3h ngày 1/11/2014, đường dây nóng khẩn cấp 999 reo vang, đầu bên kia là một giọng nam nói tiếng Anh, khẳng định muốn đầu thú. Khi điều phối viên hỏi, anh ta tỏ ra mất kiên nhẫn: “Các người tự đến mà xem”.
Đến nhà người này điều tra, cảnh sát phát hiện hai thi thể trong căn hộ tầng 31 tòa chung cư cao cấp J Residence ở quận Wan Chai. Một thi thể trong phòng khách, thi thể thứ hai được tìm thấy trong chiếc valy ngoài ban công, đã chết khoảng một tuần.
Thủ phạm là Rurik Jutting, 29 tuổi, cố vấn đầu tư ngân hàng người Anh. Rurik vốn có tương lai đầy hứa hẹn, nhưng do áp lực công việc, anh ta rơi vào vòng xoáy ma túy và các hành vi tình dục lệch lạc, dẫn đến việc tra tấn và sát hại dã man hai phụ nữ Indonesia.
Nạn nhân đầu tiên là Sumarti Ningsih (23 tuổi), có một con trai 5 tuổi ở Indonesia. Vì cuộc sống khó khăn, cô trốn gia đình sang Hong Kong làm gái mại dâm. Nạn nhân thứ hai là Seneng Mujiasih (26 tuổi), vừa làm giúp việc vừa bán dâm tại khu phố đèn đỏ ở Wan Chai.
Cú trượt dài của kẻ có IQ hơn người
Rurik xuất thân từ một gia đình giàu có, chỉ số IQ 137 – thuộc nhóm 1% người có chỉ số IQ cao nhất. Sau khi tốt nghiệp khoa luật và lịch sử của Đại học Cambridge, hắn làm việc cho các ngân hàng đầu tư của Anh và Mỹ, nhanh chóng thăng tiến với mức lương hàng năm 270.000 bảng Anh.
Tuy nhiên, năm 2012, do những sai phạm trong việc bán các sản phẩm đầu tư của ngân hàng, Rurik bị cấp trên khiển trách và thuyên chuyển đến chi nhánh Hong Kong vào năm 2013.
Vốn tự cao, Rurik coi đây là “bước ngoặt tiêu cực” trong sự nghiệp và cảm thấy việc bị chuyển đến Hong Kong là do cấp trên sắp xếp để loại bỏ mình.
Thời điểm này, Rurik uống rượu mất kiểm soát, vì phải uống rất nhiều mới có thể ngủ được. Hắn đã gặp bác sĩ tâm thần một thời gian ngắn, tâm sự rằng thường cảm thấy buồn bã và dễ khóc ở nơi làm việc.
Khi đến Hong Kong vào tháng 10/2013, Rurik thường uống hết 3/4 chai vodka để ngủ, đồng thời sử dụng cocaine. Hắn nói đã giấu cocaine qua đường hậu môn trên chuyến bay.
Rurik ngày càng cảm thấy chán nản và bi quan khi sống ở xứ Cảng thơm, dành nhiều thời gian ở nhà uống rượu và chơi game trên máy tính. Hắn còn có những sở thích tình dục cực đoan và ám ảnh với phim khiêu dâm bạo lực. Rurik bắt đầu mua dâm từ năm 2009 và theo thời gian, hành vi của hắn ngày càng hung bạo.
Đến 2014, Rurik “mất kiểm soát hoàn toàn”. Hắn thường xuyên sử dụng cocaine trong nhiều ngày liền. Có lần, hắn bỏ lỡ một cuộc họp đã lên lịch ở London và nói với sếp rằng mình bị HIV. Rurik bắt đầu thèm thuốc liên tục, cân nặng tăng vọt và ngừng đi làm trong hai tuần trước án mạng. Thay vào đó, hắn dành hàng giờ xem và đọc các nội dung khiêu dâm bạo lực.
Rurik từng cố tìm kiếm đàn ông trên ứng dụng Grindr để quan hệ tình dục, sau đó nói với một nhà tâm lý học rằng hắn đã “cố gắng làm mọi thứ có thể để có những trải nghiệm mới”, nhưng mô tả mọi thứ đều “đáng thất vọng”.
Rurik từng có nhiều bạn gái nhưng các mối quan hệ luôn ngắn ngủi, dài nhất không quá hai năm rưỡi.
