Tôi là một cô gái Gen Z, năm nay 25 tuổi và đã tham gia thị trường lao động gần bốn năm nay. Sau khi đọc bài “Áp lực ‘tăng ca vô hình’ của lao động công sở”, bởi tôi nhận ra bản thân mình trong từng chi tiết của bài viết ấy.
Tôi từng nghĩ chỉ cần còn trẻ thì có thể làm việc nhiều hơn người khác, chịu áp lực tốt hơn người khác và hy sinh thời gian cá nhân để đổi lấy cơ hội thăng tiến. Nhưng sau bốn năm đi làm, điều khiến tôi sợ nhất không còn là KPI hay deadline, mà là cảm giác cuộc sống của mình đang dần bị công việc nuốt chửng.
Nhiều người vẫn nghĩ Gen Z là thế hệ thích nghỉ ngơi, dễ bỏ việc và thiếu chịu đựng áp lực. Nhưng ít ai nhìn thấy phía sau những bức ảnh check-in văn phòng hay những dòng trạng thái bận rộn trên mạng xã hội là một thế hệ đang kiệt sức âm thầm.
Chúng tôi lớn lên trong thời đại công nghệ phát triển, nơi mọi thứ diễn ra nhanh hơn, cạnh tranh hơn và áp lực cũng nhiều hơn. Công việc không còn dừng lại ở tám tiếng nơi công sở. Nó theo chúng tôi lên xe buýt, vào bữa cơm tối, lên giường ngủ và cả trong những ngày nghỉ hiếm hoi.
Tôi làm ở một công ty chuyên về quản lý kinh doanh. Bộ phận của tôi có 30 người, nhiệm vụ phát triển đối tác và xây dựng nhóm kinh doanh mới, trực tiếp mang doanh thu về cho công ty. Năm trước phòng tôi vượt KPI, năm nay công ty tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thành tích càng tốt thì áp lực càng lớn.
Trong môi trường ấy, việc tăng ca gần như trở thành điều hiển nhiên. Có những ngày tôi rời văn phòng lúc 19h nhưng công việc vẫn chưa kết thúc. Điện thoại liên tục rung lên vì tin nhắn từ các nhóm chat công việc. Khách hàng gọi lúc tối muộn vì ban ngày họ bận. Có hôm tôi đang chuẩn bị ngủ thì sếp “tag” vào nhóm yêu cầu sửa báo cáo gấp cho cuộc họp sáng hôm sau. Tôi bật laptop lúc gần nửa đêm, vừa sửa file vừa cố giữ tỉnh táo bằng ly cà phê.
Điều đáng sợ nhất là chúng tôi dần xem cuộc sống ấy như bình thường. Tôi từng tự hào vì mình có thể thức đến một giờ sáng để chạy deadline. Tôi nghĩ đó là biểu hiện của sự chăm chỉ và cầu tiến. Trong môi trường công sở hiện đại, những người online muộn nhất thường được xem là có trách nhiệm nhất.
Chúng tôi ca ngợi văn hóa “hustle” như một điều đáng ngưỡng mộ. Nhưng rồi tôi nhận ra đằng sau những giờ tăng ca ấy là những cơ thể đang kiệt quệ và những tâm trí không còn được nghỉ ngơi đúng nghĩa. Tôi từng bị đau đầu kéo dài vì thiếu ngủ. Có những hôm bụng đau quặn vì ăn uống thất thường nhưng vẫn phải họp online với khách hàng.
Có ngày cuối tuần, bạn bè rủ đi cà phê nhưng tôi vẫn mang theo laptop vì “có thể khách sẽ cần gấp”. Tôi không nhớ lần cuối cùng mình thật sự thư giãn mà không cầm điện thoại để kiểm tra email là khi nào. Sau khi đọc bài viết về “tăng ca vô hình”, tôi mới nhận ra điều đáng sợ nhất của môi trường công sở hiện nay không phải là những giờ tăng ca được ghi trên bảng chấm công, mà là những giờ làm việc vô hình không ai tính đến.
