Trong khi không ít ngành nghề khác đang phải đối mặt với sự bão hòa nhân lực, sinh viên ngành địa chất lại đang đứng trước cơ hội việc làm rộng mở hơn bao giờ hết. Với mức lương khởi điểm từ 15-30 triệu đồng/tháng, đây là một cơ hội tốt cho những bạn trẻ đam mê kỹ thuật, khoa học và khám phá.
PGS.TS Phạm Trung Hiếu – Trưởng khoa địa chất Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) – cho biết làn sóng bứt phá của hạ tầng giao thông và năng lượng đang kéo theo nhu cầu nhân lực địa chất tăng mạnh.
Hàng loạt dự án quy mô lớn trên cả nước tăng tốc triển khai, từ đường sắt, cao tốc Bắc – Nam đến các tuyến metro tại TP.HCM, Hà Nội cùng các dự án năng lượng như điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân.
Bên cạnh đó, việc tìm kiếm và khai thác các khoáng sản chiến lược, đặc biệt là đất hiếm, cũng trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Sự bùng nổ của các công trình và lĩnh vực này đang tạo ra nhu cầu nhân sự lớn cho ngành địa chất.
Theo PGS.TS Nguyễn Tài Tuệ – Trưởng khoa địa chất Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), địa chất học là lĩnh vực có phạm vi rộng, gắn với nhiều ngành kinh tế then chốt. Ngành không chỉ nghiên cứu cấu trúc và lịch sử hình thành Trái đất mà còn giữ vai trò thiết yếu trong thăm dò, đánh giá tài nguyên khoáng sản, dầu khí cũng như khảo sát địa chất công trình.
Đồng thời, địa chất học góp phần dự báo, phòng chống các tai biến thiên nhiên như sạt lở, động đất. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ phân tích dữ liệu hiện đại cũng đang nâng cao hiệu quả dự báo rủi ro, trong đó có các hệ thống cảnh báo sạt lở theo thời gian thực.
Ông Tuệ cũng cho biết cơ hội việc làm của sinh viên ngành địa chất hiện rất rộng mở khi nhu cầu tuyển dụng từ doanh nghiệp ngày càng tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực khai thác khoáng sản, xây dựng, tư vấn khảo sát và quản lý tài nguyên.
Trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng lớn được triển khai trên cả nước như hệ thống tàu điện ngầm, đường cao tốc, đường sắt tốc độ cao hay các công trình năng lượng, nhu cầu chuyên gia địa chất tiếp tục gia tăng, tạo lợi thế rõ rệt cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.
PGS.TS Nguyễn Việt Hà, Trưởng phòng quan hệ công chúng doanh nghiệp Trường ĐH Mỏ – Địa chất, nói các ngành khai thác mỏ, địa chất đang có nhu cầu nhân lực rất lớn, phục vụ trực tiếp cho những lĩnh vực sản xuất then chốt như khai thác than, khoáng sản, đất hiếm, titan và nhiều tài nguyên chiến lược khác.
Theo ông Hà, nhiều tập đoàn, tổng công ty trong lĩnh vực năng lượng và khai khoáng đã chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo để “đặt hàng” nguồn nhân lực chất lượng. Không ít doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo thông qua việc cấp học bổng, hỗ trợ chi phí học tập và cam kết tuyển dụng sau khi tốt nghiệp, qua đó mở rộng cơ hội việc làm cho sinh viên.
“Thống kê tại Trường ĐH Mỏ – Địa chất cho thấy khoảng 98-99% sinh viên có việc làm sau khi ra trường. Thậm chí nhiều em được tuyển dụng ngay từ khi bảo vệ khóa luận tốt nghiệp”, ông Hà thông tin.
Tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), khoa địa chất hiện tập trung đào tạo hai ngành chủ lực là địa chất học và kỹ thuật địa chất nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu thị trường lao động. PGS.TS Phạm Trung Hiếu cho biết nhu cầu tuyển dụng trong lĩnh vực này tăng rõ rệt thời gian gần đây.
Từ giữa năm 2025 đến nay, khoa đã nhận được 34 tin tuyển dụng, mỗi đợt cần khoảng 20 vị trí, tổng nhu cầu vượt hơn 500 vị trí việc làm.
“Không chỉ dồi dào cơ hội, mức đãi ngộ cũng là điểm đáng chú ý khi nhiều doanh nghiệp sẵn sàng trả lương khởi điểm từ 15-30 triệu đồng/tháng cho sinh viên mới ra trường. Tuy nhiên số lượng người học ngành này những năm gần đây không nhiều khiến nguồn cung chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng”, ông Hiếu chia sẻ.
Trước yêu cầu mới của thị trường, chương trình đào tạo ngành địa chất tại các trường ĐH được cập nhật theo hướng gắn lý thuyết với thực tiễn, tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp. Nhờ đó sinh viên có cơ hội tiếp cận môi trường làm việc thực tế từ sớm, nâng cao kỹ năng và sẵn sàng tham gia thị trường lao động ngay sau khi tốt nghiệp.
Theo PGS.TS Phạm Trung Hiếu, đội ngũ đào tạo của khoa luôn chủ động phối hợp với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực thực hành cho sinh viên. Thông qua các thỏa thuận hợp tác đào tạo với doanh nghiệp, sinh viên được tham gia thực tập, làm quen với môi trường làm việc chuyên nghiệp, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế.
Đáng chú ý, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) còn triển khai nhiều chính sách học bổng nhằm thu hút người học vào các ngành phục vụ chiến lược phát triển bền vững và chiến lược quốc gia như địa chất học, kỹ thuật địa chất. Thí sinh trúng tuyển có thành tích cao có thể nhận học bổng lên tới 100% học phí năm đầu và duy trì ở các năm tiếp theo nếu đáp ứng điều kiện.
