Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an) cho biết thời gian tạm dừng khai thác từ 17h ngày hôm trước đến 5h sáng ngày hôm sau và bắt đầu triển khai từ ngày 17/5.
Phạm vi tạm cấm được xác định trên tuyến cao tốc Cam Lộ – La Sơn từ Km0 đến Km102+200 và các nút giao trên tuyến.
Theo đánh giá thực tế của Cục CSGT, việc vừa khai thác giao thông vừa thi công trong điều kiện ban đêm tiềm ẩn nguy cơ cao xảy ra tai nạn giao thông do tầm nhìn hạn chế, mặt đường thu hẹp. Việc thay đổi hướng lưu thông và nhiều phương tiện, máy móc thi công hoạt động trên tuyến dẫn tới xử lý tình huống bất ngờ ở tốc độ cao.
“Việc tạm dừng khai thác ban đêm là giải pháp cần thiết nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người và phương tiện trong thời gian tổ chức thi công mở rộng tuyến cao tốc”, thông báo của Cục CSGT nêu.
Trong thời gian tạm cấm, Cục CSGT khuyến cáo người dân và các đơn vị vận tải chủ động lựa chọn lộ trình phù hợp, theo dõi thông tin phân luồng giao thông, đồng thời chấp hành hướng dẫn của lực lượng chức năng và hệ thống báo hiệu trên tuyến.
Tuyến cao tốc Cam Lộ – La Sơn thuộc hệ thống đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông, dài 98,3 km, chạy qua Quảng Trị (36,3 km) và Thừa Thiên Huế (62 km). Tuyến đang thi công mở rộng toàn tuyến từ 2 làn xe lên 4 làn xe hoàn chỉnh.
Tin Gốc: Vnexpress

Chúng tôi tìm về xã Phúc Trạch (Hà Tĩnh) giữa cái nắng ràn rạt của vùng đất được mệnh danh là "chảo lửa". Trong căn nhà khá khang trang, ông Nguyễn Huy Thông (69 tuổi, phu trầm lừng lẫy một thời) nhấp ngụm nước trà xanh, ngồi trầm ngâm. Ánh mắt ông nhìn xa xăm về phía dãy Trường Sơn - nơi đã lấy đi tuổi trẻ và suýt nữa là cả mạng sống của ông.
Ông Thông kể những năm đầu thập niên 1980, người dân Phúc Trạch sống giữa rừng dó bầu nhưng chẳng biết trầm là gì. Họ chỉ biết cây dó có tinh dầu, dùng làm nhang cho thơm. Mọi chuyện thay đổi vào năm 1984, khi những toán người từ Huế đổ về lùng sục khắp các cánh rừng trong xã. "Lúc đó, thấy họ xoi, tỉa tìm thứ gì đó, nghe nói đắt hơn vàng, nên dân làng mới lân la học lỏm. Tôi xin đi theo nhóm người Huế vào rừng, vừa dẫn đường vừa học cách nhận biết cây có trầm", ông Thông nhớ lại.
Khi cơn sốt "lộc trời" bắt đầu âm ỉ, cuối năm 1984, chàng trai Thông khi ấy 27 tuổi cùng 2 em trai và nhóm thanh niên trong làng quyết định thực hiện "chuyến đi đầu đời" vào những cánh rừng già giáp biên giới Lào. Mỗi người phải cõng trên lưng chiếc ba lô nặng trung bình 35 kg, bên trong là gạo, muối, thuốc chống vắt và bộ đồ nghề sắc lẹm. Họ gọi mỗi chuyến đi là "đi mây", bởi nơi họ đến là những đỉnh núi cao mây phủ, nơi bước chân người và ranh giới sinh tử chỉ cách nhau một gang tay.
Mỗi chuyến đi rừng thường kéo dài từ nửa tháng đến cả tháng trời. Ông Thông bảo người ta nói "ngậm ngải tìm trầm" chẳng sai chút nào, bởi có khi đi ròng rã cả tháng, chân rộp máu, cơm vắt nuốt chẳng trôi mà vẫn phải lủi thủi về tay trắng.
Trong những lần trò chuyện cùng nhóm thợ Huế, ông Thông dần hiểu ra giá trị của trầm hương. Cực phẩm của rừng xanh chính là kỳ nam, loại gỗ chứa lượng tinh dầu khổng lồ, thơm ngào ngạt. Thế nhưng, kỳ nam như một huyền thoại, trăm năm khó gặp. Thứ mà những phu trầm như ông Thông săn tìm chủ yếu là "trầm nhất lầu".
