Cách đây không lâu, Khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Thái Châu (Chiết Giang, Trung Quốc) đã tiếp nhận một bệnh nhân nam 70 tuổi bị viêm phổi nặng do nhiễm vi khuẩn Legionella.
Bệnh nhân có tiền sử cao huyết áp và tiểu đường nhiều năm. Đầu năm, ông được chuyển khẩn cấp đến Khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Thái Châu với triệu chứng sốt cao kèm tức ngực kéo dài một tuần, trở nặng trong 1 ngày.
Theo người nhà, khi mới phát bệnh, ông sốt cao tới 40,5 độ C , kèm theo rét run, ho có đờm, thậm chí đờm lẫn máu, cùng với tiêu chảy dạng nước. Các triệu chứng ban đầu khá giống một đợt cảm cúm nặng. Sau khi tự uống thuốc hạ sốt, tình trạng có giảm tạm thời nhưng nhanh chóng tái phát.
Sau khoảng 1 tuần điều trị tại bệnh viện địa phương, tình trạng sức khoẻ của ông đột ngột xấu đi. Bệnh nhân bắt đầu khó thở, rối loạn ý thức.
Kết quả chụp CT cho thấy 2 phổi bị nhiễm trùng nặng, gần như “trắng xóa” . Dù đã được hỗ trợ thở máy nhưng tình trạng oxy máu vẫn không cải thiện. Nhờ can thiệp bằng ECMO, các bác sĩ mới tạm thời ổn định được dấu hiệu sinh tồn cho bệnh nhân.
Bác sĩ Thôi Khả, Trưởng khoa Hồi sức tích cực của bệnh viện, cho biết quá trình diễn tiến bệnh ở bệnh nhân rất nhanh. Chỉ trong khoảng 3- 4 ngày từ khi khởi phát, bệnh nhân đã tiến triển đến suy đa cơ quan. Các loại kháng sinh thông thường gần như không có tác dụng.
Sau khi tiến hành giải trình tự gen metagenome từ dịch rửa phế nang, các bác sĩ xác định bệnh nhân mắc viêm phổi do vi khuẩn Legionella pneumophila.
Do nam bệnh nhân có nhiều bệnh nền và hệ miễn dịch suy yếu nên tình trạng đặc biệt nghiêm trọng. Sau hơn 20 ngày điều trị tích cực, kết hợp ECMO và kháng sinh đặc hiệu, bệnh nhân mới có thể cai máy thở và dần hồi phục.
Khi khai thác thêm thông tin, gia đình cho biết điều hòa trong nhà bệnh nhân lâu ngày không được vệ sinh, đồng thời ông có thói quen đóng kín cửa bật điều hòa trong thời gian dài. Theo bác sĩ, đây có thể chính là nguồn lây nhiễm.
Theo tìm hiểu, bệnh viêm phổi do bị nhiễm loại vi khuẩn Legionella thể nặng được gọi là bệnh legionnaires. Bệnh xảy ra khi hít phải mầm bệnh vi khuẩn trong hơi nước và bụi trong môi trường bị ô nhiễm.
Khi bị mắc bệnh, người bệnh thường có các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, ho và thở hụt hơi hay khó thở. Một số trường hợp có thể bị đau nhức bắp thịt, nhức đầu, mệt mỏi, ăn không ngon và đi tiêu chảy. Tuy vậy bệnh có thể diễn biến nặng do viêm phổi, phần lớn được hồi phục sau điều trị, nhưng có khi dẫn đến tử vong.
Trên thực tế mặc dù có nhiều loại vi khuẩn legionelle khác nhau, nhưng 2 loại thường hay gây bệnh được ghi nhận ở tiểu bang New South Wales tại Úc là legionella pneumophila và legionella longbeachae.
Vi khuẩn legionella pneumophila xâm nhập vào tháp làm lạnh của hệ thống điều hòa không khí, hồ nước hay bồn nước phun sục luồng nước, vòi tắm hoa sen và những vùng ao hồ, sông suối khác. Vi khuẩn Legionella longbeachae xâm nhập vào đất hoặc đất trộn với phân bón để trồng cây trong chậu.
Con người thường có thể tiếp xúc với khi khuẩn này ở nhà, tại nơi làm việc hoặc ngay cả ở chỗ công cộng; chúng có thể xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh. Đặc điểm của bệnh legionnaires là không có khả năng lây lan từ người này sang người khác. Thời gian từ lúc tiếp xúc với mầm bệnh vi khuẩn cho đến lúc khởi phát bệnh với các triệu chứng lâm sàng đã nêu ở trên trong khoảng từ 2 đến 10 ngày.
Triệu chứng lâm sàng do nhiễm vi khuẩn legionella thay đổi tùy thuộc vào từng thể bệnh.
