Bạn phát âm các từ được in đậm trong các câu dưới đây như thế nào?
– We weren’t very happy about the service (Chúng tôi không hài lòng lắm về chất lượng dịch vụ).
– I won’t go without you (Tôi sẽ không đi nếu không có bạn).
– Climate change affects the whole world (Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến toàn thế giới).
Xem hướng dẫn cách phát âm đúng ba từ này:
Tin Gốc: Vnexpress

Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên chiều 15.5, ông Hồ Tấn Minh, Chánh văn phòng Sở GD-ĐT TP.HCM, cho biết ngành giáo dục TP đang từng bước nghiên cứu mô hình tuyển sinh mới phù hợp với điều kiện từng địa phương sau khi sáp nhập trở thành đô thị giáo dục, có quy mô trường lớp lớn nhất cả nước. Cụ thể, từ năm học tới, một số khu vực có đủ cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục có thể triển khai phương thức xét tuyển lớp 10 thay vì tổ chức thi tuyển tập trung như hiện nay.
Theo Chánh văn phòng Sở GD-ĐT TP.HCM, năm học 2025 - 2026, TP.HCM có 169.972 học sinh (HS) lớp 9 hoàn thành chương trình THCS, đạt tỷ lệ gần 99,81%. Tuy nhiên, chỉ có 151.269 em đăng ký dự thi lớp 10 công lập. Điều này đồng nghĩa khoảng hơn 17.000 HS đã lựa chọn những hướng đi khác ngoài hệ thống trường THPT công lập.
Con số này phản ánh rõ xu hướng phân luồng giáo dục đang dần phát huy hiệu quả. Thay vì tập trung bằng mọi giá vào trường công lập, nhiều HS và phụ huynh đã chủ động lựa chọn học nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường quốc tế hoặc các mô hình đào tạo kỹ năng chuyên sâu.
Ông Hồ Tấn Minh nhận định việc đa dạng hóa lựa chọn học tập là xu thế tất yếu của đô thị lớn như TP.HCM. Mục tiêu của ngành giáo dục không chỉ dừng lại ở việc tổ chức kỳ thi an toàn mà còn hướng đến xây dựng hệ sinh thái giáo dục linh hoạt để HS có nhiều cơ hội phát triển phù hợp với năng lực cá nhân.
Từ nhiều năm nay, TP.HCM đã ban hành bộ tiêu chuẩn tạm thời phổ cập bậc trung học (trong đó bao gồm cấp THCS, THPT) để tiến tới phổ cập cấp THPT theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Với chủ trương này, khi các loại hình trường phổ thông và tương đương bao gồm trường THPT công lập và ngoài công lập, trường trung học nghề, trung tâm GDNN-GDTX, được hình thành bài bản thì HS có thể lựa chọn cho mình loại hình học tập phù hợp với năng lực, điều kiện gia đình, định hướng nghề nghiệp...
Như vậy TP sẽ tiến tới không tổ chức thi tuyển đại trà mà sẽ thực hiện phương thức xét tuyển vào cấp THPT với tiêu chí đảm bảo công bằng, HS học tập theo đúng năng lực, nguyện vọng và đảm bảo gần nhà.
"Khi các loại hình trường đảm bảo thực hiện chủ trương thì Sở sẽ nghiên cứu xây dựng các tiêu chí xét tuyển không chỉ đảm quyền lợi của HS mà còn để các trường THPT tuyển chọn được HS có nguyện vọng, phù hợp với định hướng phát triển của mỗi nhà trường", ông Minh nhấn mạnh.
Cũng theo ông Minh, năm học 2026 - 2027, năm đầu tiên tuyển sinh sau sáp nhập, TP.HCM có xã Thạnh An, đặc khu Côn Đảo thực hiện xét tuyển lớp 10. Trong những năm học tiếp theo, Sở GD-ĐT sẽ tiếp tục nghiên cứu để mở rộng ở những khu vực đủ điều kiện về cơ sở vật chất, số lượng HS...
Để hiện thực hóa lộ trình giảm áp lực tuyển sinh, bài toán quan trọng nhất theo ngành giáo dục TP.HCM chính là cơ sở vật chất. TP hiện triển khai "chiến dịch 150 ngày" nhằm hoàn thành khoảng 1.000 phòng học mới phục vụ năm học 2026 - 2027.
