Đặc biệt bảo đảm nguồn dầu thô cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước, cùng nguồn cung các sản phẩm xăng dầu, khí… góp phần quan trọng ổn định thị trường, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
4 tháng đầu năm trải qua nhiều khó khăn, thách thức từ biến động năng lượng toàn cầu. Bám sát các chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ/ngành, Petrovietnam đã chủ động triển khai các giải pháp ứng phó kịp thời, duy trì nhịp độ sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn toàn hệ thống, góp phần bảo đảm cung ứng năng lượng, nhiên liệu cho nền kinh tế.
Tập đoàn đã nỗ lực duy trì vận hành công suất cao, ổn định, liên tục hai Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất, Nghi Sơn. Cùng với công tác đẩy mạnh thăm dò – khai thác, Petrovietnam chủ động tham mưu, đề xuất các cơ chế chính sách tìm kiếm các nguồn cung dầu thô bổ sung, qua đó, góp phần quan trọng bình ổn, đáp ứng tối đa nhu cầu xăng dầu trong nước.
Nhờ đó, toàn bộ 6 chỉ tiêu chủ yếu của Tập đoàn đều vượt kế hoạch 4 tháng, bao gồm khai thác dầu thô; khai thác khí; sản xuất điện; sản xuất xăng dầu (bao gồm NSRP); sản xuất đạm Urê; sản xuất NPK.
Điểm sáng trong hoạt động sản xuất kinh doanh 4 tháng đầu năm của Petrovietnam chính là chỉ tiêu sản lượng khai thác dầu thô tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng quý I/2026, khai thác dầu thô toàn Petrovietnam đạt 2,63 triệu tấn, tăng 10,4%; khai thác dầu thô trong nước tăng 12%.
Đây là kết quả tích cực khi Petrovietnam đã tích cực phát triển và đưa vào khai thác sớm mỏ mới, tối ưu sản lượng khai thác các mỏ hiện hữu bằng nhiều giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường đầy biến động do xung đột Trung Đông, Tập đoàn vẫn bảo đảm nguồn dầu thô cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước, cùng nguồn cung các sản phẩm xăng dầu, khí… góp phần quan trọng ổn định thị trường, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
4 tháng đầu năm cũng ghi nhận nỗ lực duy trì sản xuất kinh doanh, giữ vững chuỗi cung ứng của các đơn vị Petrovietnam trong bối cảnh thị trường năng lượng biến động.
Cụ thể, các đơn vị trong lĩnh vực thăm dò – khai thác của Petrovietnam như PVEP và Vietsovpetro tiếp tục duy trì sản lượng, tối ưu công suất trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu dầu thô cho các nhà máy lọc dầu trong nước. Quý I/2026, PVEP đạt tổng sản lượng khai thác 1,08 triệu tấn quy dầu, tăng 136% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, Vietsovpetro khai thác khoảng 770 nghìn tấn dầu/condensate và hơn 10 triệu m³ khí thiên nhiên, đồng thời đưa về bờ trên 210 triệu m³ khí.
Tháng 4 đã diễn ra Lễ ký kết và trao các văn kiện của Dự án phát triển mỏ Nam Du, Lô 46/07 và mỏ U Minh, Lô 51 giữa Petrovietnam và các đối tác.
PVEP-NCS và Vietsovpetro đạt dấu mốc tiến độ tại dự án Phát triển mỏ Đại Hùng Nam; PV Drilling đã hoàn tất tái khởi động và sẵn sàng đưa giàn khoan tự nâng đa năng PV DRILLING IX vào hoạt động thương mại từ tháng 4/2026.
Hiện Petrovietnam và các đơn vị thành viên đang triển khai nhiều giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và phát triển giếng mới nhằm gia tăng trữ lượng, tạo nền tảng duy trì sản lượng ổn định trong trung và dài hạn, củng cố năng lực tự chủ nguồn cung trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu biến động, khó dự báo.