Đó là những tin nhắn công việc lúc 23h. Là cảm giác lo lắng khi không trả lời điện thoại của sếp ngoài giờ hành chính. Là việc dù đang nghỉ phép nhưng vẫn phải mở máy tính xử lý công việc từ xa. Công nghệ giúp chúng ta làm việc linh hoạt hơn, nhưng cũng khiến ranh giới giữa công việc và cuộc sống gần như biến mất. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh, văn phòng có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu.
Chúng tôi không còn thật sự “tan làm”, mà chỉ là chuyển từ làm việc ở công ty sang làm việc ở nhà. Tôi nghĩ Gen Z đang là thế hệ chịu mâu thuẫn rất lớn. Chúng tôi được dạy phải sống hết mình cho tuổi trẻ, phải thành công sớm, phải độc lập tài chính trước tuổi 30. Mạng xã hội mỗi ngày đều tràn ngập hình ảnh những người trẻ kiếm tiền giỏi, thăng tiến nhanh và sống đầy năng lượng. Điều đó vô tình tạo nên áp lực rằng nếu mình nghỉ ngơi, mình sẽ tụt lại phía sau.
Nhiều người lớn thường nói Gen Z nhảy việc quá nhiều. Nhưng đôi khi, đó không phải vì chúng tôi thiếu kiên trì mà vì chúng tôi đang quá mệt mỏi. Một thế hệ lớn lên giữa khủng hoảng kinh tế, áp lực thành công và nhịp sống số hóa liên tục rất dễ rơi vào trạng thái “burnout” – kiệt sức vì công việc.
Chúng tôi mất ngủ, lo âu, dễ cáu gắt và dần không còn cảm thấy hạnh phúc với chính cuộc sống của mình. Điều buồn nhất là nhiều công ty vẫn xem sự hy sinh đời sống cá nhân là tiêu chuẩn của nhân viên tốt. Người làm việc đến khuya được khen trách nhiệm. Người luôn online cuối tuần được đánh giá nhiệt tình. Trong khi đó, những người muốn giữ cân bằng cuộc sống lại dễ bị xem là thiếu tham vọng.
Tôi ước có một ngày cuối tuần thật sự được nghỉ ngơi mà không phải ám ảnh bởi deadline. Và là khi chúng ta vẫn còn năng lượng để gặp gỡ bạn bè, chăm sóc gia đình và lắng nghe chính mình.
Đại gia đình tôi có 19 người, tính cả ông bà nội, cô chú, bố mẹ, anh chị em và các cháu thì đó là một gia đình khá đông đúc.
Tôi là con út của ba mẹ, vợ chồng tôi có hai con. Mùa tựu trường tới, đứa út sẽ vào lớp 6. Đứa cháu gọi tôi bằng chú là con của anh trai tôi kết hôn nhiều năm nhưng hiếm muộn, vẫn chưa có con. Những người cháu khác cũng đã lập gia đình, nhưng con của họ đều xấp xỉ tuổi con út tôi.
Nhìn lại cả đại gia đình, tôi chợt nhận ra đã rất lâu rồi chúng tôi không có một em bé mới sinh. Không còn cảnh mọi người chuyền tay nhau bế bồng, không còn tiếng khóc oe oe trong những dịp họp mặt. Đại gia đình thiếu em bé.
Tôi từng nghe một vài cháu nói rằng rất thích trẻ con, nhưng là con của người khác. Thấy em bé thì bế bồng, nựng nịu, chơi đùa rất vui. Nhưng khi hỏi bao giờ sinh con thì câu trả lời thường là: "Để từ từ đã". Thế nên thích trẻ con không đồng nghĩa với việc muốn sinh con.