Đồng thời hơn 100 dự án trường học đang được rà soát và đẩy nhanh tiến độ. Mục tiêu của TP. HCM là đạt tỷ lệ 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học, qua đó tạo điều kiện mở rộng quy mô tuyển sinh và giảm áp lực quá tải nhiều năm qua.
"Khi cơ sở vật chất được đảm bảo, TP sẽ có thêm dư địa để triển khai các mô hình tuyển sinh linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn thay vì áp dụng một phương thức chung cho toàn TP. Đây cũng được xem là nền tảng để TP.HCM tiến tới xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, lấy HS làm trung tâm thay vì đặt nặng thi cử như trước", ông Hồ Tấn Minh nhấn mạnh.
Để thực hiện việc xét tuyển thay cho thi tuyển vào lớp 10, nhiều ý kiến cho rằng cần có tiêu chí thực hiện xét tuyển để đảm bảo công bằng, không giảm động lực học tập. Đồng thời HS được học lớp 10 đúng nguyện vọng, chọn được loại hình trường phù hợp với năng lực và định hướng nghề nghiệp.
Hiệu phó một trường THPT ở khu vực từng thực hiện xét tuyển lớp 10 cách đây hơn 10 năm của TP.HCM cho rằng bên cạnh việc chuẩn bị đầy đủ trường lớp đáp ứng chủ trương xét tuyển thay cho thi tuyển để giảm áp lực căng thẳng cho HS thì việc xây dựng bộ tiêu chí tuyển sinh theo hình thức này rất quan trọng.
"Cần tính toán cẩn trọng, tổ chức theo từng khu vực và đáp ứng quyền lợi về nguyện vọng của HS. Vẫn nên thi tuyển vào những trường tốp đầu của TP vì cần nguồn nhân lực chất lượng cao, vì nhu cầu học tập ở những mô hình trường lớp của phụ huynh, HS khác nhau. Không thi tuyển chẳng có ai áp lực mà lo học cả, kéo theo những hệ lụy rất nguy hiểm không học vẫn lên lớp. Đặc biệt có thể dẫn đến những hệ lụy như "làm đẹp" học bạ nếu xét bằng học bạ, sự đánh giá mỗi trường mỗi khác, chưa đủ độ tin cậy…", hiệu phó này băn khoăn.
Ông Huỳnh Thanh Phú, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân (P.Bến Thành, TP.HCM), nêu 2 hướng tiếp cận.
Thứ nhất là phân tuyến theo địa giới hành chính. Cách làm này có ưu điểm rất rõ: giảm áp lực giao thông đô thị, giảm tình trạng HS di chuyển quá xa, đồng thời tạo nên mối liên kết cộng đồng. Tuy nhiên, phân tuyến hoàn toàn theo địa giới hành chính cũng tồn tại giới hạn. Phụ huynh luôn mong muốn con được học ở môi trường phù hợp, đội ngũ giáo viên chất lượng hơn… Nhu cầu ấy là chính đáng và phản ánh khát vọng phát triển của xã hội.
Hướng thứ hai là xét tuyển theo điểm học bạ. Cách tiếp cận này đánh giá cả quá trình học tập thay vì một thời điểm. Nhưng nếu không có chuẩn đánh giá thống nhất, "giá trị thật" của điểm số sẽ trở thành vấn đề rất phức tạp. Chênh lệch trong kiểm tra đánh giá giữa các trường có thể dẫn đến tâm lý so bì, mất niềm tin hoặc phát sinh tiêu cực. Khi đó, áp lực thi cử có thể được thay bằng áp lực "giữ điểm", "làm đẹp học bạ".
Từ thực tiễn ấy, Hiệu trưởng Trường THPT Bùi Thị Xuân cho rằng giải pháp phù hợp nhất đối với TP.HCM trong giai đoạn hiện nay là thực hiện song song thi tuyển và xét tuyển.
Những khu vực đã bảo đảm đủ chỗ học có thể xét tuyển theo địa giới hành chính kết hợp học bạ. Các trường vùng sâu, vùng xa hoặc nhóm trường tốp cuối có thể ưu tiên xét tuyển để giảm áp lực cho HS.
