệu đã điều chỉnh). So với cùng kỳ năm ngoái, doanh số bán lẻ tăng 4,9%, phù hợp với dự báo của giới phân tích.
Giá vàng thời gian qua chịu áp lực từ kỳ vọng chính sách tiền tệ duy trì trạng thái thắt chặt. Tuy nhiên, tâm lý thị trường đang dần thay đổi khi nhà đầu tư cho rằng dư địa để Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì chính sách quá cứng rắn có thể không còn nhiều. Việc lãi suất neo cao trong bối cảnh lạm phát vẫn dai dẳng có nguy cơ làm giảm lợi suất thực, qua đó tạo yếu tố hỗ trợ cho vàng.
Ở khía cạnh địa chính trị, eo biển Hormuz tiếp tục được xem là điểm nóng liên quan đến rủi ro nguồn cung năng lượng sau hơn hai tháng căng thẳng xoay quanh Iran. Những cảnh báo về khả năng suy giảm dự trữ dầu toàn cầu đang duy trì nhu cầu trú ẩn đối với vàng, dù đồng thời cũng có thể gây áp lực lên kim loại quý này thông qua kỳ vọng lạm phát và lợi suất gia tăng.
Dù vàng đang chịu nhiều lực cản ngắn hạn, một số tổ chức tài chính lớn vẫn giữ quan điểm tích cực về triển vọng dài hạn. Goldman Sachs dự báo giá vàng có thể lên đến 5.400 USD/ounce vào cuối năm nay, còn JPMorgan kỳ vọng kim loại quý có thể đạt mốc 6.300 USD/ounce nhờ nhu cầu mua vào ổn định từ các ngân hàng trung ương và xu hướng đa dạng hóa dự trữ ngoại hối.
Bà Ewa Manthey, chiến lược gia hàng hóa tại ING, mức giảm khoảng 12% của giá vàng kể từ khi xung đột liên quan đến Iran bùng phát chủ yếu phản ánh tác động kinh tế vĩ mô xuất phát từ cú sốc giá dầu.
Bà Manthey nhận định Fed đã giữ nguyên lãi suất trong tháng 4 với lập trường thận trọng, trong bối cảnh lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại kể từ khi căng thẳng leo thang. Diễn biến này khiến khả năng Fed sớm cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn trở nên kém rõ ràng hơn.
Theo chuyên gia của ING, lợi suất thực cùng sức mạnh của đồng USD tiếp tục là những yếu tố cản trở đà phục hồi của giá vàng. Bên cạnh đó, các số liệu tích cực từ thị trường lao động Mỹ cũng cho thấy Fed chưa chịu nhiều áp lực để nhanh chóng chuyển sang chính sách nới lỏng tiền tệ.
ING hiện vẫn giữ quan điểm tích cực với thị trường vàng và dự báo giá kim loại quý này có thể lên mốc 5.000 USD/ounce vào cuối năm, với điều kiện lạm phát dần hạ nhiệt và Fed bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất trong nửa cuối năm nay.
Ý kiến được đại diện các hiệp hội, nhà đầu tư đưa ra tại tọa đàm Bảo đảm năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP HCM do báo Người lao động phối hợp Tổng công ty điện lực TP HCM (EVNHCM) tổ chức, ngày 5/5.
Ông Phan Thanh Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP HCM, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ hay chi phí thiết bị - vốn đã giảm mạnh những năm gần đây - mà ở cơ chế thị trường, đặc biệt là mức giá mua điện dư quá thấp, chưa tạo được động lực tài chính.
Theo ông Lâm, sau giai đoạn bùng nổ với cơ chế giá FIT (FiT 1 và FiT 2) vào các năm 2019-2020, thị trường đã chững lại đáng kể. Các chính sách hiện hành chưa tạo được cú hích đủ mạnh, đặc biệt còn có một số rào cản.
Đầu tiên là thủ tục hành chính và quy trình triển khai còn phức tạp, đặc biệt khi có yếu tố bán điện lên lưới, khiến phần lớn người dân và doanh nghiệp lựa chọn phương án tự tiêu thụ thay vì tham gia sâu hơn vào thị trường điện.