Ngày trước, chuyện sinh con dường như là một phần rất tự nhiên của hôn nhân. Còn bây giờ, nhiều người trẻ nhìn việc có con như một quyết định cần cân nhắc rất kỹ. Vì có nhiều nỗi sợ: Sợ không đủ tiền, sợ không đủ thời gian...
Nhưng tôi nghĩ còn một nguyên nhân khác ít được nhắc tới hơn. Đó là môi trường xã hội ngày càng kém thân thiện với trẻ em.
Chỉ cần đưa một đứa trẻ ra ngoài là cha mẹ có thể nhận về vô số ánh nhìn khó chịu. Trẻ chạy nhảy trong quán cà phê bị cho là làm phiền người khác. Trẻ khóc trên máy bay bị xem như một sự quấy rầy. Trẻ hiếu động ở nơi công cộng dễ trở thành đối tượng bị phàn nàn.
Nhiều không gian được thiết kế cho người lớn nhưng lại thiếu sự bao dung với trẻ nhỏ. Dần dần, trẻ em trở thành những "vị khách không được chào đón" trong chính cộng đồng mà các em đang lớn lên.
Người lớn ngày nay cũng quen với cuộc sống gọn gàng, tiện lợi và ít ràng buộc hơn. Một đứa trẻ đồng nghĩa với việc phải thức đêm, phải hy sinh thời gian cá nhân, phải thay đổi nhiều kế hoạch. Trong mắt không ít người, trẻ con trở thành một "gánh nặng" nhiều hơn là một niềm vui. Đó là điều khiến tôi trăn trở vì nếu nhìn xa hơn, đó là câu chuyện của một xã hội đang già đi.
Chúng ta học hành, tìm việc, phấn đấu, kiếm tiền - sẽ có ý nghĩa gì nếu vắng thế hệ kế tiếp?
Bấy lâu nay tôi vẫn không cho rằng giải pháp nằm ở những lời kêu gọi sinh nhiều con. Điều cần thiết là tạo ra một môi trường mà ở đó việc có con không trở thành một cuộc đánh đổi quá lớn. Một môi trường có chi phí nuôi con hợp lý hơn, có nhiều hỗ trợ hơn cho các gia đình trẻ và quan trọng nhất là thân thiện hơn với trẻ em.
Tôi nghỉ hưu khi đã bước qua tuổi 60. Hơn 30 năm đi làm, tôi gần như sống theo một guồng quay cố định: sáng đi sớm, tối về muộn, cuối tuần cũng hiếm khi thật sự nghỉ ngơi. Tôi thuộc kiểu người lúc nào cũng sợ mình không đủ cố gắng. Cơ quan cần tăng ca, tôi cũng nhận. Đồng nghiệp nghỉ, tôi cũng làm thay. Nhiều năm liền, cuộc sống của tôi chỉ xoay quanh hai chữ "trách nhiệm".
Mỗi lần mệt, tôi lại tự nhủ: "Ráng thêm vài năm nữa thôi, về hưu rồi tha hồ nghỉ". Và thực tế là tôi đã có nhà cửa, có tiền tiết kiệm để dưỡng già. Tôi từng mơ về những ngày nghỉ hưu rất đẹp: sáng uống cà phê, chiều đi bộ, cùng vợ đi du lịch. Tôi nghĩ mình sẽ có thời gian đọc sách, chăm cây, gặp bạn bè cũ. Nhưng thực tế lại không giống tưởng tượng.
Hệ quả của những năm tháng làm việc đến kiệt sức khiến tôi mang theo nhiều bệnh tật ở tuổi xế chiều. Đầu gối tôi đau khi đi bộ lâu. Rối loạn huyết áp nên tôi phải uống thuốc mỗi ngày. Chưa kể bệnh mất ngủ kinh niên kéo dài gần 10 năm qua. Có lúc ngồi ở nhà, tôi tự hỏi: "Mình đã đánh đổi quá nhiều để làm gì?".
