Với những cơ chế, chính sách đặc thù được nêu rõ, hàng ngàn dự án bất động sản (BĐS) đang tồn đọng trên cả nước sẽ được tháo gỡ trong thời gian tới. Thực tế, chỉ riêng tại 3 tỉnh thành gồm TP.HCM, Đà Nẵng và Khánh Hòa, ngay từ cuối năm 2024, theo Nghị quyết số 170/2024 của Quốc hội, đã có 64 dự án và 1.313 trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được tháo gỡ bằng những cơ chế chưa từng có. Chẳng hạn, tại TP.HCM có 4 trường hợp cần xử lý về giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất gồm dự án chung cư 1.330 căn hộ (tên thương mại là New City, thuộc khu đất 38,4 ha P.Bình Khánh – TP.Thủ Đức cũ); khu đất 30,2 ha tại Bình Khánh và khu đất 30,1 ha tại Nam Rạch Chiếc; dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn (Q.4 cũ).
Đây đều là những dự án đã bị “treo” hàng chục năm qua, không chỉ khiến nhà nước thất thu, doanh nghiệp (DN) bị ảnh hưởng nặng nề mà người dân cũng khốn khổ vì bị “treo” sổ hồng, phải nộp đơn khiếu kiện khắp nơi. Trong đó, dự án số 39 – 39B Bến Vân Đồn bị vướng vào vụ án, theo kết luận của cơ quan thanh tra, quá trình giao đất cho khu đất này có sai phạm. Vì vậy, các căn hộ đã bàn giao 6 năm, nhưng cư dân vẫn chưa được cấp sổ đỏ. Với chính sách đặc thù, nhà đầu tư được tiếp tục sử dụng đất để thực hiện dự án sau khi đã xử lý về hành chính, hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, sai phạm, khắc phục hậu quả các vi phạm về kinh tế, thu hồi lợi ích vật chất do hành vi vi phạm theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tương tự, 11 dự án BĐS tại Khánh Hòa bị vướng mắc như vi phạm về quy định cho thuê đất không qua đấu giá, đấu thầu hay Đà Nẵng với 49 dự án có vi phạm đều được tháo gỡ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận; giá đất tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…
Đáng chú ý, Nghị định 147/2026 (NĐ147) áp dụng chung trên cả nước, đồng thời cho phép mở rộng áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết 170/2024 để tháo gỡ cho các dự án BĐS tại 3 địa phương nói trên. Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM (HoREA), thời gian qua khi có Nghị quyết 170/2024, tại TP.HCM, Khánh Hòa và Đà Nẵng đã giải quyết được nhiều dự án BĐS tồn đọng. Vì vậy với Nghị quyết 29/2026 của Quốc hội và NĐ147 hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các địa phương trên cả nước sẽ tiếp tục tháo gỡ được hàng ngàn dự án vướng mắc, tồn đọng tương tự. “Nghị quyết 29 của Quốc hội đã tạo ra cơ chế, chính sách công bằng cho tất cả dự án BĐS bị vướng mắc, tồn đọng lâu nay trên cả nước, trong đó tập trung nhiều ở các đô thị lớn. Theo thống kê của Bộ NN-MT, cả nước vẫn còn 3.338 dự án, đất đai còn tồn đọng. Khi được tháo gỡ vướng mắc khó khăn thì nguồn lực đất đai và vốn rất lớn sẽ được giải phóng, tạo động lực góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao”, ông Lê Hoàng Châu nhìn nhận.
Theo phân tích của ông Lê Hoàng Châu, điều 12 quy định xử lý tiếp tục giao đất, cho thuê đất với dự án vi phạm về lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Khi được gỡ vướng, các DN sẽ tiếp tục đổ thêm vốn vào thực hiện dự án. Thậm chí, để phù hợp trong tình hình mới, các chủ đầu tư có thể đề xuất điều chỉnh mở rộng quy mô hay điều chỉnh quy hoạch với hệ số sử dụng đất thay đổi nhằm hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn. Khi đó nguồn thu ngân sách nhà nước bổ sung sẽ gia tăng. Tương tự, điều 13 quy định xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi theo quy định thì các DN sẽ có quỹ đất để tiếp tục thực hiện.