Ngoài ra sinh viên còn có cơ hội nhận học bổng toàn phần từ doanh nghiệp kèm cam kết làm việc cho doanh nghiệp trong năm năm sau tốt nghiệp, sinh viên khó khăn có thành tích học tập tốt còn có cơ hội nhận học bổng của GS Trần Kim Thạch và GS Huỳnh Trung.
Sau khi tốt nghiệp ngành địa chất, người học có thể tiếp tục theo học bậc thạc sĩ, tiến sĩ trong và ngoài nước. Nhiều chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu với các trường ĐH quốc tế mở ra cơ hội nhận học bổng toàn phần, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học Trái đất và khai khoáng, giúp sinh viên phát triển chuyên sâu và hội nhập môi trường học thuật quốc tế.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư mới được ban hành nhằm đổi mới căn bản công tác kiểm định chất lượng, chuyển từ cách tiếp cận "đạt chuẩn" sang "cải tiến chất lượng liên tục", tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông tư mới đã rút gọn bộ tiêu chuẩn đánh giá từ 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí xuống còn 15 tiêu chuẩn và 60 tiêu chí, được cấu trúc theo ba nhóm chính gồm: chiến lược, hệ thống và kết quả.
Thay đổi này nhằm giảm trùng lập, tập trung vào các yêu cầu cốt lõi và phản ánh đầy đủ chu trình quản trị chất lượng của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo hướng thực chất, dựa trên vận hành và hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự tuân thủ hồ sơ.
Thông tư xác lập rõ việc chuyển từ kiểm định dựa trên "tuân thủ quy định" sang "cải tiến chất lượng liên tục".
Theo đó, chất lượng được đánh giá không chỉ ở mức đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu, mà còn ở mức độ cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu do chính mình xác lập.
Đáng chú ý, thông tư quy định ba mức đánh giá gồm: đạt, đạt có điều kiện và không đạt.
Cơ sở giáo dục đại học được đánh giá là đạt có điều kiện khi có không quá 4 tiêu chuẩn không đạt. Trong trường hợp này, cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng và triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng, bảo đảm hoàn thiện các nội dung không đạt trong thời gian không quá 24 tháng kể từ ngày được công nhận đạt có điều kiện, để đáp ứng điều kiện được công nhận đạt theo quy định.
Quy định mới cũng đã tăng cường yêu cầu công khai, minh bạch: các cơ sở giáo dục phải công bố báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài, nâng cao trách nhiệm giải trình trước xã hội.
Công tác hậu kiểm và cơ chế thu hồi giấy chứng nhận kiểm định cũng được bổ sung nhằm bảo đảm chất lượng được duy trì thực chất.
Theo thông tư, chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học là 5 năm, đồng thời quy định rõ quy trình tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục ĐH đang được Bộ GD-ĐT xem xét và lấy ý kiến đóng góp. Trong đó, ngành sức khỏe là một trong những lĩnh vực có quy định cao về chương trình, giảng viên.
Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thực hiện nhiều chương trình đào tạo khác nhau. Cụ thể, chương trình đào tạo nói chung phải xác định định hướng đào tạo theo hướng học thuật/nghiên cứu hoặc chuyên nghiệp/ứng dụng phù hợp với mục tiêu đào tạo và trình độ đào tạo.
Ngoài ra, các trường có thể cung cấp cho sinh viên chương trình đào tạo tích hợp; chương trình đào tạo liên ngành, xuyên ngành; chương trình đào tạo chuyên sâu; chương trình đào tạo song ngành, ngành chính – ngành phụ; chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng; chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giáo dục ĐH (được thiết kế độc lập hoặc là một cấu phần của chương trình đào tạo cấp văn bằng). Chương trình đào tạo có định hướng và yêu cầu riêng có các chương trình như kỹ sư tài năng, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến và các chương trình tương tự.
Các chương trình đào tạo trên phải được xây dựng phù hợp với sứ mạng cụ thể, chức năng, nhiệm vụ và chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực hiện tại và dự báo của ngành, lĩnh vực; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Các chương trình đào tạo phải xác định bậc trình độ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam; được thiết kế theo hướng bảo đảm khả năng tích lũy, công nhận kết quả học tập và liên thông giữa các trình độ, phù hợp với vị trí trong cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.
Ở tất cả các chương trình đào tạo, giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo; giảng viên thỉnh giảng chỉ đảm nhận tối đa 1/4 khối lượng giảng dạy.
Mỗi chương trình đào tạo (trừ khối ngành sức khỏe, pháp luật; kỹ thuật then chốt; ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, thể thao) phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, có chuyên môn ngành đúng, ngành gần hoặc ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì; trong đó luôn có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, pháp luật phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành đúng hoặc ngành gần chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Đặc biệt, giảng viên giảng dạy và người hướng dẫn thực hành các học phần liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề chuyên môn phù hợp với học phần được giao nhiệm vụ giảng dạy, có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm và đang hoặc đã từng làm việc trực tiếp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên theo quy định của luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Trong khi đó, chương trình đào tạo các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, quốc phòng, an ninh và ngành, lĩnh vực mới phải có ít nhất 7 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ ngành có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao phải có ít nhất 4 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ có chuyên môn phù hợp chủ trì, trong đó luôn có 1 giảng viên chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.
Trong thời gian tối thiểu 3 năm tính đến ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì phải có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus.
Với các ngành ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam và nước ngoài, lĩnh vực nghệ thuật, thể thao, giảng viên phải có sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích bao gồm cả tác phẩm, công trình, giải thưởng chuyên môn, huy chương tại các cuộc thi, liên hoan, giải thi đấu thể thao do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc quốc tế công nhận.