7 ngày kinh hoàng trong căn hộ
Khoảng 3h ngày 25/10/2014, Rurik đưa Sumarti Ningsih về căn hộ, sau khi đề nghị trả tiền để quan hệ tình dục.
Trước đó, Rurik từng liên hệ với Sumarti qua trang web mua bán dâm và hẹn gặp tại khách sạn. Tuy nhiên, do hắn quá thô bạo, Sumarti đã trả lại một nửa số tiền và yêu cầu rời đi. Sumarti ban đầu từ chối đề nghị lần thứ hai của Rurik, nhưng không thể cưỡng lại cám dỗ của 8.000 HKD nên đồng ý giao dịch.
Ác mộng của Sumarti bắt đầu khi Rurik đánh đập, cưỡng bức cô. Sau đó, hắn giam cầm và tra tấn cô bằng kìm, thắt lưng, đồ chơi tình dục, đồng thời quay video cảnh tra tấn bằng điện thoại.
Đến ngày 27, Rurik hưng phấn bất thường sau khi sử dụng cocaine. Hắn trói Sumarti bằng thắt lưng rồi đánh liên tục, lạm dụng tình dục, tra tấn. Tại đó, hắn dùng dao sát hại nạn nhân rồi quay video, chụp ảnh hiện trường.
Rurik khai rằng lúc tỉnh lúc mê khi gây án do cocaine: “Khi cocaine bớt ảnh hưởng, tôi thấy khá hối hận, tôi liên tục nói yêu cô ấy”, hắn khai trong một cuộc thẩm vấn với cảnh sát. Tuy nhiên, trong cuộc thẩm vấn khác, Rurik nói chưa tra tấn Sumarti nhiều như mong muốn trước khi giết cô.
Xác định Sumarti đã chết, Rurik cho thi thể vào một túi nhựa lớn, bỏ vào valy chuyển ra ban công.
Sau vài ngày sống chung với thi thể, vào 31/10, Rurik lên kế hoạch tra tấn nạn nhân thứ hai. Hắn mua các dụng cụ, bao gồm giấy nhám, đinh và đèn khò, rồi quay video bằng iPhone, mô tả cách sử dụng chúng để tra tấn nạn nhân.
Đêm đó, Rurik gặp Seneng Mujiasih trong một quán bar ở Wan Chai và đề nghị trả 10.000 HKD để quan hệ tình dục. Tại căn hộ, Seneng nhìn thấy dụng cụ bạo dâm nên từ chối tiếp tục, la hét chửi bới. Rurik dí dao vào cổ cô, nói sẽ giết nếu cô tiếp tục chống cự. Trong lúc giằng co, Rurik cứa cổ nạn nhân.
Rurik nói với cảnh sát: “Tôi đang săn mồi và không may cô ta lại là kẻ bị săn đuổi”.
Sau khi dùng thêm cocaine, Rurik cho biết đã nghĩ đến việc tự tử, nhưng cuối cùng lại gọi số 999. Hắn cũng gọi cho sếp và nói: “Tôi đang gặp rắc rối lớn, ông cần phải làm gì đó để cứu vãn danh tiếng của ngân hàng”.
Trong quá trình thẩm vấn, Rurik tỏ ra ăn năn, hai lần xin lỗi các nạn nhân và gia đình.
Nhưng theo bác sĩ Kavin Chow, chuyên gia của bên công tố, Rurik vẫn tiếp tục tưởng tượng về việc cưỡng hiếp và bắt cóc ngay cả khi bị tạm giam tại một trung tâm tâm thần.
Rurik không nhận tội giết người, nhưng nhận tội ngộ sát với lý do suy giảm năng lực nhận thức do chứng rối loạn nhân cách ái kỷ và rối loạn bạo dâm tình dục, cùng việc lạm dụng ma túy và rượu.
Tại tòa, luật sư mô tả mặt tối đằng sau cuộc sống hào nhoáng bề ngoài của Rurik, bị ảnh hưởng bởi ma túy, bạo dâm và mắc chứng rối loạn nhân cách nghiêm trọng.
Tuy nhiên, khi tuyên án, thẩm phán nhận định rằng đạo đức của bị cáo đã bị tha hóa bởi ma túy, tình dục và rượu. Ông mô tả bị cáo là “kẻ cực kỳ nguy hiểm”, đã gây ra “một trong những vụ án kinh hoàng nhất ở Hong Kong”. Thẩm phán cho rằng bị cáo quay video cảnh tra tấn và giết người chỉ vì cảm thấy tự hào về điều đó, không tin rằng bị cáo thực sự hối hận về những gì đã làm với các nạn nhân. Ông tuyên án tù chung thân đối với Rurik, tháng 11/2016.