Ông Châu nhấn mạnh: điều 12 và điều 13 tại NĐ147 sẽ có tác động rất lớn với các DN, chủ đầu tư dự án BĐS. Trong số 3.338 dự án còn tồn đọng trên cả nước, sẽ có rất nhiều dự án có thể được điều chỉnh về quy mô, quy hoạch lại sau rất nhiều năm nằm im. Nguồn lực đất đai được giải phóng, đưa vào sử dụng, không để tiếp tục tình trạng lãng phí. Đồng thời, nguồn vốn đầu tư đã đổ vào các dự án này cũng được khơi thông. Khai thác hiệu quả nguồn lực này sẽ đóng góp nhiều cho mục tiêu đưa kinh tế tăng trưởng 2 chữ số. Ngoài ra, điều 11 của nghị định quy định xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định sẽ tác động đến nhiều nhà đầu tư, khách hàng khi mua sản phẩm BĐS có vi phạm. Ở đây chủ yếu là các sản phẩm căn hộ du lịch (condotel) theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người dân, ổn định về mặt xã hội.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới BĐS VN, cho rằng theo Bộ NN-MT, tính đến ngày 30.3.2025, cả nước có 4.489 dự án, quỹ đất gặp khó khăn, vướng mắc với tổng diện tích lên tới 198.428,1 ha và tổng mức đầu tư hơn 3,3 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng gấp 3 lần tổng vốn đầu tư công năm 2026 (dự kiến 1,1 triệu tỉ đồng). Nếu được khơi thông, đây sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy tăng trưởng GDP, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số trong giai đoạn tới. Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 29 của Quốc hội không chỉ tập trung vào xử lý trách nhiệm, mà còn cho phép triển khai đồng thời các giải pháp để đưa dự án trở lại hoạt động. Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy chính sách, từ “đóng băng để xử lý” sang “xử lý để vận hành”, qua đó mở ra khả năng kích hoạt lại một lượng lớn nguồn cung và dòng vốn đang bị tắc nghẽn.
Tác động từ cơ chế đặc thù này đối với thị trường BĐS được kỳ vọng sẽ diễn ra trên nhiều chiều. Trước hết, việc tháo gỡ pháp lý cho các dự án tồn đọng sẽ góp phần thúc đẩy nguồn cung. Khi các dự án được “giải phóng”, thị trường không chỉ có thêm nguồn cung, mà còn gia tăng mức độ cạnh tranh, giảm áp lực tăng giá cục bộ. Đặc biệt, Nghị quyết 29 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ nút thắt pháp lý cho phân khúc BĐS du lịch – nghỉ dưỡng, vốn đã gặp khó khăn kéo dài do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Việc đưa ra cơ chế xử lý đối với các trường hợp đã được cấp sổ hồng nhưng chưa đúng quy định được xem là bước đi đầu tiên nhằm “mở khóa” tâm lý thị trường, góp phần khôi phục niềm tin của nhà đầu tư. Ngoài ra còn có tác động lan tỏa tới hệ thống tài chính, ngân hàng. “Trong thời gian qua, việc hàng loạt dự án bị đình trệ đã khiến dòng tiền bị tắc nghẽn, DN mất khả năng thanh toán và gia tăng áp lực nợ xấu. Khi các dự án được tháo gỡ và tái khởi động, dòng tiền sẽ dần được khơi thông, giúp DN cải thiện năng lực tài chính, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng”, TS Nguyễn Văn Đính giải thích.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhận xét điều đáng chú ý nhất của Nghị quyết 29 và NĐ147 không chỉ nằm ở việc tháo gỡ cho các dự án tồn đọng, mà nằm ở một thay đổi rất lớn trong tư duy điều hành. Đó là không để nền kinh tế tiếp tục bị “kẹt” vì những tồn đọng của quá khứ. Bởi trong nhiều năm qua, hàng loạt dự án BĐS bị “treo” không hẳn vì không có nhu cầu thị trường, mà chủ yếu do quy định chồng chéo, sai phạm xảy ra qua nhiều giai đoạn, khó xác định nghĩa vụ tài chính. Hệ quả là hàng triệu tỉ đồng tài sản bị “đóng băng”, đất đai không được khai thác, DN chết vốn, ngân hàng mắc kẹt dư nợ và nền kinh tế mất đi động lực tăng trưởng.
