Theo thông tin từ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sơn La, trên địa bàn bản Nà Hiên (xã Phiêng Pằn, Sơn La) vừa xảy ra vụ nghi ngộ độc thực phẩm do ăn nấm rừng, khiến 1 người tử vong, 5 người khác đang được điều trị tích cực.
Trước đó khoảng 11h30 ngày 2-5, tại nhà của gia đình bà Lò Thị Phương ở bản Nà Hiên, có 24 người cùng ăn bữa trưa với các món gồm thịt chó hấp, ngan luộc, canh măng khô, rượu cần và rượu trắng.
Sau bữa ăn, có 6 người ra khu vực sàn ngoài nhà tiếp tục ăn thêm canh nấm hái từ tự nhiên.
Đến khoảng 20h cùng ngày, những người ăn canh nấm bắt đầu xuất hiện triệu chứng đau bụng, buồn nôn, nôn nhiều lần, đi ngoài…
Sau khi xuất hiện các triệu chứng ngộ độc kéo dài, đến khoảng 10h ngày 4-5, nạn nhân V.T.D. (16 tuổi) đã tử vong tại nhà.
5 người còn lại có biểu hiện ngộ độc đã được đưa đi cấp cứu và điều trị.
Trong đó, 4 trường hợp được chuyển từ Bệnh viện Đa khoa khu vực Mai Sơn lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La, sau đó chuyển tuyến xuống Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục điều trị chuyên sâu.
Qua điều tra ban đầu, cơ quan chức năng xác định trong số 24 người cùng ăn bữa trưa, chỉ có 6 người ăn canh nấm bị ngộ độc, 18 người còn lại không ăn canh nấm thì cơ bản sức khỏe ổn định.
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sơn La nhận định, thức ăn nghi là nguyên nhân gây ngộ độc là món canh nấm và tác nhân nghi ngờ do độc tố tự nhiên trong nấm rừng…
Trên thực tế, khoa học cho thấy lượng mồ hôi tiết ra không phản ánh trực tiếp tình trạng sức khỏe. Có người đổ rất nhiều mồ hôi nhưng hoàn toàn không liên quan đến thể lực tốt. Cũng có người tập luyện đều đặn, sức bền tốt nhưng lại chỉ tiết một lượng mồ hôi vừa phải, theo chuyên trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Nhiệm vụ quan trọng nhất của mồ hôi là giúp cơ thể điều hòa thân nhiệt. Khi nhiệt độ cơ thể tăng lên do thời tiết nóng, vận động hoặc sốt, các tuyến mồ hôi sẽ tiết dịch lên bề mặt da. Khi lớp mồ hôi này bay hơi, nhiệt lượng cũng được giải phóng ra ngoài, giúp làm mát cơ thể và duy trì nhiệt độ ổn định. Nếu không có cơ chế này, cơ thể rất dễ rơi vào tình trạng quá tải nhiệt khi hoạt động thể chất.
Một người khỏe mạnh có thể đổ nhiều mồ hôi. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa bất cứ ai đổ nhiều mồ hôi cũng khỏe mạnh hơn người khác. Lượng mồ hôi tiết ra phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cá nhân.
Nam giới thường đổ mồ hôi nhiều hơn nữ giới. Người có kích thước cơ thể lớn hơn thường tạo ra nhiều nhiệt hơn khi vận động nên cũng có xu hướng tiết nhiều mồ hôi hơn. Di truyền cũng ảnh hưởng đến số lượng và mức độ hoạt động của tuyến mồ hôi.
Ngoài ra, nhiệt độ và độ ẩm môi trường cũng ảnh hưởng đáng kể. Một người tập luyện trong thời tiết nóng ẩm sẽ đổ mồ hôi nhiều hơn khi tập trong môi trường mát mẻ dù cường độ vận động giống nhau. Do đó, chỉ nhìn vào lượng mồ hôi để đánh giá sức khỏe là không đáng tin.
Trong nhiều trường hợp, đổ mồ hôi nhiều chỉ là phản ứng sinh lý bình thường. Tuy nhiên, nếu mồ hôi xuất hiện quá mức và gây ảnh hưởng đến cuộc sống, đó có thể là dấu hiệu của chứng tăng tiết mồ hôi, giáo sư da liễu Dee Anna Glaser tại Trường Y khoa thuộc Đại học Saint Louis (Mỹ) cho biết.
Người mắc tình trạng này có thể đổ mồ hôi ngay cả khi không vận động hoặc khi thời tiết không nóng. Mồ hôi có thể xuất hiện nhiều ở lòng bàn tay, bàn chân, vùng nách hoặc toàn thân, gây khó khăn trong sinh hoạt, công việc và giao tiếp.
