UBND TP. Hà Nội vừa phê duyệt đề án “Phát triển kinh tế đêm trên địa bàn TP.Hà Nội giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045”.
Theo định hướng của đề án, Hà Nội sẽ phát triển 6 không gian kinh tế đêm đồng bộ với quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội, tuân thủ nguyên tắc phân bố hợp lý giữa khu vực trung tâm và các khu vực đô thị mở rộng nhằm phát huy giá trị di sản và hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống cư dân.
Cụ thể, một là không gian kinh tế đêm tại trung tâm lịch sử và di sản ở khu vực Hoàn Kiếm, khu phố cổ, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, “Tứ Trấn” và vùng phụ cận. Đây được định vị là lõi du lịch văn hóa đêm của thành phố nên khai thác chiều sâu văn hóa và giá trị di sản. Đồng thời tập trung phát triển du lịch văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, trải nghiệm di sản và ẩm thực truyền thống, đi kèm với việc kiểm soát nghiêm ngặt về môi trường và trật tự đô thị.
Hai là không gian kinh tế đêm gắn với các khu vực văn hóa nghệ thuật và sáng tạo, ở các tuyến phố đi bộ, công viên, khu hồ Tây và vùng phụ cận… Nơi đây sẽ tổ chức các hoạt động nghệ thuật, trình diễn ánh sáng, sự kiện văn hóa, lễ hội, thu hút lực lượng nghệ sĩ, nhà sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa.
Ba là không gian kinh tế đêm gắn với các khu vực dịch vụ – thương mại và đô thị mới ở phía tây hồ Tây, Hòa Lạc, Hà Đông, Cầu Giấy… Theo đó sẽ phát triển các tổ hợp dịch vụ kinh tế đêm quy mô lớn như trung tâm thương mại, mua sắm, vui chơi giải trí, thể thao và chăm sóc sức khỏe… Áp dụng khung thời gian linh hoạt, từng bước tiến tới hoạt động kéo dài nhằm giảm tải áp lực cho khu vực trung tâm lịch sử.
Bốn là không gian kinh tế đêm gắn với các tuyến cảnh quan và hành lang sinh thái đô thị. Năm là không gian kinh tế đêm gắn với các lễ hội, làng nghề và không gian văn hóa truyền thống.
Sáu là không gian kinh tế đêm ở trục cảnh quan sông Hồng. Trục cảnh quan này được định hướng dự kiến vào năm 2030 trở thành trung tâm văn hóa nghệ thuật, thương mại dịch vụ Hà Nội, trở thành khu kinh tế đêm văn hóa – sáng tạo, điểm đến biểu tượng của Hà Nội về đêm đẳng cấp…
Nội dung đề án cũng thể hiện, giai đoạn 2026 – 2030 sẽ tập trung ưu tiên các dự án mũi nhọn có tính chất dẫn dắt, làm cơ sở tổ chức không gian, huy động nguồn lực, hoàn thiện cơ chế và hình thành thương hiệu “Đêm Hà Nội”.
Theo đó, cụm “Đêm di sản Thăng Long” giúp tập trung hình thành chuỗi trải nghiệm đêm chất lượng cao tại khu vực lõi di sản và văn hóa của thủ đô. Khu sáng tạo đêm ở hồ Tây và phụ cận sẽ tập trung phát triển một cực tăng trưởng mới của kinh tế đêm theo hướng sáng tạo – cộng đồng – giới trẻ đô thị, góp phần mở rộng không gian kinh tế đêm ra ngoài khu vực lõi trung tâm.
Đề án cũng đặt ra chuỗi “Hà Nội 24 – 48 giờ cuối tuần”. Tập trung thiết kế các hành trình trải nghiệm ngắn ngày, nghỉ dưỡng, kết nối không gian đêm nội đô với các khu vực ven đô, làng nghề, sinh thái và dịch vụ cuối tuần, qua đó mở rộng thị trường nền cho kinh tế đêm…
Hà Nội cho biết, thành phố đang có nền cầu khá lớn cho tiêu dùng ban đêm. Năm 2025 thành phố đặt mục tiêu đón 31 triệu lượt khách, trong đó 7,5 triệu khách quốc tế; riêng 6 tháng đầu năm 2025 đã đạt khoảng 3,66 triệu khách quốc tế và gần 12 triệu khách nội địa. Sang đầu năm 2026, đà tăng vẫn tiếp tục, với tháng 2.2026 ghi nhận khoảng 680.800 khách quốc tế và 2,5 triệu khách nội địa.