Một ví dụ rất điển hình là KCN Lê Minh Xuân 2. Đây là KCN nằm ở vị trí chiến lược của cửa ngõ phía tây TP.HCM, từng được kỳ vọng trở thành trung tâm sản xuất và logistics quan trọng. Tuy nhiên, do vướng mắc pháp lý kéo dài nhiều năm, quỹ đất lớn này không thể được khai thác đúng tiềm năng. Khi một dự án công nghiệp bị “đứng hình”, thiệt hại không chỉ là câu chuyện của một DN, mà kéo theo cả dòng vốn bị chôn, ngân hàng có thể bị kẹt tín dụng, DN sản xuất lại thiếu mặt bằng, ngân sách thất thu, hàng nghìn việc làm bị bỏ lỡ. Hay như tại Thủ Thiêm, nhiều dự án từng ách tắc nhiều năm vì chưa xác định được nghĩa vụ tài chính đất đai thì nay đã có lối ra. Chỉ cần tháo gỡ được vài dự án lớn như vậy, dòng vốn quay lại thị trường có thể lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng.
Một điểm đáng chú ý khác của NĐ147 là quy định DN phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tính theo chênh lệch giữa thời điểm cũ và thời điểm điều chỉnh hiện tại. Đây là cơ chế khá hợp lý vì nhà nước không thất thu ngân sách, DN có cơ hội tiếp tục dự án, thị trường được giải phóng nguồn cung, còn người dân có thêm nhiều sản phẩm để lựa chọn mua để an cư hay đầu tư. “Ý nghĩa lớn nhất của các chính sách cơ chế đặc thù tháo gỡ các dự án BĐS tồn đọng là đánh thức những tài sản đang ngủ quên trong nền kinh tế. Khi một dự án được tháo gỡ, ngân hàng có thể tái cấp tín dụng, nhà đầu tư có thể chuyển nhượng, địa phương có thêm nguồn thu, hàng nghìn lao động quay lại công trường, vật liệu xây dựng, logistics, thương mại, dịch vụ cùng được kích hoạt. Điều này là bước đi rất quan trọng để chuyển từ trạng thái đóng băng nguồn lực sang khơi thông nguồn lực cho phát triển”, TS Trần Việt Anh đánh giá.
Bên cạnh đó, chuyên gia kinh tế, TS Huỳnh Thanh Điền nhận định: Đảng và Chính phủ đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không chỉ là một năm mà là trong nhiều năm tới để đưa VN trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Muốn đạt mục tiêu đó thì tất cả nguồn lực của đất nước phải được huy động và sử dụng hiệu quả. Những nguồn lực nào đang bị kẹt thì phải khơi thông. Cụ thể là việc tháo gỡ hàng ngàn dự án BĐS đang bị tồn đọng. Khi đất đai được đưa vào khai thác, sử dụng thì không còn tình trạng lãng phí mà sẽ tạo ra giá trị cho nền kinh tế, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ gia tăng.
Không chỉ thế, việc Chính phủ ban hành hàng loạt nghị quyết để cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính mới đây cũng là một trong những hành động quyết liệt để tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng. Khi môi trường pháp lý rõ ràng, thủ tục điều kiện đơn giản hơn thì DN, người dân cũng mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Đồng thời, chi phí tuân thủ pháp lý của DN cũng giảm, tạo ra nguồn lực cho phát triển. “Lịch sử cho thấy sau những giai đoạn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế sẽ tạo ra các cú hích lớn, đưa kinh tế phát triển mạnh hơn. Với hàng loạt chính sách quan trọng gần đây cho thấy Chính phủ đã xác định đúng trọng tâm, quyết tâm huy động tất cả nguồn lực của đất nước để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao mà Đảng đã đề ra”, TS Huỳnh Thanh Điền nhấn mạnh.
Theo Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, phạm vi quy hoạch bao gồm toàn bộ địa giới hành chính của Thủ đô với 126 đơn vị hành chính cấp xã gồm 51 phường và 75 xã, trên diện tích khoảng 3.359,84km2.
Thành phố dự báo dân số Hà Nội đến năm 2035 đạt khoảng 14-15 triệu người; đến năm 2065 khoảng 17-19 triệu người và khống chế quy mô tối đa không quá 20 triệu người trong dài hạn.