Theo Hiệp hội Da liễu Mỹ, tăng tiết mồ hôi có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Nếu tình trạng đổ mồ hôi xuất hiện đột ngột, xảy ra chủ yếu vào ban đêm, hoặc đi kèm các triệu chứng như tim đập nhanh, đau ngực, chóng mặt hay sụt cân không rõ nguyên nhân, người bệnh nên đi khám để tìm nguyên nhân.
Một số trường hợp đổ mồ hôi nhiều có thể do rối loạn tuyến giáp, nhiễm trùng, tác dụng phụ của thuốc, một số vấn đề sức khỏe khác và cần được kiểm tra, theo Verywell Health.
Gia đình không rõ thời gian bé chìm trong nước, khi phát hiện và vớt lên đã ngừng tim. Trẻ được nhân viên y tế sơ cứu, ba phút sau có nhịp tim trở lại, chuyển đến Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp cấp, đồng tử đều còn phản xạ ánh sáng.
Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhi suy hô hấp, viêm phổi, ngừng tuần hoàn do đuối nước, theo dõi tổn thương não. Bé phải thở máy, dùng chống phù não, kiểm soát thân nhiệt, nuôi dưỡng qua đường truyền tĩnh mạch.
Ngày 24/4, sau 7 ngày điều trị, bác sĩ đánh giá chỉ số sinh tồn của trẻ đã dần ổn định, bình phục nhanh cả về sức khỏe lẫn tinh thần, đủ điều kiện xuất viện.
Đuối nước là tình trạng nước tràn vào đường hô hấp làm cho các cơ quan bị thiếu oxy các chức năng sống của cơ thể ngừng hoạt động. Đây là tai nạn nguy hiểm và là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong trẻ em dưới 19 tuổi. Trẻ nam bị đuối nước nhiều gấp hai lần trẻ nữ.
Phần lớn trẻ bị đuối nước tử vong hoặc để lại di chứng não bởi không được sơ cứu hoặc sơ cứu không đúng cách. Các bác sĩ cho rằng sơ cứu tại chỗ đúng kỹ thuật cực kỳ quan trọng, quyết định sự sống còn cho trẻ.
Khi phát hiện trẻ bị đuối nước, cần tìm mọi cách đưa lên khỏi mặt nước và đặt nằm ở nơi khô ráo, thoáng khí. Tùy thuộc vào phương tiện có sẵn tại chỗ, tình trạng trẻ tỉnh hay hôn mê, có bị ngừng tim, ngừng thở hay không và tình hình thực tế (đuối nước tại sông, hồ hay biển, nước lặng hay nước chảy xiết, nước nông hay sâu, gần bờ hay xa bờ) mà cấp cứu bằng các cách khác nhau.
Nếu nạn nhân bất tỉnh và ngưng thở/ngưng tim, cần thực hiện ngay kỹ thuật thổi ngạt và ấn tim liên tục trên đường đến bệnh viện. Nếu nạn nhân còn thở, đặt nằm nghiêng để tránh sặc chất nôn và nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để theo dõi.
Nước tiểu nổi bọt có thể do dòng tiểu mạnh, tiểu gấp, nước tiểu cô đặc do uống ít nước, nhịn tiểu lâu, hoặc trong bồn cầu còn chất tẩy rửa. Lúc này, bọt xuất hiện thoáng qua và tan nhanh.
Tuy nhiên, nếu nước tiểu thường xuyên có nhiều bọt, bọt dày, lâu tan, đặc biệt kèm theo phù mi mắt buổi sáng, phù chân, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiểu máu, mệt nhiều, thì nên đi khám.
Thận có nhiệm vụ lọc máu nhưng vẫn giữ lại những chất quan trọng như albumin/protein. Khi hàng rào lọc của thận bị tổn thương, protein có thể lọt qua và đi ra nước tiểu, chính protein này có thể làm nước tiểu dễ tạo bọt hơn.
Tuy nhiên, không phải có protein niệu là gây tiểu bọt và ngược lại, tiểu bọt chỉ là dấu hiệu có thể gợi ý và liên quan với protein niệu chứ không đủ nhạy và không đủ đặc hiệu để chẩn đoán. Protein niệu đôi khi có thể tăng thoáng qua sau sốt, mất nước, vận động nặng hoặc nhiễm trùng...
Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ chỉ định kiểm tra một số xét nghiệm cơ bản như:
Tổng phân tích nước tiểu để xem có protein, hồng cầu có bất thường.
Tỷ lệ albumin/creatinin niệu để phát hiện tổn thương thận sớm.
Creatinin máu và eGFR để đánh giá chức năng lọc của thận.
Đo huyết áp, kiểm tra đường máu nếu có yếu tố nguy cơ....