Trong khi đó, các trường chuyên, trường tốp đầu, trường tiên tiến - hội nhập quốc tế vẫn nên duy trì thi tuyển. Đây không chỉ là nhu cầu phân hóa giáo dục mà còn là cơ chế phát hiện, bồi dưỡng HS có năng lực nổi trội cho TP và đất nước.
Theo ông Phú, muốn xét học bạ thật sự công bằng, cần xây dựng một hệ thống đánh giá thống nhất ở quy mô toàn đô thị. Trước hết phải có khung chương trình chung cho tất cả các môn học. Đặc biệt, đề kiểm tra cuối kỳ lớp 9 nên được tổ chức chung toàn TP đối với những môn nền tảng. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa chất lượng đầu ra giữa các trường.
Điều này buộc các trường phải dạy thật, học thật, kiểm tra thật. Khi ấy, giáo dục THCS sẽ không còn tình trạng dạy lệch, học lệch chỉ tập trung vào toán, ngữ văn và tiếng Anh mà xem nhẹ các môn khoa học tự nhiên, lịch sử, công nghệ hay giáo dục công dân.
Song song đó, ngành giáo dục và chính quyền địa phương cần tăng cường giám sát hoạt động kiểm tra đánh giá, bảo đảm tính minh bạch trong nhập điểm, lưu trữ dữ liệu và đối sánh kết quả học tập.
Ngoài ra, muốn xét tuyển lớp 10 hiệu quả, ông Phú đề xuất TP phải chuẩn bị đầy đủ hạ tầng giáo dục. Nếu số lượng chỗ học vẫn thiếu so với nhu cầu thì dù thi tuyển hay xét tuyển cũng đều tạo áp lực cạnh tranh rất lớn. Khi chỗ học được bảo đảm, áp lực tuyển sinh tự nhiên sẽ giảm xuống.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/chi-tieu-lop-10-tat-ca-truong-thpt-cong-lap-ha-noi-2026-5058617.html

Hàng loạt giáo viên (GV) THPT của tỉnh Phú Thọ (cũ) gửi phản ánh tới Báo Thanh Niên về việc 10 năm qua tỉnh này chưa một lần tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp (CDNN) cho GV THPT. Đến thời điểm hết tháng 3.2026, tại tỉnh Phú Thọ (cũ), GV tiểu học và THCS đã được rà soát, bổ nhiệm, chuyển xếp và thăng hạng theo quy định; trong khi đó gần như toàn bộ GV THPT chưa được tổ chức xét thăng hạng, mặc dù nhiều GV đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Theo Văn bản số 1934/SGD-ĐT-TCCB ngày 23.12.2024 của Sở GD-ĐT Phú Thọ gửi Sở Nội vụ (đơn vị tỉnh cũ), toàn tỉnh có 2.242 cán bộ quản lý và GV THPT, trong đó chỉ có 8 người (chiếm khoảng 0,4%) giữ CDNN hạng II, còn lại 1.242 GV (chiếm khoảng 63%) vẫn đang giữ hạng III nhưng đủ tiêu chuẩn, điều kiện để xét thăng hạng. Điều này cho thấy nhu cầu và điều kiện thăng hạng đã rất rõ ràng từ thực tiễn.
Cô giáo Trần Thị Vĩnh, GV Trường THPT chuyên Hùng Vương, cho biết: Ngày 23.12.2024, Sở GD-ĐT Phú Thọ đã có văn bản đề nghị Sở Nội vụ xem xét, tổ chức xét thăng hạng cho GV THPT theo quy định hiện hành.
Gần đây nhất, ngày 26.2, Sở GD-ĐT Phú Thọ ban hành Văn bản 553 giải thích về việc chưa triển khai xét thăng hạng cho GV THPT: "Theo quy định tại luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1.1.2026, CDNN viên chức GV không còn quy định theo hạng (hạng I, hạng II, hạng III), thay vào đó luật quy định CDNN GV mầm non, phổ thông, bao gồm: GV, GV chính, GV cao cấp. Hiện tại, Bộ GD-ĐT chưa ban hành các thông tư quy định CDNN GV mầm non, phổ thông". Kết luận: "Chưa có cơ sở để triển khai".
