Nhằm hiện thực hóa mục tiêu mỗi công dân Thủ đô đều được khám, theo dõi sức khỏe liên tục theo vòng đời, chăm sóc toàn diện, Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành Công văn số 4250/SYT-NVY về việc hướng dẫn nội dung chuyên môn khám sức khỏe định kỳ cho người dân và trẻ em dưới 6 tuổi.
Theo đó, Sở Y tế đề nghị Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các phường/xã căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý triển khai thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Đồng thời, yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài công lập nghiên cứu, tổ chức thực hiện các nội dung chuyên môn khám sức khỏe định kỳ cho người dân và trẻ em dưới 6 tuổi theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Quyết định số 1284/QĐ-BYT và Công văn số 3401/BYT-KCB.
Tổ chức triển khai đồng bộ, thiết thực, hiệu quả công tác khám sức khỏe định kỳ cho người dân, phấn đấu đạt mục tiêu người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất 1 lần/năm, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời từ năm 2026.
Trong hướng dẫn vừa ban hành, Bộ Y tế quy định nội dung khám đối với từng nhóm đối tượng:
Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, công tác khám sức khỏe định kỳ được thực hiện theo Quyết định số 1284/QĐ-BYT về hướng dẫn nội dung chuyên môn khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em dưới 6 tuổi.
Đối với người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi, khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT.
Các nội dung khám gồm: khám thể lực (chiều cao, cân nặng, mạch, huyết áp); khám lâm sàng nhi khoa (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thận, tiết niệu, thần kinh, tâm thần và các nội dung lâm sàng khác); mắt; tai mũi họng; răng hàm mặt và khám cận lâm sàng (xét nghiệm huyết học, sinh hóa, chụp X-quang và các xét nghiệm khác khi có chỉ định của bác sĩ).
Các xét nghiệm cận lâm sàng thực hiện khi có chỉ định của bác sĩ hoặc yêu cầu tự nguyện chi trả của người dân hoặc theo tình hình thực tiễn về khả năng hỗ trợ chi trả của địa phương, đơn vị.
Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên, nội dung khám gồm: khám thể lực (chiều cao, cân nặng, mạch, huyết áp); nội khoa (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thận, tiết niệu, nội tiết, cơ xương khớp, thần kinh, tâm thần); ngoại khoa, da liễu, sản phụ khoa, mắt, tai mũi họng, răng – hàm – mặt; khám cận lâm sàng (xét nghiệm huyết học, sinh hóa, chụp X-quang và các xét nghiệm khác khi có chỉ định của bác sĩ).
Khi hỏi tiền sử bệnh tật, khám lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh nếu có dấu hiệu tổn thương nghi ngờ mắc bệnh lao, u phổi hay bệnh lý khác, người hành nghề cần chỉ định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên khoa làm căn cứ chẩn đoán, điều trị hoặc chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp để chẩn đoán và can thiệp sớm bệnh tật.
Đối với lao động nữ, danh mục khám phụ sản sẽ thực hiện theo phụ lục riêng của Thông tư 32/2023/TT-BYT.
Ngoài ra, hướng dẫn của Bộ Y tế cũng quy định riêng việc khám sức khỏe đối với cán bộ, học sinh, lái xe ô tô, nhân viên hàng không, người điều khiển phương tiện đường sắt, thuyền viên và các nhóm nghề đặc thù khác theo quy định chuyên ngành hiện hành.
Theo Sở Y tế TP Cần Thơ, hiện 103 xã phường của thành phố này đã triển khai khám sàng lọc sức khoẻ định kỳ cho người dân với 57 cơ sở y tế đủ điều kiện thực hiện khám. Tuy nhiên, số người dân được khám sức khoẻ định kỳ, khám sàng lọc sức khỏe chỉ mới đạt trên 24% dân số (trên 800.000 người), trong tổng số hơn 3,2 triệu người.
Tỉnh Cà Mau qua 3 đợt khám sức khoẻ toàn dân, đã tổ chức khám gần 460.000 lượt người tại các cơ sở y tế xã phường; đồng thời qua chương trình người dân tự đến các cơ sở y tế để khám bệnh, khám sức khỏe khoảng gần 800.000 người.
