Chị Thu Uyên, có con học lớp 8 tại Hà Nội, cho biết nếu như trước kia học sinh (HS) học thêm tại trường phải đóng 16.000 đồng/tiết học (45 phút) thì nay khi ra trung tâm, gia đình phải đóng 120.000 – 150.000 đồng cho mỗi buổi học 90 phút.
Điều đáng nói là dù mức đóng góp cao hơn nhiều lần nhưng chất lượng thì không khác biệt, vẫn là giáo viên (GV) trong trường nhưng các thầy cô “đổi chéo” cho nhau để đảm bảo đúng quy định không dạy thêm với HS chính khóa. Cơ sở vật chất thì chật hẹp hơn do phải đi thuê mướn nhà dân ở gần trường.
Chị Thu Uyên cho rằng quy định mới của Bộ GD-ĐT thì các trường chỉ được tổ chức dạy thêm miễn phí với HS cuối cấp để phục vụ thi cử, mà con chị mới học lớp 8 nên muốn học thêm trong trường cũng phải chờ sang năm. Tuy nhiên, chị cũng cho biết thực tế mà phụ huynh lớp 9 chia sẻ thì không có gì là “miễn phí” cả, bằng cách này, cách khác phụ huynh vẫn đóng góp cho việc học của con mình, dù trên lớp hay ở trung tâm.
Bình luận của một phụ huynh về chủ đề này trên nhóm mạng xã hội dành cho phụ huynh HS Hà Nội nhận được nhiều “like”: “Thực ra cứ như trước vẫn được cả nhà trường, HS và thầy cô mà chẳng phải dấm dúi. Giờ HS ra ngoài học, vẫn thầy cô đó dạy mà còn phải trả tiền nhiều hơn”. Cạnh đó là loạt bình luận như: vẫn thu tiền thông qua ban đại diện cha mẹ HS nhưng danh nghĩa thì học miễn phí. Bộ, sở hỏi đến thì là do phụ huynh tự ý, nhà trường không biết…
Dù tự nguyện hay bắt buộc thì không ít phụ huynh đã đăng ký cho con học thêm có đóng phí bằng cách “lách luật” này và thực tế này không riêng ở địa phương nào.
Có phụ huynh ở Thanh Hóa chia sẻ, một phụ huynh khác trong lớp liên lạc với từng người hỏi có muốn cho con học thêm với cô giáo dạy toán trên lớp không, nếu muốn cho con học thì đăng ký với phụ huynh đó trên tinh thần tự nguyện ôn phụ đạo để củng cố kiến thức. Hết tháng, gửi tiền học cho phụ huynh đó để gửi lại GV dạy gọi là “tiền bồi dưỡng” cho GV.
Tại tỉnh Ninh Bình, đầu năm 2026, dư luận cũng xôn xao khi một hiệu phó Trường THCS Ninh Thành (P.Hoa Lư) bị kỷ luật cảnh cáo khi cùng với một GV tự ý đưa HS bên ngoài vào trường dạy thêm ban đêm để thu tiền. Sự việc cho thấy có rất nhiều cách lách luật dạy thêm mà các văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa lường hết được.
Năm 2025, sau một thời gian thông tư mới về dạy thêm học thêm (DTHT) được thực thi, trong báo cáo của Ủy ban MTTQ VN, một loạt tỉnh, thành phố cho thấy cử tri và nhân dân đánh giá việc Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư số 29 với các quy định cụ thể nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động DTHT, tránh tình trạng lạm dụng và tiêu cực trong giáo dục là bước tiến trong việc minh bạch hóa hoạt động DTHT, bảo đảm quyền lợi cho HS và GV, đồng thời giảm áp lực tài chính cho phụ huynh.
Tuy nhiên, nhân dân phản ánh tình trạng phụ huynh tự tổ chức thu tiền dưới danh nghĩa “bồi dưỡng” nhưng không công khai, dẫn đến sự không đồng thuận giữa các phụ huynh trong lớp. Trong khi đó, GV cũng đối mặt với áp lực lớn khi phải bảo đảm chất lượng giảng dạy và ôn tập mà không được thu phí, gây thiếu công bằng và ảnh hưởng đến đời sống của GV.