Sốt pontiac là thể nhẹ của bệnh không kèm theo viêm phổi. Biểu hiện lâm sàng dễ nhầm lẫn cảm cúm cấp tính với sốt cao, ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ toàn thân, nhức đầu… Bệnh thường tự giới hạn và khỏi trong khoảng vài ngày và không ghi nhận được trường hợp nào bị tử vong nào khi mắc phải sốt pontiac.
Trái lại, bệnh legionnaires là một thể bệnh nặng với biểu hiện viêm phổi khá phổ biến. Thời gian ủ bệnh thay đổi, có những trường hợp kéo dài trên 10 ngày. Các triệu chứng trong giai đoạn sớm thường bao gồm sốt, mệt mỏi, nhức đầu, chán ăn, rối loạn tiêu hóa… Ở giai đoạn sau, bệnh nhân thường ho, hơn 50% trường hợp ho có đờm, có khi ho ra máu, kèm theo đau ngực, hụt hơi, thậm chí ghi nhận cả các thay đổi về tâm thần.
Khi bị bệnh legionnaires cần nhanh chóng nhập viện để điều trị, nếu không, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm cả di chứng về não. Bệnh diễn biến rất nhanh, người bệnh thường tử vong trong tình trạng suy hô hấp cấp tính do viêm phổi tiến triển, có thể kèm theo sốc và suy đa cơ quan.
Vì vậy, khi có các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được chẩn đoán kịp thời và chính xác.
Năm 2024, Sarah Dallas tốt nghiệp tiến sĩ ngành Kỹ thuật sinh học tại Đại học Edinburgh, Scotland. Thời điểm đó, khoản nợ sinh viên của cô lên tới 76.000 bảng, bao gồm khoản vay ban đầu và lãi.
Sarah nộp hơn 200 đơn ứng tuyển cho nhiều vị trí trong suốt 16 tháng, từ nhân viên mới đến chuyên gia cao cấp, thậm chí cả thực tập không lương. Khoảng 90% nhà tuyển dụng không phản hồi. Với 10% còn lại, cô được phỏng vấn ba lần và đều bị từ chối do "quá đủ tiêu chuẩn" cho vị trí thấp, nhưng "thiếu kinh nghiệm" cho vai trò cao hơn. "Việc bị từ chối liên tục khiến tôi có cảm giác như mắc kẹt trong một hố đen", Sarah Dallas nói.
Để duy trì cuộc sống, cô làm biên tập viên tự do cho một tạp chí khoa học với thu nhập 600 bảng mỗi tháng, đồng thời vay thấu chi 8.000 bảng. Đến cuối năm 2025, cô mới nhận công việc đầu tiên là kỹ thuật viên phòng thí nghiệm với mức lương 28.500 bảng mỗi năm.
Hiện tại, thu nhập chính của cô khoảng 1.800 bảng mỗi tháng. Tuy nhiên, chỉ riêng tiền thuê nhà (1.025 bảng), hóa đơn (500 bảng) và trả nợ thấu chi (300 bảng) đã lên tới 1.825 bảng.
Sarah phải tiếp tục làm thêm tự do khoảng 40 giờ mỗi tháng. Khoản thu nhập phụ 600 bảng giúp cô chi trả tiền ăn uống, đi lại và tiết kiệm được 50 bảng. Cô cho biết mỗi tháng đóng 37 bảng cho khoản nợ học phí và đến nay mới trả được 95 bảng.
"Tôi không nghĩ cuộc sống ở tuổi 32 lại như vậy. Thu nhập chính dành hết cho các hóa đơn, còn công việc làm thêm mới giúp tôi tồn tại", cô cho biết.
Tình trạng "thừa tiêu chuẩn nhưng thiếu kinh nghiệm" đang là nghịch lý với nhiều người có bằng tiến sĩ tại Anh. Theo khảo sát do Times Higher Education trích dẫn, 42% tiến sĩ tại nước này tiếp tục làm việc trong môi trường học thuật sau một năm tốt nghiệp. Số còn lại chuyển sang khối doanh nghiệp nhưng gặp rào cản vì chưa từng đi làm.
Báo cáo "Kỹ năng người trưởng thành" của OECD năm 2025 cũng chỉ ra Anh nằm trong nhóm có tỷ lệ lao động làm việc không phù hợp trình độ cao nhất khối, khoảng 37%. Điều này khiến thu nhập trung bình của họ giảm 18% so với người làm đúng chuyên môn.