Theo các chuyên gia tâm lý tội phạm, dù hung thủ có trí thông minh cao, nhưng công việc không như ý đã dần dẫn hắn tìm đến những phương pháp sai lầm để đối phó với cảm xúc tiêu cực, hình thành những thói xấu như nghiện rượu, ma túy và đắm chìm trong nội dung bạo dâm.
Sau khi bị bắt, Rurik khai với cảnh sát rằng đã sử dụng cocaine và bị ảo giác, cảm thấy buồn bã trong lúc gây án nhưng không thấy tội lỗi. Theo các nhà tâm lý học lâm sàng, hung thủ mắc chứng rối loạn sử dụng rượu và ma túy; vào thời điểm gây án, hắn say rượu và sử dụng cocaine, dẫn đến tâm trạng hưng phấn, kích động, rối loạn tâm thần, ảo giác và giảm khả năng tự kiểm soát. Hắn còn có sở thích tình dục kỳ lạ, nghiện phim bạo dâm và khao khát hiện thực hóa những tưởng tượng bạo lực của mình để đạt được kích thích và thỏa mãn.
Do đó, việc xây dựng những thói quen sinh hoạt và sở thích lành mạnh là rất quan trọng cho sự phát triển thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân, vừa giúp tăng cường khả năng phục hồi tâm lý vừa nuôi dưỡng thái độ tích cực với cuộc sống, giúp con người chống chịu tốt hơn trước nghịch cảnh.
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, trong đó có đề xuất thay đổi tiêu chuẩn về trình độ học vấn.
Cụ thể, dự thảo đề xuất tiêu chuẩn "có bằng từ cử nhân luật trở lên", còn luật hiện hành quy định luật sư phải "có bằng cử nhân luật".
Hiện nay, hệ thống giáo dục Việt Nam cho phép người có bằng cử nhân ở các ngành khác vẫn được học tiếp và lấy bằng thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật.
Điều này đồng nghĩa, theo dự thảo, những người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ học vấn để trở thành luật sư. Nhưng nó không đồng nghĩa với việc người chưa từng được đào tạo luật có thể hành nghề luật sư.
Nhiều người băn khoăn có nên mở rộng đối tượng hành nghề đối với những người đã được đào tạo luật ở trình độ sau đại học nhưng không xuất phát từ bậc cử nhân luật hay không.
Hai mô hình đào tạo luật sư phổ biến trên thế giới
Các quốc gia có ngành luật phát triển trên thế giới hiện không lựa chọn một mô hình chung mà phân hóa thành hai hướng tiếp cận khác nhau. Một bên coi luật là ngành nghề đòi hỏi nền tảng chuyên môn được xây dựng từ sớm và bài bản. Bên còn lại xem luật là nghề nghiệp có thể tiếp nhận nhân lực từ nhiều lĩnh vực khác nhau, miễn người học vượt qua được quá trình đào tạo và sát hạch chuyên nghiệp.
Với mô hình thứ nhất, coi luật sư phải được đào tạo luật từ gốc, Đức là ví dụ điển hình.
Theo mô hình chủ đạo tại quốc gia này, để trở thành luật sư (hoặc thẩm phán hay công tố viên), sinh viên phải trải qua chương trình đào tạo luật kéo dài khoảng 5 năm, sau đó trở thành "luật gia tập sự" trong 2 năm và tiếp tục vượt qua hai kỳ thi quốc gia nổi tiếng khắt khe.
Con đường này gần như không dành cho người "rẽ ngang". Hệ thống được thiết kế trên quan điểm rằng kiến thức pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, cần được tích lũy từ những môn học nền tảng như luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, tố tụng, triết học pháp luật, lịch sử pháp luật... trước khi tiến đến hành nghề.
Ưu điểm của mô hình này là bảo đảm tính hệ thống trong kiến thức pháp lý. Luật sư được đào tạo bài bản từ đầu, hạn chế nguy cơ xuất hiện những "lỗ hổng nền tảng".
Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm. Con đường trở thành luật sư dài, tốn kém và tương đối khép kín. Những người có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác như công nghệ, tài chính, y tế hay kỹ thuật sẽ gặp nhiều rào cản nếu muốn chuyển sang nghề luật.