"Câu hỏi đặt ra là tại sao khi luật Nhà giáo chưa có hiệu lực lại không tiến hành chuyển xếp hạng cho GV? Thời gian đó, cơ quan chức năng được phân công quản lý nhà giáo bậc THPT làm gì?", cô Vĩnh nêu vấn đề.
Chưa hết, theo cô Vĩnh, ngày 7.3, GV nhận được từ lãnh đạo trường Công văn 677 của Sở GD-ĐT Phú Thọ do ông Phùng Quốc Lập, Phó giám đốc Sở, ký. Về cơ sở pháp lý và thẩm quyền thực hiện, văn bản nêu: "Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Phú Thọ chưa ban hành quy định phân cấp quản lý cán bộ, công chức viên chức theo quy định hiện hành, do đó Sở GD-ĐT chưa được phân cấp tham mưu xét thăng hạng CDNN GV. Vì vậy, việc xem xét giải quyết các nội dung liên quan đến thăng hạng CDNN GV hiện nay chưa có đầy đủ có sở pháp lý và thẩm quyền để triển khai thực hiện".
"Thực tế nói trên khiến GV bậc THPT ở tỉnh Phú Thọ cũ cảm thấy bị các cấp quản lý bỏ quên, bị đối xử thiếu công bằng so với các cấp học khác trong cùng địa bàn, hoặc so với các đồng nghiệp cùng cấp học ở địa phương khác", cô Vĩnh nói, đồng thời cho rằng: "Việc trì hoãn này khiến cuộc sống của nhà giáo trở nên rất chật vật, danh dự và vị thế nghề nghiệp trong cái nhìn của xã hội cũng bị sa sút khá nhiều. Sau bao năm cống hiến và liên tục học tập để nâng cao trình độ, cuối cùng chỉ là GV hạng III - hạng thấp nhất trong bảng xếp loại GV công lập".
Không riêng Phú Thọ (cũ), nhiều GV ở các địa phương như Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai… cũng mòn mỏi chờ thăng hạng CDNN dù đầy đủ các điều kiện nhưng vẫn "mắc kẹt" vì địa phương không có văn bản hướng dẫn.
Một GV của tỉnh Bắc Ninh có hơn 20 năm công tác chia sẻ: "Mong được thăng hạng từ khi Thông tư 01, 02, 03/2021 ra đời, chờ đợi mỏi mòn mãi đến khi Thông tư 08/2023 chỉnh sửa bổ sung vẫn chưa thấy được thăng hạng. Lại đến khi Thông tư 13/2024 quy định mã số, tiêu chuẩn, điều kiện xét/thi thăng hạng, các văn bản yêu cầu xét thăng hạng cho GV… Đến nay 2026 vẫn chưa thấy thăng hạng đâu! Tôi nản rồi, hơn 10 năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cũng có để làm gì đâu...".
Thực tế, sự khác biệt quá lớn giữa các địa phương khiến nhiều GV chịu thiệt. Có nơi đã xét nhiều lần, có nơi chỉ xét một lần, có nơi chưa xét lần nào. Nhiều thầy cô sắp nghỉ hưu vẫn chưa được thăng hạng khiến họ vô cùng tâm tư.
Bằng "tâm thư" gửi Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn, kiến nghị gửi tới Báo Thanh Niên, GV THPT trên địa bàn Phú Thọ (cũ) mong muốn Bộ GD-ĐT chỉ đạo địa phương khẩn trương tổ chức xét thăng hạng CDNN GV THPT theo quy định hiện hành; có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình triển khai tại địa phương; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách được công bằng, thống nhất và kịp thời.
Trả lời về lý do chậm xét thăng hạng cho GV THPT thời gian qua, ông Phùng Quốc Lập, Phó giám đốc Sở GD-ĐT Phú Thọ, cho rằng trước hết là vướng mắc về xác định chỉ tiêu và cơ cấu CDNN. Việc thăng hạng phải gắn với cơ cấu hạng chức danh của từng đơn vị, đồng thời bảo đảm không làm mất cân đối đội ngũ và quỹ lương. Trong khi đó, nhu cầu thăng hạng của GV tương đối lớn, dẫn đến khó khăn trong việc xác định chỉ tiêu phù hợp, dễ phát sinh so sánh, kiến nghị.