Tuy nhiên, đặc điểm chung của “thị trường đêm” Hà Nội hiện nay là “cầu có thật nhưng cung chưa theo kịp”. Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho thấy tiêu dùng ban đêm vẫn chủ yếu tập trung vào ẩm thực, dạo bộ, giải trí nhẹ và mua sắm giá trị thấp. Sau khoảng 23 giờ, dịch vụ đêm giảm mạnh, thiếu các tổ hợp vui chơi, nghệ thuật, mua sắm và chăm sóc sức khỏe quy mô lớn, liên kết tốt.
Điều này làm cho hành vi chi tiêu ban đêm của các nhóm khách nhìn chung còn hạn chế, khó chuyển từ tiêu dùng ngẫu hứng sang tiêu dùng trải nghiệm có giá trị cao.
Ngày 23.6, Công an thành phố Đồng Nai cho biết, đang triển khai kế hoạch tổng rà soát, kiểm tra, phát hiện và xử lý người nước ngoài vi phạm về xuất nhập cảnh, cư trú, lao động trên địa bàn, trong thời gian 50 ngày.
Cụ thể, theo kế hoạch, trong thời gian 50 ngày (từ ngày 17.6 đến 5.8), lực lượng công an sẽ đồng loạt kiểm tra, rà soát xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh, cư trú, lao động và các hành vi vi phạm khác, góp phần bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn.
Để đảm bảo đợt tổng kiểm tra đạt hiệu quả cao nhất, lãnh đạo Công an thành phố Đồng Nai đã yêu cầu Phòng Quản lý xuất nhập cảnh chủ trì, phối hợp các phòng nghiệp vụ, công an cấp xã và các đơn vị liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, kiểm tra, xử lý các trường hợp có dấu hiệu vi phạm để quản lý, xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở lưu trú, doanh nghiệp, khu công nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về khai báo tạm trú, lưu trú; đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến đối với các thủ tục liên quan đến người nước ngoài.
Quá trình thực hiện không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp, công ty.
Theo thống kê, 6 tháng đầu năm 2026, Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh Công an thành phố Đồng Nai đã kiểm tra, phát hiện, xử phạt vi phạm hành chính 260 cá nhân, tổ chức vi phạm và đã tổ chức trục xuất 129 người nước ngoài vi phạm pháp luật về xuất, nhập cảnh; đã khởi tố 3 vụ việc, chuyển Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đồng Nai điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Nắng trải vàng khắp xóm làng. Khách tham quan Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đứng trong bóng râm nghe chuyện cá, mắm thuở trước.
Khi ấy, biển nhiều tôm cá. Ngư dân nơi này chỉ có chiếc ghe nan cùng những tấm lưới để mưu sinh trên vùng biển gần bờ. Ban ngày, họ ra bờ biển hứng gió từ khơi xa thổi vào xóm làng. Họ ngồi trên bãi cát mịn màng nhìn những cơn sóng tiếp nối vỗ vào bờ. Lòng khấp khởi mừng thầm khi phát hiện cá vào gần. Cá chen chúc bơi lượn, tung mình lên cao giữa sóng nước lô xô.
Hai ngư dân đẩy ghe ra mép nước rồi hối hả chèo, vượt qua những con sóng bạc đầu. Nhiều ghe nối tiếp rời bờ. Ngư dân khua chèo nhịp nhàng, đôi tay bạn chài thoăn thoắt buông lưới vào lòng biển. Ghe và người lắc lư trên sóng nước trình diễn vũ điệu mưu sinh.
Hồi lâu, họ thu lưới. Cá dính lưới vẫy vùng tìm cách thoát thân khi bị kéo lên khỏi nước. Gương mặt sạm đen vì nắng gió rạng ngời niềm vui.