Với mô hình thứ hai, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật, Mỹ là ví dụ tiêu biểu.
Muốn vào trường luật, ứng viên chỉ cần có bằng đại học ở bất kỳ ngành nào. Một sinh viên vật lý, kỹ sư, nhà kinh tế học hay thậm chí nghệ sĩ đều có thể nộp đơn học luật.
Sau đó, họ theo học chương trình Juris Doctor (JD) kéo dài khoảng 3 năm trước khi tham gia kỳ thi luật sư theo quy định của từng bang.
Điều quan trọng không phải người học xuất phát từ đâu mà là họ có đủ năng lực để hoàn thành chương trình đào tạo luật chuyên nghiệp và vượt qua kỳ sát hạch hay không.
Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là sự đa dạng. Những người từng học công nghệ thông tin có thể trở thành chuyên gia về pháp luật dữ liệu và an ninh mạng. Người có nền tảng tài chính có thể làm luật sư chứng khoán hoặc mua bán - sáp nhập doanh nghiệp. Các bác sĩ có thể tham gia lĩnh vực pháp luật y tế và trách nhiệm nghề nghiệp.
Nhiều hãng luật quốc tế đánh giá đây là lợi thế quan trọng trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng phức tạp và mang tính liên ngành.
Tuy nhiên, mô hình này cũng đối mặt với lo ngại rằng người học có thể thiếu kiến thức nền tảng pháp lý nếu chương trình đào tạo chuyển đổi không đủ sâu hoặc quá thiên về kỹ năng hành nghề.
Do đó, cuộc tranh luận thực chất không nằm ở việc có hay không có bằng cử nhân luật. Dù xuất phát từ mô hình nào, vấn đề cốt lõi vẫn là xây dựng được cơ chế bảo đảm năng lực hành nghề đủ chặt chẽ.
Các hệ thống đào tạo luật sư trên thế giới không quá đặt nặng tên gọi của tấm bằng, nhưng đặc biệt coi trọng việc người hành nghề đã được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật cốt lõi hay chưa.
"Đào tạo cử nhân luật đóng vai trò nền tảng khi hành nghề"
Theo luật sư Phạm Thanh Bình, Phó giám đốc Công ty Luật Bảo Ngọc (Hà Nội), đề xuất này có nhiều điểm tích cực khi góp phần thúc đẩy đội ngũ luật sư có nền tảng đa ngành.
Việc cho phép người có bằng đại học ngoài ngành luật học tiếp cao học luật và có thể trở thành luật sư sẽ tạo nên đội ngũ luật sư am hiểu sâu sắc các lĩnh vực chuyên biệt như tài chính, sở hữu trí tuệ, y tế...
Quy định này cũng bắt nhịp với xu hướng quốc tế. Tuy nhiên, để áp dụng tại Việt Nam, cần cân nhắc nhiều khía cạnh.
Theo luật sư Bình, chương trình đào tạo cử nhân luật vẫn giữ vai trò nền tảng chuyên môn cốt lõi đối với người hành nghề luật sư.
Chương trình này không chỉ cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện về các lĩnh vực pháp luật cơ bản mà còn hình thành tư duy pháp lý, phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết, trình bày và tranh luận - những năng lực được xem là "xương sống" của nghề luật sư.
Đặc biệt, nghề luật sư liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, chương trình đào tạo luật sư cần được xây dựng trên nền tảng kiến thức pháp luật toàn diện.
Từ các quan điểm trên, luật sư Bình cho rằng dù đề xuất có nhiều điểm tích cực, việc mở rộng điều kiện hành nghề đối với người không có bằng cử nhân luật vẫn có thể làm phát sinh nguy cơ thiếu hụt kiến thức nền tảng nếu không được thiết kế cơ chế kiểm soát phù hợp.
Các luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại và người liên quan trong "đại án đăng kiểm". Ảnh: Thanh Tùng
"Chương trình thạc sĩ luật hiện nay thường chỉ kéo dài từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm, chủ yếu tập trung vào chuyên ngành chuyên sâu hoặc mang tính nghiên cứu", luật sư đánh giá.
Chưa kể, nếu không có cơ chế triển khai hợp lý, đề xuất này có thể dẫn đến nguy cơ quá tải đối với hệ thống đào tạo. Sự gia tăng đột biến về số lượng học viên sẽ tạo áp lực lớn lên cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và nguồn học liệu vốn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu hiện nay.