Theo ông Lập, khó khăn nữa là việc áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Bộ GD-ĐT và Bộ Nội vụ. Mặt khác, bậc lương, hệ số lương của GV tiểu học, THCS, THPT trong cùng hạng CDNN là như nhau, nhưng điều kiện tiêu chuẩn yêu cầu đối với GV THPT lại cao hơn đối với GV tiểu học, THCS.
Khối lượng rà soát, thẩm định hồ sơ lớn, trong khi yêu cầu phải bảo đảm chặt chẽ, chính xác, đúng đối tượng. Nếu thực hiện không kỹ dễ dẫn đến sai sót, khiếu nại sau này; nhưng nếu làm quá thận trọng lại ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.
Việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình thẩm định, phê duyệt (như nội vụ, tài chính...) cần có thời gian để thống nhất, đặc biệt đối với các nội dung liên quan đến chỉ tiêu, kinh phí, xếp lương sau thăng hạng.
Ngày 18.4, Sở GD-ĐT Phú Thọ thông tin Sở đã có tờ trình gửi UBND tỉnh về việc đề nghị phê duyệt chỉ tiêu và ủy quyền tổ chức xét thăng hạng CDNN viên chức các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT năm 2026. Theo đó, Sở GD-ĐT đề xuất UBND tỉnh xem xét, phê duyệt chỉ tiêu xét thăng hạng CDNN đối với viên chức tại các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT, đồng thời ủy quyền cho Sở GD-ĐT tổ chức việc xét thăng hạng CDNN đối với viên chức GV các đơn vị trực thuộc năm 2026, nhằm đảm bảo tính chủ động và tiến độ trong công tác xét thăng hạng.
"Ngay sau khi được UBND tỉnh phê duyệt, Sở GD-ĐT sẽ khẩn trương triển khai các bước tiếp theo, bảo đảm quy trình xét thăng hạng được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật", Sở này thông tin.
Nhiều GV THPT của tỉnh Phú Thọ cho biết họ đón nhận thông tin này với tâm trạng vừa mừng vừa lo. Mừng vì Sở cho biết đã trình UBND tỉnh và đã xây dựng dự thảo đề án, nhưng các GV cũng lo chưa biết dự thảo đề án đó ra sao; lo vì đã từng có nhiều lần đề xuất, chỉ đạo của các cấp từ bộ đến tỉnh nhưng việc thực thi ở cơ sở vẫn chậm trễ.
Sau khi nhập tỉnh Phú Thọ mới (từ các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình), số liệu thống kê cho thấy có sự chênh lệch rất lớn. Nếu như tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) có tới 1.261 GV THPT hạng II, Hòa Bình có 183 thì Phú Thọ có 10 GV. Điều này dẫn tới tình trạng sau sáp nhập tỉnh, có những trường THPT có 70 - 80% GV hạng II, nhưng cũng có trường hiện chưa có hoặc rất ít. Trong khi đó, vị trí việc làm, quy mô, nhiệm vụ lại tương đương nhau. Nếu áp chỉ tiêu chung cho tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập sẽ không phù hợp.
Cô Trần Thị Vĩnh thay mặt các GV THPT đang chờ thăng hạng nêu quan điểm: "Quan trọng hơn hết, vì việc tổ chức thăng hạng cho GV THPT ở tỉnh Phú Thọ cũ đã bị trì hoãn tới 10 năm, nên chúng tôi mong muốn là nhà giáo đủ tiêu chuẩn thì được thăng hạng. Nếu 10 năm qua, tỉnh Phú Thọ cũ đã tổ chức thăng hạng cho GV THPT một đôi lần, thì lần này áp chỉ tiêu còn có thể hiểu được. Việc áp chỉ tiêu với nhà giáo sau khi đã làm việc, cống hiến rồi chờ đợi hơn ba ngàn ngày, và có thể bị "trượt" vì chỉ tiêu là không hợp lý hợp tình".
Tin Gốc: Thanh Niên

