Theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản bền vững, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, gắn với chiến lược tái cấu trúc đô thị và mô hình phát triển định hướng giao thông công cộng (TOD).
Ưu tiên các dự án xử lý môi trường cấp bách
Hà Nội cho biết giai đoạn 2026-2030, thành phố tập trung tháo gỡ điểm nghẽn và định hình khung hạ tầng.
Theo đó, ưu tiên 1 là đầu tư khép kín các tuyến vành đai liên vùng (Vành đai 4, Vành đai 4,5, Vành đai 5, quốc lộ 1A), các trục hướng tâm (quốc lộ 1A, 5, 6, 32, Xuân Mai – Hà Đông – Tôn Thất Tùng,…) và các cầu lớn vượt sông Hồng, sông Đuống, sông Đà.
Ưu tiên 2 là khởi công và đẩy nhanh tiến độ các tuyến đường sắt đô thị tuyến số 1 (Ngọc Hồi – Yên Viên); tuyến số 1A (nối ga Ngọc Hồi với sân bay thứ 2); các tuyến trục xuyên tâm và tuyến vành đai.
Ưu tiên 3 là các dự án xử lý môi trường cấp bách (hệ thống tách nước thải, các nhà máy xử lý nước thải tập trung quy mô lớn, nhà máy điện rác, nhà hỏa táng, chuyển đổi phương tiện giao thông từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch; các chương trình giảm ô nhiễm môi trường không khí, phát thải thấp,…); hệ thống bể ngầm, các hồ chứa chống ngập nội đô; cải tạo các dòng sông kết hợp cải tạo chỉnh trang hai bên sông như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu Bây,…
Thành phố cũng sẽ thí điểm mô hình hạ tầng tích hợp đa mục tiêu “Hồi sinh các dòng sông”: Xây dựng hệ thống bể chứa ngầm đa năng để tách nước thải triệt để đầu nguồn và xóa bỏ úng ngập; kết hợp mở rộng đại lộ ven sông và chỉnh trang cảnh quan hóa giải ùn tắc, kiến tạo trục hướng tâm xanh bền vững cho thủ đô, hiện thực hóa mục tiêu môi trường Net-Zero bền vững.
Hà Nội xác định giai đoạn 2031-2045 sẽ bứt phá và hoàn thiện mạng lưới. Trong giai đoạn này, thành phố sẽ hoàn thiện mạng lưới đường sắt đô thị và kéo dài các tuyến đường sắt nhẹ (LRT) kết nối với các đô thị tại các cực tăng trưởng.
Cùng với đó, thành phố sẽ nghiên cứu, đầu tư xây dựng cảng hàng không thứ 2 Vùng Thủ đô ở phía Nam và hình thành khu thương mại tự do. Hoàn thành xây dựng 5 tổ hợp y tế chất lượng cao và các khu đô thị đại học tập trung.
Giai đoạn 2046 – 2065, Hà Nội sẽ đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới giao thông không gian tầm thấp, các không gian văn hóa mang tính biểu tượng thế kỷ và các dự án đô thị sinh thái phát thải ròng bằng 0.
Quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở xã hội tập trung quy mô lớn
Về mục tiêu, chỉ tiêu phát triển diện tích nhà ở, Hà Nội cho biết giai đoạn 2026-2030, tối thiểu đạt 35m2 sàn/người, phấn đấu đạt 40m2 sàn/người; giai đoạn 2031-2035, nâng diện tích nhà ở bình quân toàn thành phố tối thiểu đạt 45m2 sàn/người.
Về các nhóm giải pháp chiến lược, Hà Nội sẽ tái thiết, tái cấu trúc đô thị, thực hiện tái thiết toàn diện các khu chung cư cũ, khu tập thể xuống cấp trong phạm vi Vành đai 2 theo mô hình tích hợp TOD – CBD. Đồng thời, áp dụng các cơ chế ưu đãi để khuyến khích cư dân di dời từ lõi di sản ra các khu đô thị mới được đầu tư đồng bộ tại vùng ngoại vi.
Thành phố cũng sẽ tập trung phát triển các khu đô thị đa mục tiêu dọc theo các trục đường sắt đô thị phía ngoài Vành đai 3 theo mô hình nén quanh các ga đường sắt đô thị theo mô hình TOD.