Ghe vào bờ và được kéo lên bãi cát mịn màng. Những người mẹ, người vợ ùa đến gỡ cá ra khỏi lưới, cười nói xôn xao.
Cá được cho vào đôi thúng và gánh về làng. Cá nhiều, ăn chẳng hết nên họ gánh đi bán nhiều nơi. Phụ nữ cho muối vào chảo nước sôi trên bếp lửa bập bùng. Họ rửa sạch cá và xếp vào rổ tre rồi cho vào chảo trụng chín trước khi nhấc ra để ráo nước. Cá lớn thì mổ bụng, xẻ làm đôi rồi rửa sạch, cho vào trụng trong nước sôi.
Những rổ cá trụng chín dần nguội thì phủ lá chuối, xếp chồng lên nhau đặt vào gióng mây trước khi quảy gánh rời nhà.
Bà Bùi Thị Vân (67 tuổi) từng cùng người làng gánh cá vượt qua những con đường gập ghềnh sỏi đá. Khi thấm mệt, họ dừng chân ngơi nghỉ, đùa vui đôi câu chuyện phiếm cho vơi nỗi nhọc nhằn. Đến nơi đã định, họ chia tay và mỗi người một ngã.
"Cá đây... Ai mua cá không?", tiếng rao quen thuộc vang trên những nẻo đường quê. Nụ cười tươi xua mỏi mệt khi có người gọi với theo, bảo dừng chân để mua cá. Bà Vân trao mớ cá đậm đà hương vị biển và nhận những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi từ tay người dân quê chất phác.
Gặp khi gia chủ túng bấn, bà sẵn lòng bán chịu (bán nợ), đến chuyến sau mới ghé lại lấy tiền. Thế là họ trở nên thân thiết, sẻ chia bao nỗi buồn vui trong đời.
"Trời tối mà đang ở xa thì vào nhà người quen ngủ nhờ rồi hôm sau mới về. Nhiều người tốt bụng lắm", bà Vân tâm sự.
Ở tuổi 93, cụ Trần Thị Chín nhớ như in những ngày gánh mắm đổi lúa thuở trước. Sau tết, ngư dân trúng đậm cá trích, cá nục, cá cơm... Cá nhiều quá nên muối mắm. Người làng trộn cá với muối Sa Huỳnh rồi cho vào thùng đậy kín nắp. Sau đó, họ múc sang đôi thùng đan bằng tre và trét dầu rái, rồi gánh rong ruổi khắp nẻo đường quê.
Lắm khi, cụ Chín cùng người làng gánh mắm lên đổi lúa tận non cao. Họ tụ họp thành nhóm đông người để qua đoạn đường rừng um tùm cây cối, phòng thú dữ tấn công. Đòn gánh kẽo kẹt trên vai cả ngày dài.
Trưa nắng, họ ngồi nghỉ trong bóng râm và cùng nhau hát hố (một làn điệu dân ca gắn liền với đời sống của người lao động Quảng Ngãi - PV). Những lời ca dí dỏm khiến mọi người cất tiếng cười vui. Chiều tối, họ vào quán bên đường mượn nồi nấu cơm ăn qua bữa rồi nghỉ ngơi khi cơ thể rã rời. Sớm tinh sương, mỗi người múc cho chủ quán tô mắm mặn mà rồi cất bước ra đi.
Tới bản làng xa, họ chia nhau rảo bước trên đường mòn đến những ngôi nhà sàn ẩn hiện lưng chừng núi. Mắm đổi lúa vì ngày đó đồng bào miền ngược không dùng tiền như dưới xuôi. Lúa đổi nhiều không gánh hết thì đổ vào bao rồi gửi lại nhà người quen.
"Hồi đó, có nhiều ông kéo cộ chở muối đi đổi lúa. Họ đổi được ít lúa nên khi về chở giùm lúa cho chúng tôi...", cụ Chín nhớ lại.
Kỳ 2 - Cá từ biển lên rừng: Cõng cá, mắm lên rừng nuôi thương binh