"Chúng tôi nghe người Huế bật mí sau kỳ nam thì nhất lầu là loại giá trị nhất. Loại này rất thơm, chứa nhiều tinh dầu đến mức gỗ nặng trĩu, thả vào nước là chìm lỉm ngay lập tức dù đã phơi khô cả tháng trời", ông Thông kể.
Khi được hỏi vì sao những mẩu gỗ mục nát ấy lại có giá trị kinh khủng đến thế, ông Thông cười - cái cười của một người đã thấu hiểu căn nguyên mùi hương. Theo ông, giá trị của trầm hương không chỉ nằm ở sự quý hiếm mà còn ở công dụng kỳ diệu.
Trầm hương không đơn thuần là gỗ mà là phần gỗ chứa nhựa thơm hình thành từ "vết thương" trên cây dó bầu qua hàng chục năm chống chọi với thiên nhiên. Đây là nguyên liệu quý giá nhất trong y học cổ truyền để làm dược liệu quý, hỗ trợ tim mạch, thần kinh. Đặc biệt, trong ngành công nghiệp xa xỉ, trầm hương là "linh hồn" để sản xuất các loại nước hoa đắt đỏ nhất thế giới nhờ khả năng giữ mùi bền bỉ và hương thơm không thể sao chép bằng hóa học.
"Đắt bởi nó là tinh túy của đất trời, là sự kết tinh từ nỗi đau của cây dó và mồ hôi của phu trầm", ông Thông chiêm nghiệm.
Giữa đại ngàn mênh mông, không phải cây dó bầu nào cũng mang trong mình "vàng mười". Với ông Thông và những phu trầm Phúc Trạch, việc tìm thấy trầm là sự tổng hòa của may mắn, đôi mắt "phù thủy" và những kinh nghiệm phải trả giá bằng xương máu.
Một cây dó bầu cao lớn, xanh tốt chưa chắc đã có giá trị. Phu trầm chỉ để mắt đến những cây già nua, dáng vẻ khắc khổ, bị sâu đục khoét, kiến làm tổ hoặc bị sét đánh gãy cành. "Trầm không tự nhiên mà có. Khi cây bị thương, nhựa tiết ra để bao phủ và chữa lành, rồi qua hàng chục năm dưới tác động của nấm và thời tiết khắc nghiệt, khối nhựa ấy kết tinh thành trầm", ông Thông lý giải.
Để kiểm chứng nghi ngờ, phu trầm sẽ dùng rựa vạt một miếng gỗ nhỏ rồi châm lửa đốt. Nếu làn khói tỏa ra có màu xanh đặc trưng, bay thẳng đứng lên trời cùng mùi hương thanh khiết, ngọt lịm thì đó chính là tín hiệu của "lộc trời".
Công đoạn thu hoạch trầm cũng là một thử thách về sự kiên nhẫn và khéo léo. Giữa rừng sâu thiếu thốn, thợ trầm dùng đục bóc tách từng lớp gỗ một cách tỉ mỉ như một nghệ nhân chạm khắc. "Giây phút hồi hộp nhất là khi lớp gỗ bên trong dần lộ ra. Nếu thấy một lớp gỗ đen bóng, cầm nặng trịch và thả vào nước chìm ngay lập tức, cả cánh rừng sẽ rung chuyển bởi tiếng reo hò của anh em. Lúc đó, mọi mệt mỏi như tan biến hết", ông Thông nhớ lại.
Thế nhưng, cũng không ít lần sau bao ngày đục đẽo, thứ lộ ra chỉ là lớp gỗ trắng vô giá trị. Những lúc ấy, cánh phu trầm lại lẳng lặng khép túi đồ nghề, nuốt nỗi thất vọng vào trong để tiếp tục bước đi.
Ông Thông bảo trong thời khó khăn, một mẩu trầm nhỏ bằng ngón tay đã có giá tiền triệu. Một khối kỳ nam hiếm hoi có thể biến một gia đình từ bần hàn trở thành triệu phú, thay đổi hoàn toàn số phận của cả dòng họ. Chính giấc mơ triệu phú ấy, cộng hưởng với mùi hương mê hoặc của rừng già, đã khiến những người đàn ông Phúc Trạch sẵn sàng đặt cược cả mạng sống để đổi lấy một lần chạm tay vào "kho báu" của đại ngàn.