Quy hoạch xác định quan điểm xuyên suốt là xây dựng Thủ đô phát triển nhanh, bền vững, thông minh, hiện đại, lấy con người làm trung tâm; đồng thời gắn chặt với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thích ứng biến đổi khí hậu.
Hà Nội sẽ phát triển theo cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm", trong đó lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái-văn hóa chủ đạo của toàn đô thị.
Một trong những nội dung người dân đặc biệt quan tâm là định hướng phát triển không gian dọc sông Hồng.
Theo quy hoạch, "Cực sông Hồng" được xác định là cực phát triển và không gian cảnh quan đặc biệt đa chức năng, là trung tâm văn hóa, tài chính, thương mại dịch vụ, du lịch và động lực phát triển mới của Thủ đô.
Thành phố đồng thời xác lập "Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng" là trục chiến lược, không gian xanh trung tâm, kết hợp phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị sáng tạo, khoa học công nghệ dọc hai bên sông. Quy hoạch định hướng đây sẽ trở thành biểu tượng mới của Hà Nội hiện đại, văn minh, nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa Thăng Long.
Theo định hướng, Đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ triển khai theo nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu tập trung đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở; các giai đoạn tiếp theo mở rộng về phía tây và phía nam thành phố.
Quy hoạch cũng đặt mục tiêu tăng cường kết nối hai bên sông Hồng bằng hệ thống cầu, các tuyến đường vành đai và hành lang đô thị mới nhằm hình thành không gian phát triển liên hoàn từ Hà Nội tới Văn Giang, Phố Hiến (Hưng Yên).
Không chỉ phát triển không gian cảnh quan, quy hoạch còn đặt mục tiêu "hồi sinh các dòng sông" của Thủ đô.
Thành phố dự kiến phục hồi các dòng sông: Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, Tích, Cầu Bây; nghiên cứu xây dựng các đập dâng trên sông Hồng, sông Đuống nhằm quản trị tổng hợp lưu vực, cải thiện môi trường nước và chống úng ngập.
Đáng chú ý, thành phố định hướng xóa cơ bản tình trạng ngập úng bằng hệ thống hồ điều hòa, công trình tiêu thoát nước và các bể ngầm trữ nước mưa; đồng thời tách, xử lý nước thải triệt để trước khi tái sử dụng. Đây được xem là giải pháp căn cơ cho các vấn đề đô thị mà người dân Thủ đô quan tâm nhiều năm qua.
Về tổ chức không gian đô thị, Hà Nội sẽ hình thành 9 cực tăng trưởng, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực phát triển.
Trong đó, phía bắc tập trung phát triển đô thị dịch vụ, logistics, công nghệ cao gắn với sân bay Nội Bài; phía tây là đô thị khoa học công nghệ Hòa Lạc; phía nam phát triển công nghiệp, logistics và sân bay thứ hai của Hà Nội; phía tây bắc là đô thị văn hóa, du lịch sinh thái Sơn Tây-Ba Vì.
Quy hoạch cũng nhấn mạnh chiến lược tái cấu trúc khu vực nội đô lịch sử.
Thành phố sẽ giảm mật độ xây dựng tại khu vực trung tâm, ưu tiên quỹ đất cho công viên, cây xanh và không gian công cộng; đồng thời bảo tồn các khu vực có giá trị đặc thù như hồ Gươm, phố cổ, phố cũ, hồ Tây, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu-Quốc Tử Giám…
Cùng với đó, Hà Nội sẽ phát triển mạnh mô hình TOD (phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng), tập trung quanh các ga đường sắt đô thị lớn như Ngọc Hồi, ga Hà Nội, Gia Lâm, Yên Thường.
Quy hoạch hướng tới giảm áp lực giao thông nội đô, hạn chế phương tiện cá nhân và mở rộng không gian ngầm cho bãi đỗ xe, thương mại, hạ tầng kỹ thuật.
Một điểm mới đáng chú ý là định hướng phát triển đô thị đa tầng, đa lớp.
Theo đó, Hà Nội sẽ khai thác mạnh không gian ngầm với các tuyến metro, kho bãi, bãi đỗ xe và hệ thống hạ tầng kỹ thuật; đồng thời phát triển không gian trên cao tại các khu vực TOD và hành lang vành đai.