Về nhà ở xã hội và nhà ở công nhân, Hà Nội sẽ ưu tiên quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở xã hội tập trung quy mô lớn, bảo đảm đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Các dự án này phải được bố trí tại các vị trí thuận tiện kết nối với mạng lưới đường sắt đô thị nhằm đảm bảo môi trường sống văn minh, thuận lợi cho người có thu nhập thấp và công nhân tại các khu, cụm công nghiệp.
Thành phố sẽ thúc đẩy xu hướng bất động sản thông minh, công trình xanh và tiết kiệm năng lượng gắn với hạ tầng TOD, xác lập các công cụ tài chính và quy hoạch để kiểm soát tình trạng đầu cơ bất động sản và phát triển đa dạng loại hình sản phẩm, chú trọng thị trường nhà ở cho thuê để tăng cường khả năng tiếp cận nhà ở cho mọi tầng lớp nhân dân.
Theo quy hoạch, Hà Nội sẽ mở rộng cải tạo, tái thiết, tái cấu trúc các khu vực Vành đai 1, Vành đai 2, Vành đai 3 và lan tỏa ra các khu vực đô thị và nông thôn trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả, nâng cao chất lượng đô thị và đảm bảo môi trường, sinh kế của người dân, tạo dư địa, động lực phát triển.
Về tái thiết đô thị gắn với mô hình giao thông (TOD), thành phố ưu tiên cải tạo, tái thiết đô thị xung quanh mạng lưới các ga đường sắt đô thị để hình thành các khu phức hợp đa chức năng mật độ cao theo mô hình TOD.
Cùng với đó, Hà Nội sẽ tập trung thực hiện tại các tổ hợp nhà ga đầu mối trọng điểm như ga Ngọc Hồi, ga Hà Nội, Gia Lâm, Yên Thường và các điểm nút giao thông chiến lược khác để tối ưu hóa năng lực vận tải công cộng khối lượng lớn.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2.4.2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24.1.2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình).
Chương trình phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2025 đạt tối thiểu 45%, đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 1,5 - 1,9% vào năm 2025, đến năm 2030 đạt khoảng 1,9 - 2,3%.
Số lượng đô thị toàn quốc đến năm 2025 khoảng 950 - 1.000 đô thị, đến năm 2030 khoảng 1.000 - 1.200 đô thị. Đến năm 2025, 100% các đô thị hiện có và đô thị mới có quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, chương trình cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị. Đến năm 2030, hình thành một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cấp vùng đạt các chỉ tiêu về y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa cấp đô thị tương đương mức bình quân của các đô thị thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN.
Tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt khoảng 11 - 16% vào năm 2025, 16 - 26% vào năm 2030. Diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân tại khu vực đô thị đạt khoảng 6 - 8 mét vuông vào năm 2025, khoảng 8 - 10 mét vuông vào năm 2030. Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt tối thiểu 28 mét vuông vào năm 2025, đến năm 2030 đạt tối thiểu 32 mét vuông.
Đến năm 2025, hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình tại đô thị, phổ cập dịch vụ mạng di động 4G, 5G và điện thoại thông minh; tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt trên 80%. Đến năm 2030, phổ cập dịch vụ mạng internet băng rộng cáp quang, phổ cập dịch vụ mạng di động 5G, tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt 100%.
Kinh tế khu vực đô thị đóng góp vào GDP cả nước khoảng 75% vào năm 2025 và khoảng 85% vào năm 2030. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc Trung ương đạt bình quân 25 - 30% vào năm 2025, 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 2636 ngày 25/5 phê duyệt Đề án khu đô thị đa mục tiêu trên địa bàn Hà Nội. Đề án nhằm phát triển các khu đô thị đa mục tiêu phân bổ đồng đều tại 8 hướng của thành phố gắn với 9 trục động lực phát triển được xác định tại định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
Các khu đô thị này được ưu tiên xây dựng gần hành lang giao thông chính, đầu mối giao thông công cộng và đáp ứng nhu cầu nhà ở bao gồm: nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư cho các dự án trọng điểm đang triển khai, nhà ở công vụ, nhà ở cho thuê kết hợp với tỷ lệ hợp lý nhà ở thương mại.