Khi những cánh rừng gần nhà đã cạn kiệt, nhóm ông Thông và toán thợ người Huế liều lĩnh đi xa hơn vào rừng sâu, có khi đi tận sang đất Lào mà không hay biết, đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ hoặc lạc lối. Trong ký ức của ông Thông, kẻ thù đáng sợ nhất chốn rừng thiêng không phải là hổ báo hay rắn rết, mà là "con ma" sốt rét rừng.
"Tôi từng suýt chết vì sốt rét ác tính. Năm 1987, giữa rừng sâu, tôi lên cơn sốt, người run bần bật. Lúc đó chỉ biết phó mặc cho số phận. Cũng may được anh em đi cùng kịp thời đưa ra khỏi rừng để đến bệnh viện chữa trị. Sau 10 ngày hôn mê bất tỉnh, tôi may mắn dần phục hồi, như từ cõi chết trở về", ông Thông rùng mình.
Rừng xanh bao dung ban tặng "lộc trời", nhưng cũng sẵn sàng nuốt chửng những kẻ thiếu may mắn bằng những cái bẫy không báo trước. Với ông Thông, nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất là lần chứng kiến người em trai ruột bước một chân vào cửa tử. Trong chuyến "đi mây" năm ấy, giữa lúc cả nhóm đang mải miết phát bụi rậm tìm dấu dó bầu, em trai ông Thông sơ sẩy giẫm phải tổ ong dần đóng lùm dưới đất. Chỉ trong tích tắc, hàng ngàn "sát thủ" túa ra, bủa vây thân hình người phu trẻ.
"Năm đó, em trai tôi không may giẫm phải tổ ong dần. Nó bị đốt chi chít, chất độc ngấm sâu đến mức rơi vào hôn mê ngay giữa rừng sâu. Cả nhóm phải thay nhau cõng, cắt rừng tìm đường ra trong sự tuyệt vọng. Ai cũng bảo nó phúc lớn mạng lớn, chứ người khác là bỏ xác rồi. Giờ sức khỏe nó yếu đi nhiều, cứ trái gió trở trời là những vết sẹo ấy lại đau nhức", ông Thông nhớ lại.
"Tìm trầm tự nhiên thực sự là một canh bạc nghiệt ngã. Nhóm của tôi thi thoảng mới kiếm được ít trầm loại hai, đem về bán cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống được một thời gian ngắn rồi đâu lại vào đấy. Đổi lại là sự nơm nớp lo sợ cho mạng sống mỗi khi bước chân vào rừng", ông bộc bạch.
Sau những lần "thập tử nhất sinh", người dân Phúc Trạch bắt đầu tìm cách khác để khai thác trầm, không còn chờ đợi sự ban phát ngẫu nhiên từ thiên nhiên. Thay vì lặn lội hàng tháng trời nơi biên giới Việt - Lào, họ mang cây dó bầu về trồng ngay tại vườn nhà, chủ động học kỹ thuật kích thích, xăm tạo trầm trên thân cây. (còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 11.5, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Quảng Trị cho biết đơn vị vừa đấu tranh thành công chuyên án về hành vi sản xuất, buôn bán cà phê giả với quy mô lớn.
Theo cơ quan công an, sau quá trình thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, các tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Quảng Trị đã đồng loạt thi hành lệnh khám xét khẩn cấp tại 3 điểm sản xuất, buôn bán cà phê giả trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và TP.HCM; đồng thời truy xét thêm hàng chục điểm tiêu thụ cà phê trên địa bàn.
Lực lượng công an thu giữ gần 6 tạ bột màu nâu nghi là cà phê giả, cùng hàng ngàn bao bì mang nhiều nhãn hiệu cà phê khác nhau
ẢNH: THANH LỘC
Bước đầu, lực lượng chức năng xác định nghi phạm cầm đầu là Nguyễn Xuân Thành (44 tuổi, ở TP.HCM; quê Quảng Trị). Các nghi phạm liên quan gồm Nguyễn Thị Thanh Thủy (38 tuổi, em gái của Thành) và bà Lê Thị Định (64 tuổi, mẹ của Thành, cùng ở phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị).