Một số địa phương gặp khó khăn trong việc giám sát và thực thi quy định, đặc biệt tại các trung tâm dạy thêm ngoài nhà trường. Từ thực tế trên, cử tri đề nghị các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cần có biện pháp giám sát, thanh tra thường xuyên để bảo đảm thực hiện đúng quy định, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Đầu năm 2026, trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Ninh Bình về việc “cho phép tổ chức dạy thêm tại trường để giúp giảm chi phí học thêm cho phụ huynh, hạn chế tình trạng dạy thêm tràn lan bên ngoài, nâng cao chất lượng giáo dục”, Bộ GD-ĐT giữ quy định hạn chế đối tượng HS được học thêm trong nhà trường theo Thông tư 29 và không thu tiền của HS, đồng thời khẳng định: “Quan điểm của Bộ GD-ĐT là hướng tới mô hình trường học không có DTHT”.
Xung quanh yêu cầu cần quản lý, giám sát tốt hơn việc DTHT, đại diện Bộ GD-ĐT cho rằng: việc thanh tra, kiểm tra hoạt động DTHT được thực hiện theo nguyên tắc công khai, khách quan, đúng thẩm quyền; kịp thời phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm.
Thông tư 19/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 15.5 quy định rõ xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm, tái phạm hoặc có hành vi ép buộc, trục lợi trong hoạt động DTHT.
Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm, Phó chủ tịch Hội Khoa học tâm lý giáo dục VN, khẳng định dù quản lý còn khó khăn nhưng ông đồng tình với tinh thần Thông tư 29, đó là hướng tới chấm dứt tình trạng DTHT tràn lan trong nhà trường. Tuy nhiên theo ông, hiện nay việc dạy thêm vẫn còn khá phổ biến. Nguyên nhân chính không chỉ vì thi cử, mà là do nhiều HS chưa biết cách học, chưa có khả năng tự học. Khi các em chưa tự học được thì nhu cầu học thêm là có thật, không thể phủ nhận.
Ông Lâm cho rằng Thông tư 19/2026 đã điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với thực tế, không phải là nới lỏng, mà là làm rõ để tổ chức cho đúng. Những HS yếu, chưa biết cách học thì cần được hỗ trợ, được phân loại rõ ràng, không làm tràn lan, không biến thành dạy thêm đại trà. “Tôi cho rằng điểm tích cực là quy định rõ hơn. Khi đã rõ ràng thì việc tổ chức sẽ công khai, minh bạch, đi vào nền nếp hơn”, ông Lâm bày tỏ.
Ông Lâm cũng cho rằng hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm toàn diện về việc tổ chức DTHT trong nhà trường. Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cho từng khối lớp, từng nhóm đối tượng, không thể làm chung chung. Với HS khá giỏi thì không cần học thêm nhiều, các em phải tự học là chính. GV chỉ cần tổ chức các buổi chữa bài, nêu vấn đề, định hướng; có thể học trực tuyến, không nhất thiết phải đến trường.
Ông Lâm đề xuất 3 vấn đề để thay đổi khi tổ chức DTHT trong nhà trường. Thứ nhất là nhận thức. Phải hiểu dạy thêm là để hỗ trợ HS phát triển, không phải là áp lực, cũng không phải là nguồn thu.
Thứ hai là công tác quản lý trong nhà trường. Hiệu trưởng phải tổ chức khoa học, kiểm tra đầy đủ, bảo đảm đúng quy định và đúng yêu cầu sư phạm.
Thứ ba là sự tham gia của gia đình và xã hội. Không thể chỉ giao cho nhà trường. Phụ huynh phải đồng hành, chính quyền địa phương cũng cần tham gia giám sát một cách khách quan. Khi làm được những điều này thì DTHT sẽ trở về đúng nghĩa là hoạt động hỗ trợ HS, đúng tinh thần gỡ khó cho thầy và tạo thuận lợi cho trò.