Ngày các con còn nhỏ, tôi gần như luôn vắng mặt ở nhà. Sáng tôi đi làm trước khi con thức dậy, tối về thì chúng đã học xong hoặc chuẩn bị đi ngủ. Cuối tuần nhiều khi tôi vẫn ôm việc. Tôi còn nhớ có lần con gái diễn văn nghệ ở trường. Tôi đã hứa sẽ đến xem, nhưng đúng hôm đó cơ quan có cuộc họp đột xuất. Đến giờ tôi vẫn nhớ ánh mắt hụt hẫng của con hôm ấy.
>> 15 năm nghỉ hưu giúp tôi nhận ra tuổi già đáng giá nhường nào
Ngày đó tôi cứ nghĩ chỉ cần kiếm tiền, lo đầy đủ vật chất là đã làm tròn trách nhiệm của một người cha. Nhưng càng lớn tuổi tôi càng hiểu, điều con cái cần nhiều khi chỉ là vài bữa cơm đủ mặt, một buổi đưa đón hay cảm giác có cha mẹ bên cạnh. Bây giờ các con đều trưởng thành, có cuộc sống riêng. Chúng vẫn thương và quan tâm tôi, nhưng cảm giác tiếc nuối vì đã bỏ lỡ quá nhiều năm tháng của con thì không thể biến mất.
Tôi biết rất nhiều người ở tuổi trung niên giống mình. Chúng ta lớn lên trong suy nghĩ phải hy sinh hết cho gia đình, phải làm đến khi không còn sức mới dám nghỉ. Nhiều người xem việc lao lực là trách nhiệm, thậm chí là niềm tự hào. Nhưng đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhận ra tiền có thể kiếm thêm, công việc có thể thay thế, còn sức khỏe thì mất rất khó lấy lại.
Nếu được quay lại, tôi vẫn sẽ chăm chỉ làm việc, nhưng tôi sẽ không sống như trước nữa. Tôi sẽ dành thời gian cho bản thân nhiều hơn, ngủ sớm hơn, đi khám sức khỏe định kỳ và bớt ôm hết mọi thứ vào người. Quan trọng nhất là tôi sẽ dành nhiều thời gian hơn cho gia đình khi còn có thể.
Năm 2017, vợ chồng tôi cưới nhau rồi mua căn chung cư đầu tiên ở Hà Nội với giá gần 900 triệu đồng. Khi đó, tài sản của hai đứa chỉ có đúng 50 triệu đồng tiền tiết kiệm, cộng thêm sự hỗ trợ của hai bên gia đình khoảng 200 triệu. Phần còn lại, chúng tôi phải vay ngân hàng gần 650 triệu đồng.
Thời điểm ấy, tổng thu nhập của hai vợ chồng tôi chỉ khoảng 16 triệu đồng mỗi tháng, lại vừa sinh con đầu lòng. Nhiều người biết chuyện đều bảo chúng tôi quá liều lĩnh, thiếu tính toán. Thú thật, lúc ký hợp đồng vay mua nhà, chính tôi cũng rất lo. Nhưng tôi tự nhủ "nếu cứ chờ thì chẳng biết đến bao giờ mới mua được nhà và ổn định cuộc sống".
Những năm đầu sau ngày cưới là chuỗi ngày cả gia đình tôi phải sống rất dè sẻn. Vợ chồng trẻ lương không cao, lại nuôi thêm con nhỏ, nên tháng nào chúng tôi cũng phải tính toán chi li từng khoản nhỏ để không bị thiếu trước hụt sau. Nhưng may mắn là cả hai chúng tôi luôn có cùng một suy nghĩ rằng khoản nợ mua nhà vẫn trong khả năng chi trả nên không phải điều quá đáng sợ. Có áp lực, chúng tôi càng động viên nhau cố gắng làm việc, vun vén cho gia đình.