Luật sư Bình đề xuất, nếu mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư theo hướng trên, cần xây dựng cơ chế đánh giá và bổ sung kiến thức nền tảng tương đương chương trình cử nhân luật.
Đối với người không có bằng cử nhân luật nhưng có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật, cần quy định họ phải hoàn thành số lượng tín chỉ cốt lõi của chương trình đại học luật, như luật dân sự, luật hình sự, tố tụng..., trước khi được công nhận đủ điều kiện học nghề luật sư.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đào tạo chuyển đổi, cung cấp các chứng chỉ hoặc chương trình bổ sung kiến thức pháp luật đại cương cho nhóm đối tượng này.
Cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, 67 tuổi, sáng 21/5 bị VKSND Hà Nội đề nghị mức án 5-6 năm tù và buộc khắc phục 108 tỷ đồng trong vụ án xảy ra tại hai dự án Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở 2.
HĐXX ghi nhận bà Tiến đã được con trai nộp thay 24,5 tỷ đồng - nhiều nhất trong số 10 bị cáo của vụ án. Đây được xem là một trong những tình tiết giảm nhẹ cho cựu bộ trưởng.
Bào chữa chiều nay, luật sư Phạm Quang Quyền cho biết bà Tiến tuổi cao, mắc nhiều bệnh nền và bệnh nặng như tiền đình, chóng mặt, u nang, loãng xương...
Theo luật sư, thân chủ được cơ quan tố tụng đánh giá thành khẩn, ăn năn, không quanh co, né tránh trách nhiệm.
Luật sư cũng nhắc đến những đóng góp của bà Tiến với ngành y tế trong giai đoạn xảy ra nhiều dịch bệnh như SARS, cúm gia cầm H5N1, cúm A/H1N1... "đều được kiểm soát tốt". Hệ thống CDC tại các tỉnh, thành do bà xây dựng được cho là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam ứng phó đại dịch Covid-19.
"Việc một phụ nữ lớn tuổi, mang nhiều bệnh nền phải bị tạm giam 7 tháng đã là sự trừng phạt nghiêm khắc, đủ sức răn đe và giáo dục đối với bà Kim Tiến", luật sư nói và đề nghị HĐXX xem xét khoan hồng hơn nữa cho thân chủ.
Tự bào chữa ngắn gọn, bà Tiến cho rằng hai dự án bệnh viện với thiết kế, cấu trúc và trang thiết bị "như một khách sạn 5 sao" là minh chứng cho việc khắc phục lãng phí một cách hiệu quả và thực tế nhất.
Bà Tiến bị bắt tạm giam 7 tháng, từ ngày 16/7/2025 đến 13/2/2026, hiện được tại ngoại.
'Bệnh viện nếu hoạt động có khi Nhà nước phải bù lỗ'
Trong phần bào chữa chiều 21/5, luật sư Lương Thị Thùy Trang - người bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn Hữu Tuấn, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án trọng điểm Bộ Y tế - cho rằng việc đánh giá hậu quả vụ án chỉ dựa trên giá trị kinh tế là chưa toàn diện.
Theo luật sư, phương pháp tính thiệt hại mà VKS áp dụng phù hợp với các dự án đầu tư kinh doanh vốn nhà nước nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong khi đó, dự án Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở 2 thuộc lĩnh vực y tế, mục tiêu chính là phục vụ xã hội và chăm sóc sức khỏe người dân.
"Không nhất thiết phải tạo ra lợi nhuận mới được coi là hiệu quả", luật sư nói và cho rằng phần lớn bệnh viện hiện nay vẫn chưa thể tự chủ tài chính toàn diện, ngân sách nhà nước vẫn phải bù đắp hoạt động.
"Thậm chí nếu hai bệnh viện này đi vào hoạt động thì ngân sách nhà nước có thể vẫn phải tiếp tục bù lỗ như với nhiều bệnh viện tuyến trung ương hiện nay", bà Trang lập luận.
Theo luật sư, thiệt hại lớn nhất của việc dự án chậm tiến độ là người dân mất cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế, chứ "không phải và không nên được xác định là lợi ích tài chính".
Hiện vụ án được xác định gây thất thoát, lãng phí 803 tỷ đồng.