Tiếp đến là thiếu các chính sách khuyến khích mang tính kinh tế rõ ràng. Ở nhiều quốc gia, người dân đầu tư điện mặt trời vì có cơ chế hỗ trợ cụ thể như ưu đãi thuế, tín dụng xanh, hoặc giá điện theo thời gian. Trong khi đó, tại Việt Nam, động lực tài chính hiện nay chưa đủ mạnh để tạo làn sóng đầu tư mới.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Toàn, đại diện nhóm nhà đầu tư năng lượng tái tạo tại TP HCM, cho rằng ở các khu công nghiệp TP HCM, mái nhà máy sản xuất mới lắp đặt khoảng 20% tiềm năng, còn hộ gia đình tham gia rất ít do bài toán kinh tế chưa khả thi.
"Người dân phát điện vào ban ngày nhưng đi làm, không sử dụng hết; phần điện dư bán lại với giá quá thấp không bù được tiền điện mua vào buổi tối", ông Toàn nói. Trong khi đó, người dân chỉ được bán tối đa 20% công suất lắp đặt thực tế với giá hiện hành chỉ hơn 800 đồng/kWh.
Theo ông, dự kiến sắp tới tỷ lệ bán điện dư lên lưới lên đến 50% cũng là một tín hiệu để phát triển điện mặt trời áp mái. Tuy nhiên, điều quan trọng là giá mua cần hấp dẫn hơn. "Cần có chính sách để giá mua điện dư tiệm cận với giá đầu tư thì mới đủ sức thu hút", ông Toàn nói.
Hiện theo quy định, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu chỉ được bán lên lưới một phần dư với giá điện năng thị trường bình quân năm trước, thay vì cơ chế giá ưu đãi cố định như giai đoạn 2019-2020 (giá mua hiện tại 2.105 đồng/kWh, chưa bao gồm VAT). Giới chuyên môn cho rằng mức này chưa đủ tạo lợi nhuận rõ rệt cho các khoản đầu tư nhỏ lẻ.
Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 cả nước đặt mục tiêu khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, tương đương quy mô 26.000 MW.
Với TP HCM, nơi nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế, kinh tế số và AI được dự báo tăng nhanh, việc tận dụng hàng triệu mái nhà như những "nhà máy điện nhỏ" được xem là giải pháp quan trọng để bổ sung nguồn điện tại chỗ.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó giám đốc Sở Công Thương TP HCM, cho biết thành phố hiện có 22.355 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 1.832 MWp, song dư địa phát triển vẫn còn rất lớn ở khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Theo bà Ngọc, TP HCM đang xây dựng một nghị quyết riêng về cơ chế, chính sách hỗ trợ điện mặt trời mái nhà cho hộ dân và doanh nghiệp theo cơ chế đặc thù. Song song đó, thành phố nghiên cứu thêm các giải pháp như tín dụng xanh, vốn vay ưu đãi, mô hình ESCO, hỗ trợ kỹ thuật, số hóa thủ tục và ưu đãi thuế để giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Năm 2026, ngành điện TP HCM xây dựng kế hoạch cung cấp điện với mục tiêu đáp ứng mức tăng trưởng điện năng khoảng 5% so với năm trước. Ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc EVNHCMC, cho biết sau khi tiếp nhận thêm địa bàn Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ), quy mô hệ thống điện TP HCM đã tăng lên đáng kể. Công suất cực đại năm 2025 của toàn hệ thống đạt 8.936 MW; công suất đặt các máy biến áp 110kV thuộc sở hữu ngành điện là 13.363 MVA, tương ứng khoảng 12.027 MW với hệ số công suất 0,90; tỷ lệ dự phòng lưới điện khoảng 35%.
Theo ông Kiên, dù hệ thống điện TP HCM sau khi mở rộng địa bàn vẫn đang duy trì mức dự phòng tương đối an toàn, ngành điện cho rằng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cao trong các năm tới, thành phố vẫn cần đẩy mạnh nguồn điện phân tán tại chỗ. EVNHCMC khuyến khích hộ dân, doanh nghiệp phát triển điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ năng lượng nhằm giảm áp lực lưới điện giờ cao điểm và tối ưu chi phí sử dụng điện lâu dài.