Hiện nay ngành Y tế tỉnh Cà Mau đang triển khai khám sức khoẻ định kỳ đợt 4 đến hết 31-12, tại các trạm y tế đủ điều kiện và cơ sở hạ tầng khám sức khoẻ. Qua đây tăng cường nhận thức và thói quen khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, phòng bệnh của người dân.
Còn theo số liệu của UBND tỉnh Đồng Tháp, tỉnh này có tỷ lệ khám sức khoẻ định kỳ và khám sàng lọc cao với 70% dân số (khoảng 2,3 triệu người).
Tại các cuộc họp giữa các xã, phường và ngành y tế các địa phương, hầu hết các xã đều cho biết gặp khó khăn về nguồn kinh phí tổ chức khám sức khoẻ định kỳ miễn phí toàn dân.
Sở Y tế các tỉnh yêu cầu rà soát khám các nhóm đối tượng theo thứ tự ưu tiên trước: Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, người khuyết tật, người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo; người mắc bệnh lý mạn tính không lây nhiễm cần quản lý; người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc xã đảo…
Sở Y tế Cần Thơ yêu cầu các đơn vị, địa phương lựa chọn khám ưu tiên cho từng đối tượng phù hợp với nguồn nhân lực và tình hình kinh phí được phân bổ. Riêng nhóm đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và học sinh, sinh viên được khám sức khỏe do đơn vị tự cân đối kinh phí (không dùng ngân sách).
Tỉnh Đồng Tháp cũng yêu cầu tách riêng nhóm đối tượng công chức viên chức, người lao động tại các doanh nghiệp…do các đơn vị tự hạch toán.
Việc cập nhật hồ sơ sức khoẻ điện tử của nhiều tỉnh thành cũng đang gặp khó khăn, chậm do hạ tầng dữ liệu chưa đồng bộ.
Trước mắt Sở Y tế các tỉnh đã tổ chức tập huấn cho các cơ sở để cập nhật các kết quả khám vào sổ sức khỏe điện tử. Theo lãnh đạo Sở Y tế TP Cần Thơ, hiện thành phố vừa làm, vừa rút kinh nghiệm.
Rau lá xanh là nhóm rau có phần lá được sử dụng làm thực phẩm, bao gồm các loại rau ăn lá và một số loại rau họ cải.
Các loại rau ăn lá phổ biến gồm:
Nhóm rau họ cải gồm:
Rau lá xanh chứa nhiều nitrat tự nhiên. Sau khi được đưa vào cơ thể, nitrat sẽ được chuyển hóa thành oxit nitric (nitric oxide) trong máu và các mô.
Oxit nitric có tác dụng làm giãn mạch máu, từ đó giúp máu lưu thông dễ dàng hơn và góp phần hạ huyết áp, theo Verywell Health (Mỹ).
Mặc dù rau lá xanh là nguồn cung cấp nitrat dồi dào, các nghiên cứu về tác động của việc ăn nhiều rau lá xanh đối với huyết áp vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Một số thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy rau lá xanh có thể giúp giảm huyết áp, nhưng không phải nghiên cứu nào cũng ghi nhận hiệu quả đủ rõ rệt về mặt lâm sàng.
Nhìn chung, rau lá xanh là thực phẩm giàu dinh dưỡng. Đối với đa số mọi người, việc tăng cường bổ sung nhóm thực phẩm này không gây hại và còn có thể góp phần hỗ trợ kiểm soát huyết áp.
Kali giúp duy trì cân bằng dịch trong cơ thể. Khi lượng kali trong khẩu phần ăn tăng lên, cơ thể sẽ đào thải nhiều natri hơn qua nước tiểu, từ đó góp phần hạ huyết áp.
Ngoài ra, kali còn giúp điều hòa trương lực thành mạch, thúc đẩy mạch máu thư giãn và hỗ trợ kiểm soát huyết áp. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị người trưởng thành nên nạp khoảng 3.510 mg kali/ngày.