Dù vậy, TS Lâm cũng bày tỏ băn khoăn về tính khả thi trong thực hiện quy định không thu tiền dạy thêm. Thực tế, không ít sở GD-ĐT cũng đã từng kiến nghị với Bộ GD-ĐT có hướng dẫn hoặc giải pháp cho vấn đề này, bởi yêu cầu GV dạy miễn phí không thể kéo dài mà chi từ ngân sách địa phương thì không phải địa phương nào cũng thực hiện và thiếu căn cứ pháp lý về tài chính để thực hiện.
Sáng nay (26.6), tại thành phố Huế, Trường đại học Kinh tế phối hợp cùng Trường đại học Sư phạm (Đại học Huế) và Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM) tổ chức hội thảo khoa học quốc gia chủ đề "40 năm đổi mới ở Việt Nam - Từ kinh tế kế hoạch hóa đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (1986 - 2026)".
Sự kiện diễn ra nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2026). Đây là diễn đàn quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia đến từ Đại học Huế, Đại học Quốc gia TP.HCM, Học viện Chính trị khu vực III, Đại học Cần Thơ, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ cùng nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo và quản lý trên cả nước.
Mục tiêu của hội thảo nhằm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận, ghi nhận những thành tựu to lớn cùng bài học kinh nghiệm sâu sắc sau 4 thập kỷ đổi mới đất nước.
Chương trình hội thảo bắt đầu bằng phiên toàn thể với các báo cáo đề dẫn mang tính chiến lược. Nội dung tập trung vào thành tựu, triển vọng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức; cục diện thế giới đa cực và đối sách của Việt Nam trong quan hệ kinh tế đối ngoại hiện nay.
Tại hội thảo, tham luận chủ đề "Từ 40 năm đổi mới đến tăng trưởng bứt phá: Vai trò của kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam" của TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ (Trường đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM) nhận được sự đánh giá cao từ ban tổ chức và các đại biểu.
Theo TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ, năm 2026 là cột mốc lịch sử tròn 40 năm kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung gặp nhiều khó khăn thành một nền kinh tế năng động, có độ mở cao và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, TS Hồng Huệ cũng thẳng thắn chỉ ra những "nút thắt" tăng trưởng cần tháo gỡ gồm: đầu tư cho tri thức còn thấp, năng suất lao động chưa cao và giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Thực tế chỉ ra rằng Việt Nam không thiếu tri thức nhưng đang thiếu khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế.
Phân tích về động lực phát triển, TS Trịnh Hoàng Hồng Huệ nhận định, nếu giai đoạn 1986 - 2026 nước ta thành công nhờ giải phóng các nguồn lực đất đai, vốn và lao động, thì chặng đường 20 năm tiếp theo (2026 – 2045) chỉ có thể bứt phá bằng cách giải phóng tri thức, công nghệ và sức sáng tạo của con người. Đây chính là nền tảng cốt lõi để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo vào năm 2045.
Bên cạnh đó, các phiên thảo luận cũng đã mang lại nhiều góc nhìn thời sự về đổi mới tư duy kinh tế, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, phát huy nhân tố con người và hoàn thiện thể chế.
Theo báo cáo của Sở GD&ĐT TPHCM, buổi thi môn toán sáng 2/6 trong kỳ tuyển sinh lớp 10 công lập năm học 2026-2027 diễn ra ổn định, đúng quy chế, không ghi nhận sự cố bất thường trong quá trình tổ chức thi.
Toàn thành phố ghi nhận 639 thí sinh vắng mặt ở môn toán trong tổng số 151.557 thí sinh đăng ký dự thi, chiếm tỷ lệ 0,42%.
Sở GD&ĐT TPHCM thông tin, trong buổi thi sáng nay, có 3 trường hợp thí sinh gặp vấn đề về sức khỏe.