Tiến hành khám xét tại nhà các nghi phạm và truy xét tại các điểm tiêu thụ cà phê, lực lượng công an thu giữ gần 6 tạ bột màu nâu nghi là cà phê giả, cùng hàng ngàn bao bì mang nhiều nhãn hiệu cà phê khác nhau và nhiều dụng cụ, máy móc phục vụ hoạt động sản xuất hàng giả.
Hiện vụ việc được Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Quảng Trị tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Những năm đầu thế kỷ XX, bờ sông Hồng nằm sát với đường Trần Nhật Duật ngày nay, có nhiều bến đỗ cho tàu thuyền.
Những năm đầu thế kỷ XX, bờ sông Hồng nằm sát với đường Trần Nhật Duật ngày nay, có nhiều bến đỗ cho tàu thuyền.
Bờ sông Hồng năm 1902, nay là phường Hồng Hà. 1902 cũng là năm khánh thành cầu Long Biên - cầu thép đầu tiên và dài nhất Đông Dương thời điểm đó, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Hải Phòng, thay đổi hoàn toàn bộ mặt giao thông.
Bờ sông Hồng năm 1902, nay là phường Hồng Hà. 1902 cũng là năm khánh thành cầu Long Biên - cầu thép đầu tiên và dài nhất Đông Dương thời điểm đó, kết nối Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Hải Phòng, thay đổi hoàn toàn bộ mặt giao thông.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Làng Cơ Xá khoảng những năm 1903. Đây là khu dân cư ít ỏi nằm sát mép nước sông Hồng. Trước kia, địa phận trên được gọi là An Xá, năm 1132 dưới thời Lý Thần Tông, làng được đổi tên thành Cơ Xá, gắn với bãi Cơ Xá - dải đất ven sông Hồng.
Về sau, do dòng chảy sông Hồng thay đổi, làng Cơ Xá tách thành nhiều khu dân cư. Cơ Xá Bắc Biên nay thuộc Ngọc Thụy (Long Biên). Cơ Xá Nam Xá thuộc khu vực Bạch Đằng (Hai Bà Trưng). Còn Cơ Xá Trung Châu nằm ở giữa sông Hồng.
Bến tàu thủy trên sông Hồng khoảng năm 1904, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bến tàu thủy trên sông Hồng khoảng năm 1904, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bên bờ sông Hồng năm 1906, giờ là phường Hồng Hà. Hình ảnh cho thấy thời đó trừ làng Cơ Xá, bờ sông là dải đất thoai thoải gần như không có nhà cửa.
Bên bờ sông Hồng năm 1906, giờ là phường Hồng Hà. Hình ảnh cho thấy thời đó trừ làng Cơ Xá, bờ sông là dải đất thoai thoải gần như không có nhà cửa.
Người dân lao động bên bờ sông, phía sau là cầu Doumer (Long Biên) năm 1911.
Người dân lao động bên bờ sông, phía sau là cầu Doumer (Long Biên) năm 1911.
Bến thuyền và nhà dân hướng ra sông Hồng năm 1926, nay là phố Trần Nhật Duật.
Bến thuyền và nhà dân hướng ra sông Hồng năm 1926, nay là phố Trần Nhật Duật.
Năm 1926, đê sông Hồng đoạn đối diện Bảo tàng Lịch sử chưa có đường và nhà ven sông.
Năm 1926, đê sông Hồng đoạn đối diện Bảo tàng Lịch sử chưa có đường và nhà ven sông.
Hồ Hoàn Kiếm và Nhà thờ Lớn năm 1929. Ảnh: Belle Indochine
Hồ Hoàn Kiếm và Nhà thờ Lớn năm 1929. Ảnh: Belle Indochine
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Khu vực ven sông Hồng khoảng năm 1930.
Bãi ven sông những năm 1940. Ảnh: Harrison Forman
Bãi ven sông những năm 1940. Ảnh: Harrison Forman
Sông Hồng và các bãi bồi, bãi giữa dưới chân cầu Long Biên nhìn thấy rõ trong bức ảnh chụp năm 1951.
Sông Hồng và các bãi bồi, bãi giữa dưới chân cầu Long Biên nhìn thấy rõ trong bức ảnh chụp năm 1951.
Tin Gốc: Vnexpress