Rau lá xanh cũng là một trong những nguồn thực phẩm giàu magie - khoáng chất thiết yếu giúp điều hòa huyết áp bằng nhiều cơ chế như:
Một nghiên cứu quan sát công bố vào năm 2024 cho thấy, lượng magie tiêu thụ càng cao thì nguy cơ mắc tăng huyết áp càng thấp, cụ thể: So với nhóm có lượng magie thấp nhất, những người bổ sung nhiều magie nhất có nguy cơ mắc tăng huyết áp thấp hơn khoảng 34%.
Rau lá xanh là nguồn cung cấp chất xơ dồi dào. Khi đi xuống đại tràng, chất xơ sẽ được hệ vi sinh vật đường ruột lên men để tạo ra các axit béo chuỗi ngắn (SCFAs). Các SCFAs này có thể liên kết với các thụ thể trong cơ thể, góp phần giảm viêm và hỗ trợ hạ huyết áp.
Theo một nghiên cứu năm 2024, mỗi khi lượng chất xơ tiêu thụ tăng thêm 5 g/ngày, huyết áp tâm thu có thể giảm khoảng 2,8 mmHg, còn huyết áp tâm trương giảm khoảng 2,1 mmHg. Lượng chất xơ này tương đương với khoảng 1 cốc bông cải xanh hoặc cải xoăn nấu chín.
Nước đóng vai trò thiết yếu trong quá trình lọc máu và đào thải chất cặn bã, đặc biệt với gan và thận. Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS), việc duy trì đủ nước giúp thận loại bỏ chất thải qua nước tiểu, đồng thời hỗ trợ cân bằng điện giải trong cơ thể.
Tuy nhiên, không phải cứ uống nhiều nước là tốt. Tiến sĩ Tamara Hew-Butler, chuyên gia sinh lý học thể thao tại Đại học Oakland (Mỹ), cho biết uống nước đúng thời điểm giúp cơ thể hấp thu hiệu quả hơn, đồng thời tránh gây áp lực không cần thiết cho thận.
Sau khi thức dậy: Sau một đêm dài không bổ sung nước, cơ thể thường rơi vào trạng thái thiếu nước nhẹ. Uống 1 - 2 ly nước vào buổi sáng giúp kích hoạt trao đổi chất và hỗ trợ gan bắt đầu quá trình xử lý chất thải, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Trước bữa ăn: Uống nước trước bữa ăn khoảng 20 - 30 phút có thể hỗ trợ tiêu hóa và giúp kiểm soát lượng thức ăn nạp vào. Điều này gián tiếp giảm gánh nặng chuyển hóa cho gan.
Giữa buổi chiều: Đây là thời điểm cơ thể dễ mệt mỏi và mất nước nhẹ. Việc bổ sung nước giúp duy trì tuần hoàn máu, hỗ trợ thận lọc chất thải hiệu quả hơn.
Trước khi đi ngủ (với lượng vừa phải): Một lượng nước nhỏ trước khi ngủ có thể giúp duy trì hoạt động ổn định của cơ thể qua đêm, nhưng không nên uống quá nhiều để tránh gián đoạn giấc ngủ.
Theo tiến sĩ William Schaffner, chuyên gia y tế tại Trung tâm Y khoa Đại học Vanderbilt (Mỹ), khi cơ thể được cung cấp nước đều đặn, máu lưu thông tốt hơn, giúp gan xử lý chất độc hiệu quả và thận lọc máu trơn tru hơn.
Ngược lại, khi thiếu nước, máu có xu hướng cô đặc, khiến thận phải làm việc nhiều hơn và tăng nguy cơ hình thành sỏi. Đồng thời, gan cũng phải “gánh” thêm nhiệm vụ hỗ trợ thải độc, theo NHS.
Các chuyên gia khuyến nghị nên chia nhỏ lượng nước trong ngày, thay vì uống quá nhiều cùng lúc. Trung bình mỗi người cần khoảng 1,5 - 2 lít nước mỗi ngày, tùy theo thể trạng và mức độ vận động.
Ngoài ra, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ khuyến cáo nên hạn chế đồ uống có đường hoặc có cồn vì có thể làm tăng gánh nặng cho gan và thận.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), nhu cầu nước của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc vào tuổi tác, tình trạng sức khỏe, thời tiết và mức độ vận động.
Vì vậy, cách tốt nhất là duy trì thói quen uống nước đều đặn trong ngày và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của cơ thể.