Theo Hãng tin Reuters, ngày 1-4, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bất ngờ có mặt tại trụ sở Tòa án tối cao Mỹ, ngồi dự phiên tranh tụng miệng về việc xem xét sắc lệnh hạn chế quyền công dân theo nơi sinh do chính ông ban hành.
Tháp tùng ông có Bộ trưởng Thương mại Howard Lutnick và Bộ trưởng Tư pháp Pam Bondi…
Ông Trump được ghi nhận mặc vest đen, thắt cà vạt đỏ, ngồi hàng ghế đầu khu vực dành cho công chúng. Ông chỉ theo dõi và không tham gia vào quá trình tranh tụng.
Ông Trump ở lại hơn một tiếng rưỡi rồi rời đi, không lâu sau khi luật sư phía chính quyền kết thúc phần trình bày.
Sự có mặt của Tổng thống Mỹ được cho là khoảnh khắc lịch sử. Theo bà Clare Cushman, nhà sử học thường trú của Hiệp hội Lịch sử Tòa án tối cao, đây là lần đầu tiên một Tổng thống đương nhiệm có mặt tại phiên tranh tụng của tòa.
Trước đây, một số Tổng thống tại nhiệm trong thế kỷ 19 như các ông John Quincy Adams hay Benjamin Harrison từng tranh tụng trước tòa này, nhưng đều là sau khi rời nhiệm sở.
Hiến pháp Mỹ đã trao quyền công dân cho bất kỳ trẻ sơ sinh nào sinh ra trên đất Mỹ, bất chấp quốc tịch của cha mẹ trẻ. Quyền này được quy định trong Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp, thông qua vào năm 1868.
Văn bản này nêu rõ: “Tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Mỹ và chịu sự quản lý của Mỹ đều là công dân của Mỹ và của tiểu bang nơi họ cư trú”.
Tuy nhiên ngay ngày đầu tiên của nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai vào tháng 1-2025, ông Trump đã ký sắc lệnh hành pháp, chỉ đạo các cơ quan liên bang không công nhận quốc tịch Mỹ cho trẻ sinh trên lãnh thổ Mỹ nếu cha mẹ đều không phải công dân hoặc thường trú nhân.
Sắc lệnh này đã bị tòa án liên bang bác bỏ, cho rằng nó vi phạm Tu chính án thứ 14. Chính quyền ông Trump lập tức kháng cáo và đưa vụ việc lên Tòa án tối cao phân xử.
Tổng biện lý D. John Sauer, người đại diện Nhà Trắng tranh tụng trước tòa, mở đầu bằng lập luận rằng việc cấp quyền công dân theo nơi sinh mà không có bất kỳ hạn chế nào “đi ngược thông lệ của đại đa số các quốc gia hiện đại” và tạo động lực cho nhập cư trái phép.
Ở chiều ngược lại, cả chín thẩm phán tối cao, bất kể quan điểm cấp tiến hay bảo thủ, đều đặt nhiều câu hỏi hóc búa cho ông Sauer.
Chánh án tối cao John Roberts nhận xét lập luận trên của phía chính quyền là “kỳ quặc” khi cố áp dụng những ngoại lệ, vốn chỉ áp dụng cho con cái các nhà ngoại giao nước ngoài hoặc quân chiếm đóng thù địch, sang toàn bộ người nhập cư bất hợp pháp.
Thẩm phán Sonia Sotomayor, mang tư tưởng cấp tiến, trích dẫn biên bản Quốc hội vào thời điểm Tu chính án 14 được thông qua, chỉ ra rằng chính lý thuyết pháp lý mà chính quyền Trump đang viện dẫn đã bị bác bỏ tại thời điểm đó.
Thẩm phán Elena Kagan thì cho rằng cách giải thích của chính quyền không được chính văn bản tu chính án hỗ trợ.
Ngay cả thẩm phán Neil Gorsuch, nổi tiếng với tư tưởng bảo thủ, cũng tỏ ra nghi ngờ trước lập luận của ông Trump và các cộng sự.
Ông cho rằng lập luận của chính quyền khó lòng đứng vững trước án lệ Wong Kim Ark năm 1898. Phán quyết lịch sử này đã xác lập rằng Tu chính án 14 trao quốc tịch cho trẻ sinh ra trên đất Mỹ, kể cả con của người nước ngoài.
Đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách siết chặt nhập cư của ông Trump. Tòa án tối cao với thế đa số bảo thủ 6-3 dự kiến ra phán quyết trước cuối tháng 6.
Trong thời gian gần đây, tòa đã nhiều lần ủng hộ các chính sách nhập cư cứng rắn của ông Trump, bao gồm cho phép mở rộng biện pháp trục xuất hàng loạt trong khi các vụ kiện vẫn đang được xem xét.