Ở lĩnh vực lọc hóa dầu, BSR duy trì vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ổn định ở mức công suất cao, đạt khoảng 124-125% công suất bình quân quy đổi. Đây là mức vận hành tối ưu, cho phép nhà máy vừa bảo đảm an toàn, vừa tối đa hóa sản lượng để tận dụng giai đoạn thị trường thuận lợi. Trong quý I/2026, sản lượng sản xuất của BSR đạt hơn 1,99 triệu tấn sản phẩm các loại, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước, hỗ trợ bình ổn thị trường và giữ vững an ninh năng lượng quốc gia.
Đồng thời, BSR phối hợp cùng PVOIL đẩy mạnh triển khai lộ trình phát triển xăng sinh học E10, hình thành chuỗi sản xuất – phân phối, sẵn sàng cung ứng rộng rãi trên thị trường trên toàn quốc từ tháng 5/2026.
Trong kinh doanh xăng dầu, sản lượng của PVOIL quý I ước đạt hơn 1,6 triệu m³/tấn, tăng 27,7% so với cùng kỳ; đồng thời mở rộng nhập khẩu, chấp nhận chi phí cao để giữ vững nguồn cung. Toàn hệ thống tiếp tục mở rộng mạng lưới với 39 cửa hàng xăng dầu mới, nâng tổng số cửa hàng lên 988 cửa hàng trên toàn quốc.
Ở lĩnh vực công nghiệp khí, PV GAS đã kịp thời đưa về các lô hàng chiến lược giữa “tâm bão” thị trường. Điển hình là tàu LNG FAT’H AL KHAIR cập cảng Thị Vải ngày 10/3 mang theo 63.000 tấn LNG và tàu Clipper Vanguard mang gần 38.000 tấn LPG từ Australia cập cảng ngày 20/3; góp phần duy trì dòng chảy năng lượng ổn định, bình ổn thị trường trong nước.
PV GAS cũng đã cùng EVN và PV Power đã ký kết các thỏa thuận quan trọng về cung cấp LNG cho các dự án điện khí quy mô lớn, đánh dấu bước tiến cụ thể trong việc hình thành hệ thống cung ứng LNG mang tính quốc gia, với PV GAS giữ vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị từ nhập khẩu đến tiêu thụ.
Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh, trong bối cảnh thị trường năng lượng còn nhiều biến động, yêu cầu đặt ra đối với Tập đoàn không chỉ là hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, mà quan trọng hơn là phải nâng cao chất lượng quản trị, năng lực dự báo, khả năng điều hành linh hoạt và trách nhiệm thực thi ở từng cấp.
Trước những biến động khó lường của giá dầu, địa chính trị quốc tế, Chủ tịch Lê Ngọc Sơn yêu cầu Ban Điều hành và các đơn vị xây dựng kịch bản điều hành theo nhiều cấp độ để ứng phó kịp thời với những biến động có thể xảy ra, bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn ổn định, hiệu quả, thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.
Lãi suất cho vay tăng cao và lĩnh vực bất động sản cũng gặp khó khăn khi tiếp cận vốn ngân hàng khiến nhiều doanh nghiệp gia tăng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. Theo Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam, trong quý 1/2026, thị trường ghi nhận 13 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp với tổng giá trị hơn 40.000 tỉ đồng. Trong đó, phát hành ra công chúng đạt 14.334 tỉ đồng, chiếm gần 36% tổng giá trị phát hành, tăng gấp đôi so với quý 4/2025 và phát hành riêng lẻ đạt hơn 25.800 tỉ đồng, tương đương khoảng 64% thị phần.
Đáng chú ý, nhóm doanh nghiệp bất động sản dẫn đầu với lượng phát hành có giá trị hơn 24.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 60% tổng lượng trái phiếu phát hành trong quý đầu năm nay. Không chỉ trong quý 1/2026, số doanh nghiệp bất động sản trong quý 2/2026 cũng tiếp tục phát hành nhiều đợt trái phiếu ra công chúng.