Năm 2021, chúng tôi bán căn chung cư đó với giá gần như bằng lúc mua, rồi chuyển nơi ở mới. Sau đó, hai vợ chồng quyết định vay thêm tiền để mua một mảnh đất ở ngoại thành Đà Nẵng, giá 1,65 tỷ, trong đó tôi vay khoảng 850 triệu (50% giá trị mảnh đất).
>> 40 tuổi vẫn ở thuê vì tiếc 1,2 tỷ mua nhà Sài Gòn
Thời điểm đó, thị trường bất động sản bắt đầu có dấu hiệu chững lại, nhiều người nói chúng tôi "đu đỉnh". Nhưng thật lòng, cả hai chúng tôi chưa bao giờ quá bận tâm chuyện giá đất hôm nay tăng hay mai giảm. Chúng tôi nghĩ đơn giản rằng mua đất là để tích lũy tài sản lâu dài, còn điều quan trọng nhất vẫn là khả năng trả nợ của mình.
Có lẽ vì không đặt nặng chuyện lời lãi nên suốt những năm sau đó, hai vợ chồng tôi chỉ tập trung làm việc và trả nợ. Sau bốn năm, khoản vay mua đất cũng được thanh toán xong. Thu nhập của chúng tôi dần tốt hơn, gia đình cũng có thêm con thứ hai. Đến hiện tại, giá mảnh đất ấy đã tăng khoảng gấp đôi, nhưng tôi chưa có ý định bán.
Điều khiến tôi hài lòng nhất không phải chuyện đất của mình tăng giá, mà là cảm giác ổn định sau bốn năm chuyển nhà trong gần 5 năm sống trong nhà đi thuê. Có lần, chúng tôi đang ở yên ổn thì chủ nhà bất ngờ lấy lại nhà để bán, cả gia đình lại cuống cuồng tìm chỗ ở mới.
Chính trải nghiệm đó khiến vợ chồng tôi quyết định xây một căn nhà nhỏ để ổn định cuộc sống. Ngôi nhà không quá lớn nhưng đầy đủ tiện nghi và là nơi khiến chúng tôi có cảm giác thực sự thuộc về. Dĩ nhiên, để xây được nhà, chúng tôi tiếp tục vay nợ. Hiện tại, khoản nợ vẫn còn 700 triệu đồng nhưng cả hai vẫn thoải mái trả dần vì tất cả đã nằm trong tính toán.
Nghĩ lại gần 10 năm hôn nhân, vợ chồng tôi chưa khi nào hoàn toàn hết nợ. Nhưng chưa bao giờ chúng tôi coi đó là bi kịch. Với tôi, nợ trong khả năng kiểm soát đôi khi lại là động lực để cả hai cùng cố gắng, cùng nhìn về một hướng và có trách nhiệm hơn với tương lai gia đình. Tất nhiên, hành trình đó không chỉ có riêng nỗ lực của hai vợ chồng. Chúng tôi cũng may mắn vì luôn có sự đồng hành, hỗ trợ của bố mẹ hai bên, từ lúc mua căn nhà đầu tiên cho tới những giai đoạn khó khăn nhất.
Bây giờ, tôi thấy nhiều bạn trẻ chọn sống cho bản thân, tận hưởng hiện tại nhiều hơn, thay vì nghĩ cho tương lai. Tôi không phản đối quan điểm đó, vì mỗi người, mỗi thời lại có một cách sống riêng. Nhưng tôi tin rằng ai cũng nên biết tính toán cho tương lai, lo xa một chút. Bởi đến một độ tuổi nào đó, chúng ta sẽ nhận ra bản thân không chỉ sống cho riêng mình.
Tôi và bạn còn phải sống để bố mẹ yên tâm, để con cái nhìn vào và tin rằng chúng luôn có chỗ dựa, để người bạn đời có thể cùng mình cố gắng đi tiếp qua những năm tháng khó khăn nhất.