Cụ thể, tại điểm thi Trường THCS Mạc Đĩnh Chi (phường Tân Hòa), một thí sinh bị đau dạ dày; tại điểm thi Trường THCS Trung Lập (xã Thái Mỹ), một thí sinh bị mệt; và tại điểm thi Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi (phường Bình Trưng), một thí sinh bị đau bụng.
Các thí sinh đều được cán bộ y tế hỗ trợ, đưa xuống phòng y tế để theo dõi và xử lý.
Tuy nhiên, theo quy định, các trường hợp này không được bù thêm thời gian làm bài thi.
Chiều nay, thí sinh TPHCM đăng ký thi chuyên/tích hợp sẽ thi các môn thi tương ứng.
Một buổi sáng, chị T., sau khi thấy con gái 8 tuổi nhất quyết không chịu ăn sáng đã phải dùng chiêu cuối, nói "con không ăn thì mẹ sẽ buồn, mẹ sẽ giận, mẹ sẽ không đưa đi học nữa". Bé gái òa khóc, ăn trong nước mắt, rồi đến trường với đôi mắt sưng húp.
Giống như chị T., nhiều cha mẹ thường rơi vào mâu thuẫn. Muốn xây cho con một hệ điều hành nội tâm, muốn con độc lập, tự chủ, nhưng lại "cài" cho con một hệ điều khiển từ bên ngoài.
Hệ điều hành nội tâm (internal operating system) và hệ điều khiển (control system) là 2 thứ trông giống nhau một cách đáng ngạc nhiên, đặc biệt khi cả hai đều "chạy tốt" ở bề mặt.
Đứa trẻ có hệ điều hành biết tự vận hành từ bên trong sẽ biết tự quan sát, tự cảm nhận, tự quyết định, tự điều chỉnh.
Đứa trẻ có hệ điều khiển cũng biết làm nhiều việc, cũng ngoan, học giỏi, có trách nhiệm, nhưng bên trong không phải là một bộ máy tự vận hành, mà là một loạt "nút nhấn" được cài đặt sẵn và sẵn sàng “nhận tín hiệu” từ bên ngoài.
Nhìn từ ngoài, hai đứa trẻ có thể giống nhau. Nhưng bên trong là hai vũ trụ khác hẳn.
Khi chúng ta dạy con bằng dọa nạt, đòn roi, hay những đòn trừng phạt bằng cảm xúc như nếu không làm điều này, điều kia thì "mẹ không thương con nữa", hệ thần kinh của đứa trẻ sẽ trả giá nặng nề.
Theo lý thuyết đa phế vị (Polyvagal Theory) mà Stephen Porges phát triển, hệ thần kinh tự chủ của chúng ta liên tục quét môi trường để đánh giá an toàn hay nguy hiểm, một tiến trình gần như tự động gọi là cảm nhận an nguy. Khi trẻ cảm nhận nguy hiểm, cho dù là đe dọa thể chất hay đe dọa mất kết nối với người mình phụ thuộc, hệ thần kinh chuyển sang chế độ giao cảm để sẵn sàng chiến đấu hoặc chạy trốn. Nếu mối đe dọa quá lớn và trẻ không thể chống cự cũng không thể chạy thoát, hệ thần kinh trượt sâu hơn vào chế độ đóng băng và khuất phục.
Không chỉ vậy, những trải nghiệm này không hề hình thành ở trẻ bài học đạo đức nào, mà sẽ điều kiện hóa những phản xạ kiểu "khi người quan trọng nhất đời mình tỏ ra lạnh lẽo hay giận dữ, mình phải làm bất cứ điều gì để được kết nối lại". Phản xạ này lặp lại hàng ngàn lần qua tuổi thơ sẽ trở thành một lối mòn thần kinh hoạt động trong vô thức. Đó chính là một nút điều khiển, nhiều nút sẽ tạo thành hệ điều khiển, không phải hệ điều hành.