Thành phố đặt mục tiêu tỷ lệ không gian ngầm tại khu vực trung tâm đạt tối thiểu 20% diện tích đất vào năm 2045 và 40% vào năm 2065.
Đến năm 2035, Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; trung tâm nghiên cứu, phát triển; giữ vai trò hạt nhân trong các chuỗi liên kết phát triển vùng Thủ đô, vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Đến năm 2045, Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Đến năm 2065, Thủ đô Hà Nội là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới. Sau năm 2085, thành phố được định vị là siêu đô thị bền vững tiêu biểu, tác động quốc tế sâu rộng.
Theo quyết định được phê duyệt, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm sẽ trở thành căn cứ để lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn; đồng thời là nền tảng xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và cơ chế chính sách đặc thù của Thủ đô trong giai đoạn tới.
Điều đáng chú ý là TP. Hà Nội cũng yêu cầu rà soát toàn bộ các nhiệm vụ, dự án, quy hoạch đang triển khai để bảo đảm tính kế thừa và phù hợp với quy hoạch mới. Những nội dung không phù hợp phải được xác định rõ nguyên nhân, xử lý đúng quy định, bảo đảm "không hợp thức hóa các sai phạm".
VN-Index tiếp tục duy trì trạng thái giằng co quanh tham chiếu trong phần lớn thời gian giao dịch sáng 14/5 trước khi bứt tốc mạnh ở phiên chiều nhờ lực kéo từ nhóm vốn hóa lớn, đặc biệt là các cổ phiếu họ Vingroup và công nghệ. Đà tăng lan rộng về cuối phiên đã giúp thị trường thiết lập mức đỉnh lịch sử mới.
Khép lại phiên giao dịch, VN-Index tăng 27,09 điểm, tương ứng 1,43%, lên 1.925,46 điểm, mức cao nhất từ trước đến nay của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thanh khoản toàn thị trường duy trì ở mức cao với hơn 675 triệu cổ phiếu được giao dịch, tương ứng giá trị hơn 22.155 tỷ đồng. Trong đó, khối lượng khớp lệnh đạt gần 581 triệu đơn vị, còn giao dịch thỏa thuận đạt hơn 94 triệu đơn vị.
Trước đó trong phiên sáng, thị trường chủ yếu rung lắc nhẹ quanh tham chiếu với biên độ hẹp. Dù vậy, sắc xanh đã chiếm ưu thế trên bảng điện tử khi dòng tiền có dấu hiệu quay lại nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Chốt phiên sáng, VN-Index tăng hơn 20 điểm lên 1.918,15 điểm với 170 mã tăng và 111 mã giảm trên HoSE.
Điểm nhấn đáng chú ý trong ngày đến từ cổ phiếu FPT khi tăng mạnh 4,53% lên 73.900 đồng/cổ phiếu, thanh khoản dẫn đầu sàn HoSE với hơn 21,5 triệu đơn vị khớp lệnh. Đà hồi phục của FPT diễn ra sau giai đoạn điều chỉnh kéo dài, trong bối cảnh cổ phiếu này từng lùi về vùng giá thấp nhất kể từ đầu năm 2024.
Nhóm công nghệ nhờ đó trở thành một trong những nhóm tăng mạnh nhất thị trường với chỉ số ngành tăng 1,82%. Ngoài FPT, một số mã khác như CMG tăng 2,2%, ELC tăng 0,61%, trong khi GEE giảm gần 2%.
Ở nhóm bất động sản, các cổ phiếu thuộc hệ sinh thái Vingroup tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt thị trường. VIC tăng gần 4% lên 229.800 đồng/cổ phiếu, trong khi VHM tăng 2,95% và VRE tăng 3,48%.
Nhiều mã bất động sản khác cũng giao dịch tích cực như DIG tăng 1,37%, PDR tăng 1,22%, KDH tăng 1,93%. Tuy nhiên, mức tăng trong nhóm này vẫn có sự phân hóa khi NVL giảm nhẹ 0,3% còn DXG gần như đi ngang.
Chỉ số ngành bất động sản đóng cửa tăng mạnh nhất thị trường với mức tăng 2,89%, thu hút gần 3.905 tỷ đồng giá trị giao dịch.