Theo Hãng tin Reuters, kết quả bỏ phiếu tại Thượng viện Mỹ về thủ tục nhằm đưa nghị quyết về quyền hạn chiến tranh ra xem xét nhận được 50 phiếu thuận, 47 phiếu chống.
Trong đó thượng nghị sĩ John Fetterman là thành viên Đảng Dân chủ duy nhất bỏ phiếu chống. Các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa là Rand Paul, Susan Collins, Bill Cassidy và Lisa Murkowski bỏ phiếu ủng hộ. Ba thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa vắng mặt.
Việc Thượng viện bỏ phiếu thông qua thủ tục nêu trên được xem là một chiến thắng bước đầu dành cho Quốc hội Mỹ, trong bối cảnh nhiều nhà lập pháp nước này cho rằng theo Hiến pháp, chỉ có Quốc hội mới có quyền đưa quân tham chiến chứ không phải tổng thống.
Tuy nhiên, nghị quyết sẽ phải vượt qua nhiều "cửa ải" khác khi còn cần được Thượng viện thông qua và Hạ viện do Đảng Cộng hòa kiểm soát phê chuẩn, đồng thời phải giành đa số 2/3 ở cả hai viện nhằm tránh bị Tổng thống Donald Trump phủ quyết.
Thượng nghị sĩ Tim Kaine của Đảng Dân chủ - người bảo trợ nghị quyết - cho rằng lệnh ngừng bắn hiện nay là cơ hội thích hợp để ông Trump trình bày với Quốc hội, trong bối cảnh tổng thống Mỹ nói Iran đã đưa ra đề xuất mới nhằm chấm dứt xung đột.
"Đó là thời điểm hoàn hảo để thảo luận trước khi chúng ta lại bắt đầu chiến tranh. Tổng thống đang nhận được các đề xuất hòa bình và ngoại giao mà ông ấy lại vứt vào thùng rác mà không chia sẻ với chúng tôi", thượng nghị sĩ Kaine nói trong cuộc tranh luận trước khi bỏ phiếu.
Theo Đạo luật Quyền hạn chiến tranh năm 1973, tổng thống Mỹ chỉ có thể tiến hành hành động quân sự trong 60 ngày trước khi phải chấm dứt, xin Quốc hội phê chuẩn hoặc yêu cầu gia hạn thêm 30 ngày vì nhu cầu quân sự không thể tránh khỏi liên quan đến an toàn của lực lượng vũ trang Mỹ trong quá trình rút quân.
Hôm 1-5, ông Trump tuyên bố lệnh ngừng bắn đã "chấm dứt" các hành động thù địch chống Iran. Đây là thời điểm tròn 60 ngày sau khi ông Trump chính thức thông báo với Quốc hội rằng chiến sự đã bắt đầu.
Tuy nhiên Mỹ vẫn tiếp tục phong tỏa các cảng của Iran và tấn công tàu Iran, trong khi Iran tiến hành phong tỏa eo biển Hormuz và tấn công các tàu Mỹ.
Các nhà lập pháp Đảng Dân chủ cùng một số thành viên từ Đảng Cộng hòa đã yêu cầu ông Trump phải xin Quốc hội phê chuẩn việc sử dụng vũ lực quân sự, đồng thời lo ngại nước Mỹ bị cuốn vào một cuộc xung đột kéo dài mà chưa đưa ra chiến lược rõ ràng.
Trong khi đó, phe Cộng hòa và Nhà Trắng cho rằng các hành động của ông Trump là hợp pháp và nằm trong thẩm quyền của tổng tư lệnh nhằm bảo vệ nước Mỹ thông qua các chiến dịch quân sự có giới hạn.
Một số nghị sĩ Đảng Cộng hòa còn cáo buộc phe Dân chủ đưa ra các nghị quyết về quyền hạn chiến tranh chỉ vì phản đối ông Trump về mặt đảng phái.
Theo Hãng tin AFP, ngày 3-5, Saudi Arabia, Nga và 5 quốc gia thành viên liên minh OPEC+ khác ra tuyên bố nâng hạn ngạch khai thác dầu thêm 188.000 thùng/ngày trong tháng 6.
Động thái này được OPEC+ gọi là một phần của "cam kết tập thể nhằm hỗ trợ sự ổn định của thị trường dầu mỏ" và được công bố vài ngày sau khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) tuyên bố rời nhóm.
Mức tăng 188.000 thùng đã được giới phân tích dự báo và gần như tương đương với con số 206.000 thùng/ngày từng được OPEC+ công bố hồi tháng 3 và tháng 4.
Tuy nhiên, giới phân tích nghi ngờ quyết định này thực chất là một tuyên bố chính trị nhiều hơn là giải pháp thực tiễn cho cuộc khủng hoảng năng lượng hiện tại.