Trong đó, ngoài khoản thất thoát từ sai phạm lựa chọn đơn vị tư vấn, cơ quan tố tụng còn tính thiệt hại từ việc hơn 5.000 tỷ đồng vốn ngân sách sử dụng không hiệu quả và 4.500 tỷ đồng của SCIC được rút từ các khoản tiền gửi để cấp vốn cho dự án nhưng chưa sử dụng hết. Các khoản này được quy đổi theo lãi suất ngân hàng, tạo thành khoản lãng phí 733 tỷ đồng.
Luật sư Trang cho rằng nguồn vốn thực hiện dự án là vốn đầu tư công trong lĩnh vực y tế, nên bản chất không đặt mục tiêu lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh.
"Việc xuất quỹ SCIC cho hai dự án đồng nghĩa Nhà nước chấp nhận từ bỏ hiệu quả tài chính để đổi lấy hiệu quả kinh tế - xã hội", luật sư nói và đề nghị xem xét lại việc lấy lãi suất ngân hàng làm căn cứ xác định thiệt hại cho các bị cáo.
Ông Nguyễn Hữu Tuấn trước đó bị VKS đề nghị mức án 23-25 năm tù cho hai tội danh, cao thứ hai trong vụ án, sau ông Nguyễn Chiến Thắng.
Theo luật sư, thời gian ông Tuấn điều hành dự án ngắn hơn người tiền nhiệm; số tiền nhận hối lộ cũng thấp hơn nhiều bị cáo khác. Ông bị cáo buộc nhận hơn 12 tỷ đồng và hưởng lợi khoảng 7 tỷ đồng.
Luật sư cho rằng ở giai đoạn sau của dự án, ông Tuấn đã tích cực tìm phương án tháo gỡ khó khăn nhằm cứu vãn công trình, cần được xem là tình tiết giảm nhẹ.
Phiên tòa tiếp tục với phần bào chữa của các luật sư.
Ba chị em ruột Nguyễn Thị Hoài Diễm (42 tuổi), Nguyễn Thị Ngọc Lan (38 tuổi) và Nguyễn Tự Tín (35 tuổi, trú phường Mũi Né) bị TAND khu vực 10 tỉnh Lâm Đồng tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù về tội Bắt giữ người trái pháp luật, theo Điều 157 Bộ luật Hình sự, chiều 22/6.
Hai đồng phạm Nguyễn Hồng Tâm và Trần Hữu Tình, lĩnh lần lượt 1 năm 3 tháng và 1 năm 6 tháng tù treo. Họ đã được xem xét các tình tiết giảm nhẹ như trình độ hạn chế, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để làm rõ vai trò chủ mưu của các bị cáo trên.
Đây là vụ án liên quan chị Trần Thị Bích Dung (vợ Tín) bị gia đình chồng giam lỏng, đánh đập trong nhiều ngày để "trừ tà ma", từng gây chấn động dư luận địa phương hai năm trước.
Theo cáo trạng, từ 4/12/2023 đến 14/1/2024, Lan và Diễm cho rằng em dâu bị tà ma nhập, có thể gây hại cho gia đình nên đã giam lỏng chị Dung trong căn nhà trên đường Nguyễn Phúc Nguyên, phường Phú Thủy, không cho ra ngoài.
Họ thuê Trần Hữu Tình, 34 tuổi và Nguyễn Hồng Tâm, 51 tuổi, thay phiên nhau canh giữ em dâu, chỉ được ở trên phòng riêng và xuống khu vực nhà bếp, vệ sinh ở tầng dưới. Lúc Tình và Tâm không làm việc này nữa, Lan và Diễm đã thay nhau canh giữ nạn nhân.
Đến ngày 18/4/2024, khi được cho đi về nhà mẹ ruột để lấy giấy tờ, chị Dung đã trốn thoát và đến Công an phường Phú Thủy trình báo vụ việc.
Lan, Diễm, Tín được xác định giữ vai trò cầm đầu, đã thuê, chỉ đạo Tình, Tâm giữ chị Dung trái pháp luật, nên hành vi của họ là phạm tội có tổ chức.
Ngoài ra, từ tháng 3 đến giữa tháng 4/2024, nạn nhân còn bị chồng và hai chị chồng dùng chày gỗ, cối... đánh nhiều lần vào người, bộ phận sinh dục để trừ tà, tổng tỷ lệ tổn thương 20%.
Vụ án từng được TAND TP Phan Thiết (cũ) đưa ra xét xử hồi tháng 6/2025, nhưng trả hồ sơ để điều tra bổ sung do có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Chồng của nạn nhân bị bắt sau đó.