Số liệu thống kê mới công bố của Công ty Chứng khoán VNDIRECT cho thấy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong tháng 4 ghi nhận sự cải thiện đáng kể về hoạt động phát hành. Cụ thể, có 20 đợt phát hành thành công với tổng giá trị hơn 41.300 tỉ đồng, tăng 52,9% so với tháng 3. Lũy kế 4 tháng đầu năm nay, tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt hơn 68.800 tỉ đồng, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành, bất động sản tiếp tục dẫn đầu thị trường về giá trị phát hành trong tháng 4 với 7 đợt phát hành, tổng giá trị hơn 20.600 tỉ đồng, chiếm khoảng một nửa tổng lượng phát hành toàn thị trường.
Một số đợt phát hành thành công có thể kể đến như Công ty CP Đầu tư Xây dựng Thái Sơn công bố hoàn tất phát hành lô trái phiếu trị giá 2.000 tỉ đồng, kỳ hạn 36 tháng với lãi suất 12,5%/năm. Hay Công ty CP Đầu tư và Phát triển Bất động sản Minh An đã phát hành 2 lô trái phiếu tổng giá trị 7.500 tỉ đồng với lãi suất 10 - 10,5%/năm. Trong khi đó, Công ty TNHH Phát triển Bất động sản An Gia Hưng cũng huy động gần 1.065 tỉ đồng trái phiếu với lãi suất 11%/năm. Hàng loạt doanh nghiệp khác như Văn Phú Invest, Bcons, Khải Hoàn Land hay Công ty CP Thời Đại Mới T&T cũng liên tiếp tham gia thị trường với các lô trái phiếu có lãi suất dao động từ khoảng 10 - 13,5%/năm...
Ngày 7/5, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chủ trì cuộc họp về việc giao chỉ tiêu tăng trưởng các địa phương, doanh nghiệp Nhà nước để thực hiện Kết luận 18 của Trung ương và Nghị quyết 109 của Chính phủ.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, trước mắt, Bộ sẽ trình Chính phủ giao các chỉ tiêu đã rõ về phương pháp xác định, hầu hết các địa phương đã dự kiến tính toán, bao gồm 27 chỉ tiêu giai đoạn 2026-2030 và 25 chỉ tiêu năm 2026.
Đơn cử, một số chỉ tiêu có thể giao ngay như tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân/năm, tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khu vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP); tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân/năm; số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn đến năm 2030, giảm tỉ lệ hộ nghèo, chỉ số phát triển con người (HDI)…
Các địa phương cơ bản thống nhất với định hướng giao chỉ tiêu của Chính phủ, song đề nghị việc xây dựng chỉ tiêu cần có cơ sở tính toán cụ thể và đi kèm hướng dẫn rõ ràng từ các bộ, ngành. Các ý kiến cũng đề xuất Chính phủ giao chỉ tiêu một lần, giao sớm. Có doanh nghiệp mong muốn giao chỉ tiêu theo hướng dài hạn để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện.
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ, việc giao chỉ tiêu tăng trưởng cho các địa phương, doanh nghiệp Nhà nước là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. "Để hoàn thành nội dung này thì rất cần sự tham gia, phối hợp tích cực của các bộ, ngành, các địa phương cũng như các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước", Phó Thủ tướng nói.
Về giao chỉ tiêu cho các địa phương, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng thống nhất với ý kiến phát biểu là giao một lần và giao sớm nhất có thể.
Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan rà soát danh mục chỉ tiêu của năm 2026 cũng như của cả giai đoạn 2026-2030, đảm bảo khi giao cho địa phương phù hợp với Kết luận 18 của Trung ương và Nghị quyết 109 của Chính phủ; thông báo danh mục chỉ tiêu cho các địa phương chậm nhất là ngày 10/5/2026 để các địa phương rà soát, hoàn thiện.