Khu đô thị đa mục tiêu được định hướng hình thành không gian sống và làm việc bền vững, có khả năng tạo lập và duy trì sinh kế cho người dân. Các khu này được bố trí đầy đủ chức năng thương mại, dịch vụ, sản xuất sạch, logistics đô thị, không gian làm việc - dịch vụ công cộng; bảo đảm người dân có thể sinh hoạt thường ngày, học tập (trường mầm non, phổ thông, cơ sở đào tạo nghề), tiếp cận y tế (bệnh viện, phòng khám), văn hóa - thể thao trong phạm vi khu đô thị.
Thành phố khuyến khích các nhà đầu tư chiến lược, có năng lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng triển khai đồng bộ hạ tầng tham gia đầu tư khu đô thị đa mục tiêu, bảo đảm tuân thủ yêu cầu, nguyên tắc và cơ chế quản lý của đề án.
Cơ cấu nhà trong khu đô thị được tổ chức theo hướng ưu tiên phục vụ công tác tái thiết đô thị khu vực trung tâm thành phố, giãn dân nội đô, bố trí tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, đồng thời bảo đảm yêu cầu an sinh xã hội, phát triển đô thị đồng bộ và cân đối nguồn lực đầu tư.
Cụ thể, nhà ở thương mại trong khu đô thị đa mục tiêu được kinh doanh theo quy định. Chủ đầu tư phải công khai tiêu chuẩn chất lượng, giá bán, bảo đảm bàn giao đúng tiến độ và chất lượng cam kết, thực hiện nghĩa vụ bảo hành, bảo trì. Bên mua, thuê mua nhà ở thương mại không được bán lại nhà ở trong 3 năm, kể từ ngày thanh toán đủ tiền mua, thuê mua nhà. Trường hợp có nhu cầu bán nhà ở này khi chưa hết thời hạn 3 năm thì chỉ được bán lại cho chủ đầu tư dự án với giá bán tối đa bằng giá bán trong hợp đồng mua bán.
Nhà ở xã hội được quản lý, bán, cho thuê, cho thuê mua theo đúng đối tượng, điều kiện và trình tự, thủ tục quy định. Nhà ở phục vụ tái định cư được bố trí theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt. Sau khi quỹ nhà ở phục vụ tái định cư tại dự án đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai, chủ đầu tư dự án trực tiếp ký hợp đồng mua bán nhà ở với người diện tái định cư theo danh sách được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Trường hợp quá 12 tháng kể từ ngày công trình được nghiệm thu đưa vào sử dụng mà căn hộ tái định cư chưa được bố trí hoặc không có người nhận theo phương án bồi thường đã được phê duyệt, nhà đầu tư được đề xuất chuyển số căn hộ chưa sử dụng sang nhà ở xã hội để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua.
Theo tính toán của thành phố, tổng nhu cầu phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030 khoảng 195-255 triệu m2 sàn, sau khi đáp ứng nhu cầu về nhà ở xã hội (khoảng 18 triệu m2 sàn), nhà ở do người dân tự xây dựng (khoảng 45 triệu m2 sàn) thì cần phát triển khoảng 132-192 triệu m2 sàn nhà ở thương mại, nhà ở tái định cư trong các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị đa mục tiêu.
Lộ trình của đề án nêu rõ quý II/2026, thành phố xây dựng dự thảo và phê duyệt Đề án khu đô thị đa mục tiêu; tổ chức thực hiện một số khu. Đến năm 2030, thành phố đưa vào vận hành 2-3 khu đô thị, đánh giá kết quả thực hiện đề án, làm cơ sở để tiếp tục triển khai mô hình trên địa bàn.
Hồi đầu tháng 2, TP Hà Nội khởi công hai khu đô thị đa mục tiêu. Dự án đầu tiên là Bắc Thăng Long Urban City có quy mô gần 700 ha, nằm tại các xã Phúc Thịnh, Thiên Lộc (thuộc huyện Đông Anh cũ) và xã Mê Linh (huyện Mê Linh cũ). Vị trí dự án này nằm giữa vành đai 3 (kết nối trực tiếp cầu Thăng Long) và vành đai 3,5 (kết nối cầu Thượng Cát), tiến độ triển khai đến 2032.
Dự án thứ hai là khu đô thị đa mục tiêu tại xã Thư Lâm và Đông Anh của Công ty cổ phần Tập đoàn Tương Lai Sông Hồng. Khu này cách dự án Bắc Thăng Long Urban City khoảng 18 km, gần cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, quy mô dự án khoảng 696 ha.
Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina - doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
"Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu", ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
"Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động", bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.