Nhóm tài chính cũng đồng thuận đi lên, hỗ trợ đáng kể cho đà tăng chung của VN-Index. ACB tăng 1,33%, BID tăng 1,75%, TCB tăng 1,19%, TPB tăng 1,6% và SSI tăng hơn 1%.
Chỉ số ngành tài chính tăng 1,03% với giá trị giao dịch dẫn đầu thị trường, đạt hơn 6.817 tỷ đồng.
Trong khi đó, nhóm dịch vụ hạ tầng giao dịch khá tích cực nhờ GAS tăng 2,2%, QTP tăng 3,33% và ASP tăng gần 4,8%. Tuy nhiên, diễn biến giữa các cổ phiếu vẫn có sự đan xen khi POW giảm 1,41%, REE giảm 0,66%.
Ngược lại, năng lượng và vật liệu cơ bản là hai nhóm ngành hiếm hoi giảm điểm trong phiên. Ở nhóm dầu khí, PLX giảm 1,24%, PVD giảm 1,92%, PVS giảm 1,22%. Với nhóm vật liệu cơ bản, HPG giảm nhẹ 0,18%, GVR giảm 1,63%, DPM giảm 1,47%, dù DGC vẫn tăng hơn 2,6%.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ngân hàng liên tục biến động và chưa ổn định, thị trường bất động sản bước vào giai đoạn trầm lắng rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp thừa nhận đây là thời điểm "khó bán hàng nhất trong nhiều năm" khi cả cung và cầu đều chịu áp lực từ chi phí vốn gia tăng.
Thực tế cho thấy, việc tiếp cận tín dụng để phát triển dự án hiện không hề dễ dàng. Trao đổi với phóng viên, ông Võ Quốc Đức – Giám đốc Ban Tài chính Kế toán Công ty CP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc Nova (Novaland) cho biết lãi suất cho vay từ đầu năm 2026 tăng mạnh, phổ biến ở mức 20–30% thậm chí cao hơn ở một số lĩnh vực. Diễn biến này tác động trực tiếp đến toàn thị trường bất động sản.
Theo ông Đức, lãi vay tăng khiến chi phí tài chính đội lên, bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp. Đáng chú ý nhiều dự án đã ký hợp đồng tín dụng từ năm 2025 với thời gian triển khai kéo dài 5–6 năm và giai đoạn giải ngân dự kiến 2–3 năm nhưng sang năm 2026 lại bị ngân hàng giải ngân cầm chừng, chỉ đạt khoảng 10–20% hoặc chưa được bố trí hạn mức tín dụng".
Trong khi đó, tiến độ bán hàng và kế hoạch bàn giao nhà đã được xác định từ trước. Việc siết room tín dụng vào thời điểm này gây ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xây dựng, thanh toán cho nhà thầu và buộc doanh nghiệp phải đàm phán lại với các bên liên quan. Hệ quả là kế hoạch nhận nhà, bàn giao nhà của khách hàng cũng bị điều chỉnh.
Ở phía người mua, áp lực tài chính ngày càng rõ nét. Nhiều khách hàng đã ký hợp đồng và thanh toán theo tiến độ xây dựng dựa trên mặt bằng lãi suất trước năm 2025. Tuy nhiên, khi lãi vay tăng cao khả năng tiếp cận vốn bị thu hẹp, thậm chí mất kênh vay khiến năng lực chi trả suy giảm.
"Chỉ cần một biến động nhỏ về lãi suất cũng có thể khiến một dự án từng được đánh giá khả thi trở nên rủi ro.
Khi người mua không đủ khả năng tiếp tục thanh toán nếu chủ đầu tư không đủ tiềm lực tài chính sẽ dễ rơi vào nợ xấu. Việc siết room tín dụng không chỉ ảnh hưởng riêng lẻ mà còn tạo hiệu ứng dây chuyền lên toàn thị trường", ông Đức nhấn mạnh.
Khó khăn càng chồng chất đối với các dự án mới. Dù đã được đánh giá khả thi và làm việc sơ bộ với ngân hàng, nhiều dự án vẫn khó tiếp cận hạn mức tín dụng trong năm nay.
"Ngay cả các dự án đã được cấp room cũng chưa thể giải ngân theo kế hoạch, trong khi những dự án đang chuẩn bị triển khai chỉ được giải ngân một phần nhỏ so với cam kết ban đầu. Tình hình này ảnh hưởng nhiều đến các dự án đã và sắp triển khai của doanh nghiệp", ông Đức nói.