Đối với các chỉ tiêu chưa có hướng dẫn tính toán, các bộ, ngành cần khẩn trương xây dựng hướng dẫn cho các địa phương trước ngày 15/5 để từ đó làm cơ sở đề xuất các chỉ tiêu. Các địa phương hoàn thiện đầy đủ các chỉ tiêu theo hướng dẫn, gửi Bộ Tài chính trước ngày 18/5 để Bộ hoàn thiện, báo cáo Chính phủ trước ngày 25/5.
Về các chỉ tiêu giao cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính rà soát danh mục chỉ tiêu, bảo đảm phù hợp với Kết luận 18 và Nghị quyết 109.
Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/5.
Các bộ, cơ quan, địa phương là đại diện chủ sở hữu, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tài chính, khẩn trương giao chỉ tiêu cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thuộc thẩm quyền, nội dung này hoàn thành trước ngày 20/5/2026.
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định việc chào bán trái phiếu ra công chúng đối với doanh nghiệp dự án PPP (đối tác công tư), với mục tiêu tạo thêm kênh huy động vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn nhưng vẫn kiểm soát chặt rủi ro cho nhà đầu tư.
Theo dự thảo, trái phiếu do doanh nghiệp dự án PPP phát hành ra công chúng phải là trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và bắt buộc có bảo đảm thanh toán. Trường hợp doanh nghiệp chưa đủ điều kiện vận hành, khai thác công trình, trái phiếu phải được bảo lãnh thanh toán toàn bộ gốc và lãi bởi ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc đơn vị bảo lãnh đủ điều kiện.
Dự thảo cũng yêu cầu trái phiếu hoặc tổ chức bảo lãnh thanh toán phải được xếp hạng tín nhiệm bởi tổ chức độc lập, trừ một số trường hợp đặc biệt có bảo lãnh thanh toán toàn phần.
Một điểm đáng chú ý là doanh nghiệp dự án PPP sẽ không bị ràng buộc điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu hay yêu cầu có lãi như doanh nghiệp thông thường. Bộ Tài chính cho rằng mô hình PPP có đặc thù riêng khi được thành lập chỉ để triển khai một dự án cụ thể, thời gian đầu tư kéo dài và cần lượng vốn lớn ngay từ đầu.
Tuy nhiên, để được phát hành trái phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải có hợp đồng dự án PPP đã ký đúng quy định pháp luật, đồng thời đảm bảo tổng mức huy động vốn không vượt quá giới hạn vay vốn trong hợp đồng dự án PPP.
Dự thảo cũng quy định khá chặt về tài sản bảo đảm. Với các dự án đã đủ điều kiện vận hành, doanh nghiệp có thể dùng tài sản, quyền sử dụng đất hoặc quyền kinh doanh công trình hạ tầng để bảo đảm cho trái phiếu. Các tài sản này phải được thẩm định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.
Nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu chỉ được dùng cho dự án PPP hoặc cơ cấu lại nợ của chính doanh nghiệp dự án PPP. Trong thời gian chưa giải ngân, doanh nghiệp chỉ được gửi ngân hàng hoặc đầu tư vào các tài sản an toàn như trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi.
Để bảo vệ nhà đầu tư, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phát hành không được chia cổ tức hoặc phân phối lợi nhuận nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn. Đồng thời, tiền phục vụ thanh toán trái phiếu phải được quản lý tách biệt với các dòng tiền khác.
Một nội dung khác được siết chặt là công bố thông tin. Doanh nghiệp PPP sẽ phải định kỳ công bố tiến độ triển khai dự án, kết quả xếp hạng tín nhiệm cũng như các sự kiện có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trái phiếu.
Các thông tin bất thường liên quan đến tài sản bảo đảm hoặc dòng tiền dự án phải được công bố trong vòng 24 giờ.