Điều này xuất phát từ thực tế rằng sản lượng khai thác hiện tại của OPEC+ vẫn đang thấp hơn tổng hạn ngạch được cho phép. Trong khi đó, trữ lượng chưa khai thác của nhóm lại chủ yếu nằm ở vùng Vịnh, nơi hoạt động xuất khẩu đã gần như đình trệ bởi lệnh phong tỏa eo biển Hormuz.
Trao đổi với AFP, chuyên gia phân tích tại Rystad Energy, ông Jorge Leon, nhận định việc tăng hạn ngạch là một "thông điệp hai tầng" mà OPEC+ muốn gửi đi cho thế giới.
Thứ nhất, việc UAE rời đi không làm xáo trộn cách OPEC+ vận hành. Thứ hai, nhóm vẫn nắm quyền kiểm soát thị trường dầu toàn cầu, bất chấp những đảo lộn nghiêm trọng từ chiến sự.
"Sản lượng đang tăng trên giấy, nhưng tác động thực tế đến nguồn cung vật chất vẫn rất hạn chế, xuất phát từ những ràng buộc tại eo biển Hormuz", ông Leon khẳng định.
Theo chuyên gia này, vấn đề không nằm ở chuyện bơm thêm dầu, mà là tín hiệu cho thấy OPEC+ vẫn là bên định đoạt cuộc chơi.
Trong thông báo chung ngày 3-5, OPEC+ không nhắc gì đến UAE, quốc gia thông báo rút khỏi cả Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cùng liên minh OPEC+ hôm 28-4.
Việc làm này nối dài chuỗi im lặng của cả OPEC lẫn OPEC+, vốn đều chưa lên tiếng công khai về việc rời đi trên.
Bảy quốc gia OPEC+ tham gia cuộc họp và ra quyết định nâng hạn ngạch trên bao gồm Algeria, Iraq, Kazakhstan, Kuwait, Oman, Nga và Saudi Arabia.
"Chúng tôi tin rằng có thể có sự lây truyền giữa những người tiếp xúc rất gần với nhau", Giám đốc phòng ngừa dịch bệnh và đại dịch của WHO Maria Van Kerkhove nói với các phóng viên, theo AFP.
Bà Van Kerkhove cho biết thêm có khả năng người đầu tiên mắc bệnh đã bị nhiễm virus hanta trước khi lên du thuyền MV Hondius, con thuyền treo cờ Hà Lan.
Bà Van Kerkhove đưa ra nhận định trên sau khi một cặp vợ chồng người Hà Lan và một công dân Đức đã tử vong, trong khi một công dân Anh đã được sơ tán khỏi tàu MV Hondius và đang được chăm sóc đặc biệt tại Nam Phi, theo Reuters dẫn lời các quan chức. Ba người khác nghi nhiễm virus hanta vẫn đang ở trên tàu MV Hondius.
Con người thường bị nhiễm virus hanta thông qua tiếp xúc với loài gặm nhấm bị nhiễm bệnh hoặc nước tiểu, phân hoặc nước bọt của chúng.
Tuy nhiên, sự lây lan hạn chế giữa những người tiếp xúc gần đã được quan sát thấy trong một số đợt bùng phát trước đây với chủng Andes, lây lan ở Nam Mỹ, trong đó có Argentina, và WHO tin rằng có thể liên quan đến những trường hợp nhiễm virus hanta trên du thuyền MV Hondius. WHO cho hay đã được thông báo rằng không có chuột trên tàu này.
WHO ước tính có từ 10.000 đến 100.000 trường hợp nhiễm virus hanta mỗi năm. WHO hồi tháng 12.2025 thông báo Argentina tiếp tục là quốc gia có nhiều trường hợp nhiễm virus hanta nhất ở khu vực châu Mỹ, với tỷ lệ tử vong khoảng 32%, theo Reuters.
Du thuyền MV Hondius đang bị mắc kẹt ngoài khơi Cape Verde, một đảo quốc ở Đại Tây Dương. Giới chức Cape Verde hiện chưa cho phép tàu MV Hondius đưa hành khách lên bờ, theo Reuters.
Khoảng 150 người đang mắc kẹt trên tàu MV Hondius. Phần lớn hành khách trên tàu là người Anh, Mỹ và Tây Ban Nha, khởi hành từ mũi phía nam của Argentina vào cuối tháng 3. Tàu đã ghé thăm bán đảo Nam Cực, Nam Georgia và Tristan da Cunha.
Chuyến du lịch này được quảng cáo là một cuộc thám hiểm thiên nhiên Nam Cực, với giá vé mỗi người dao động từ 14.000 đến 22.000 euro.