Đại diện Novaland cho rằng, đối với doanh nghiệp bất động sản, thị trường tài chính và hạn mức tín dụng đóng vai trò then chốt. Việc siết room đột ngột không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn tác động đến các dự án nhà ở, đặc biệt là phân khúc đáp ứng nhu cầu thực của người dân.
Từ thực tế đó, doanh nghiệp kiến nghị các ngân hàng xem xét điều chỉnh mặt bằng lãi suất theo hướng giảm dần để hỗ trợ người mua nhà. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần có cơ chế điều hành room tín dụng linh hoạt hơn.
Nếu trước đây hạn mức tín dụng được phân bổ theo năm thì việc chuyển sang phân bổ theo quý với thời gian ngắn đang khiến cả ngân hàng, doanh nghiệp và người mua nhà rơi vào thế bị động.
Không chỉ phân khúc nhà ở thương mại, nhà ở xã hội vốn được kỳ vọng là điểm sáng cũng đang gặp vướng mắc về vốn. Ông Lê Hữu Nghĩa – Giám đốc Công ty Lê Thành cho biết doanh nghiệp hiện có dự án quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng đã hoàn thành phần móng nhưng buộc phải tạm dừng do không tiếp cận được vốn vay.
Theo ông Nghĩa, dù thuộc diện được hưởng gói tín dụng ưu đãi 145.000 tỷ đồng của Chính phủ, doanh nghiệp vẫn bị ngân hàng từ chối cho vay với lãi suất 6,1%/năm. Nguyên nhân là chi phí huy động vốn của ngân hàng đang ở mức cao nếu cho vay với lãi suất ưu đãi sẽ không đảm bảo hiệu quả tài chính.
Ngay cả khi doanh nghiệp đề nghị vay theo lãi suất thương mại, ngân hàng cũng không chấp thuận do lo ngại rủi ro pháp lý khi cho vay không đúng đối tượng. Điều này khiến doanh nghiệp rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan" khi dự án đã triển khai nhưng không thể tiếp tục.
Từ thực tiễn này có thể thấy ngay cả những phân khúc được ưu tiên về chính sách cũng chưa thể tiếp cận nguồn vốn một cách thuận lợi cho thấy những điểm nghẽn trong cơ chế triển khai vẫn chưa được tháo gỡ.
Ở góc độ chuyên gia, TS. Nguyễn Duy Phương – Giám đốc đầu tư tài chính DG Capital nhận định, điểm yếu cốt lõi của doanh nghiệp bất động sản vẫn là sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng.
Trong khi đó, chu kỳ thắt chặt và nới lỏng tín dụng có xu hướng lặp lại sau mỗi 4–5 năm khiến thị trường luôn đối mặt với rủi ro mang tính chu kỳ.
Theo ông, áp lực hiện tại chưa đến mức khủng hoảng nhưng đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tái cấu trúc nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hướng tới các kênh huy động dài hạn hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là kênh trái phiếu doanh nghiệp, không chỉ cho lĩnh vực bất động sản mà cho toàn bộ nền kinh tế. Đa dạng hóa nguồn vốn được xem là giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và tạo nền tảng ổn định cho thị trường trong dài hạn.
Đồng quan điểm, TS. Đinh Thế Hiển cho rằng để phát triển bền vững doanh nghiệp bất động sản cần thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn sang các nguồn vốn trung và dài hạn.
Theo đó hoạt động đầu tư cần quay về đúng bản chất, dựa trên dòng vốn dài hạn, minh bạch và ổn định hơn. Chỉ khi tách bạch được vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng với nhu cầu đầu tư dài hạn, thị trường mới có thể thoát khỏi vòng xoáy "giải cứu" và vận hành theo giá trị thực.
Ở góc độ chính sách, các chuyên gia cho rằng cần có cách điều hành tín dụng linh hoạt hơn thay vì áp dụng cơ chế cứng nhắc. Việc định hướng dòng vốn vào các phân khúc đáp ứng nhu cầu thực như nhà ở, bất động sản công nghiệp hay logistics sẽ góp phần giúp thị trường phát triển cân bằng, hạn chế rủi ro lệch pha cung – cầu.