Không phải cha mẹ nào cũng dùng đòn roi. Nhiều cha mẹ tinh tế hơn nhiều, và chính vì vậy những “nút điều khiển” họ cài vào con còn khó tháo gỡ hơn.
Có những câu nói nghe chí lý và rất có trách nhiệm mà cha mẹ thường nói như "con là anh cả, con phải làm gương"; "nhà mình chỉ trông vào con thôi đấy"; "ba mẹ già rồi, còn lại trông cả vào con"; "con không học là phụ công ba mẹ"... Mỗi câu mang tính điều kiện như vậy là một sợi dây vô hình buộc vào phần trách nhiệm, phần đạo hiếu, phần tình thương trong con. Nhưng cái giá là đứa trẻ phải học cách xem nhẹ nhu cầu chính đáng của bản thân. Con học được rằng mong muốn của riêng nó là ích kỷ, là không đáng kể, là thứ phải hy sinh.
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản, gọi hiện tượng này là sự hình thành các "điều kiện của giá trị bản thân". Đứa trẻ dần dần nhập tâm một thông điệp ngầm: mình chỉ có giá trị, chỉ đáng được yêu thương khi đáp ứng một số điều kiện. Dần dần, nó mất dần khả năng lắng nghe tiếng nói từ bên trong, nó mất khả năng biết được mình thực sự cảm thấy gì, muốn gì, cần gì…
Những “nút điều khiển” ấy không hề biến mất khi đứa trẻ lớn lên. Chúng được mỗi người mang theo vào đời, và trở thành những “móc câu” mà cuộc đời, hoàn cảnh... có thể lợi dụng vào để giật dây.
Một chàng trai trong độ tuổi 30 tham vấn với tôi, anh làm kế toán trưởng của một công ty lớn. Anh kể "Không hiểu sao mỗi lần sếp tỏ ra không hài lòng, em lại cảm thấy như bầu trời sập xuống. Em làm mọi thứ để lấy lòng sếp, kể cả những việc trái với giá trị của em". Quay về thời ấu thơ, anh kể, hồi 5 tuổi, anh đã từng đứng chết lặng trước ánh mắt lạnh lùng của người cha, mỗi khi anh không đạt kỳ vọng.
Chuyển từ hệ điều khiển sang hệ điều hành không phải chuyện một sớm một chiều, càng không phải là một kỹ thuật. Trước tiên, cha mẹ cần chuyển hóa.
Điều đầu tiên là cha mẹ nhận ra mình đang cài đặt điều gì trong nội tâm con.
Điều thứ hai là học cách đặt giới hạn mà không cần đến sợ hãi. Trẻ con cần giới hạn, điều này là tất nhiên. Nhưng giới hạn hợp lý tự nhiên dựa trên hệ quả thực tế khác hẳn với giới hạn áp đặt qua sự mặc cả bằng tình cảm của cha mẹ.
Ví dụ, con không ăn sáng thì con sẽ đói vào giờ ra chơi, đó là hệ quả tự nhiên, con học được mối liên hệ giữa hành động và kết quả. Còn nếu không ăn sáng thì "mẹ không thương con nữa" không phải là giới hạn, đó là "tống tiền" tình cảm, con sẽ học được rằng tình yêu có thể bị dùng để khống chế người khác.
Điều thứ ba, và có lẽ khó nhất, là tin vào khả năng tự điều chỉnh của con. Khi ta không vội can thiệp, không vội sửa sai, không vội cứu con khỏi mọi khó khăn nhỏ, ta đang cho con cơ hội phát triển năng lực tự nhận thức và tự chịu trách nhiệm. Cây nào quả đó, hoa quả ra theo mùa. Đứa trẻ cần thời gian, không gian, và niềm tin của cha mẹ để nội lực tự nảy nở từ bên trong. Nội lực không thể được cài đặt từ bên ngoài, nó chỉ có thể được nuôi dưỡng để tự lớn lên bên trong trẻ.