Tiến sĩ Isaiah Hankel, chuyên gia tư vấn nghề nghiệp, tác giả cuốn The Power of a PhD, nhận định rào cản không nằm ở tấm bằng, mà ở cách ứng viên định vị bản thân. Ông cho biết nhiều tiến sĩ viết hồ sơ theo hướng nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp cần bản tóm tắt ngắn gọn, tập trung vào kỹ năng làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, phân tích dữ liệu và quản lý dự án.
Ông khuyên người tìm việc cần nhanh chóng bù đắp kinh nghiệm thực tế qua các dự án ngắn hạn, thực tập, công việc tự do hoặc hoạt động tình nguyện. Việc có thêm trải nghiệm thực tế trong vài tháng sẽ giúp lấp đầy khoảng trống kinh nghiệm mà các nhà tuyển dụng lo ngại.
Tần Thủy Hoàng sinh năm 259 TCN, tên thật là Doanh Chính - vị vua thứ 36 của nước Tần. Theo "Sử ký" của Tư Mã Thiên ghi lại, Tần Thủy Hoàng lên ngôi Tần vương năm 13 tuổi, do trọng phụ Lã Bất Vi nhiếp chính.
Khác với các vị đế vương khác của nhà Tần, sau khi trị vì đất nước, Tần Thủy Hoàng tham vọng thâu tóm 6 nước chư hầu, tự xưng là Hoàng đế. Năm 38 tuổi, Tần Thủy Hoàng thực sự làm được điều đó.
Sau khi thống nhất bờ cõi lập nên nước Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của lịch sử.
Theo sử sách ghi lại, từ khi sinh ra, Tần Thủy Hoàng đã có số phận đầy sóng gió khi mẹ là Triệu Cơ, một tiểu thiếp được Lã Bất Vi dâng cho 1 công tử Doanh Dị Nhân nhà Tần. Không lâu sau, Triệu Cơ mang thai và sinh ra Doanh Chính.
Thuở nhỏ, Doanh Chính cùng mẹ phải lưu lạc ở nước Triệu, chịu mọi cay đắng tủi nhục. Sau này khi trở về nước Tần, nhận Dị Nhân làm cha - lúc này đã là Tần Trang Tương Vương, Doanh Chính trở về báo thù hết những kẻ đã bắt nạt mình.
3 năm sau khi đăng cơ, Tần Trang Tương Vương qua đời, truyền lại ngôi cho Thế tử Doanh Chính. Bất chấp những lời bàn tán về nguồn gốc xuất thân, ông đã chứng minh bản thân là một vị vương giả vĩ đại bằng chính thực lực của mình.
Câu chuyện thuở nhỏ và hành trình chinh phạt 6 nước chư hầu của Tần Thủy Hoàng nhanh chóng trở thành truyền kỳ trong lịch sử. Từ đó, dân chúng cũng thêu dệt thêm nhiều đồn đoán, truyền thuyết dân gian xoay quanh cuộc đời Tần Thủy Hoàng, lưu truyền đến tận sau này.
Theo sử sách ghi chép và người đời kể lại, Tần Thủy Hoàng bị ám ảnh bởi cái chết và luôn khao khát có phương thuốc trường sinh bất tử.
Nhiều câu chuyện về việc tìm thuốc trường sinh của Tần Thủy Hoàng được sử sách ghi chép lại. Công cuộc này kéo dài 10 năm. Vua Tần yêu cầu tất cả ngự y, pháp sư và hiền tài trong nước ra sức tìm kiếm phương thuốc giúp phá vỡ quy luật tự nhiên sinh - lão - bệnh - tử để được trường tồn cùng với trời đất.
Tần Thủy Hoàng từng tìm đến hàng trăm phương sĩ (pháp sư) từ các nước chư hầu cũ, trong đó có pháp sư tên Từ Phúc của nước Tề, để lập một nhóm phụ trách việc tìm kiếm thuốc trường sinh.
Sau chuyến vượt biển tìm thuốc trường sinh đầu tiên không có kết quả, Từ Phúc trở về và tâu rằng đã tìm thấy đảo Bồng Lai, nơi đây có thần tiên nắm giữ thuốc trường sinh, nhưng muốn lấy được thần dược phải có lễ vật gồm 3.000 đồng nam, đồng nữ.
Ở lần tiếp theo, Từ Phúc yêu cầu phải có cung lớn và vũ khí để đuổi cá kình cản đường trên biển. Tần đế nhanh chóng đáp ứng những yêu cầu này mà không mảy may nghi ngờ. Tuy nhiên, ở chuyến đi cuối cùng, do không tìm thấy thuốc trường sinh, Từ Phúc và đoàn tùy tùng không quay trở lại và họ lưu lạc đến Nhật Bản.
Tần Thủy Hoàng vẫn chờ tin Từ Phúc trong vô vọng. Năm 211 TCN, khoảng 8 năm sau khi Từ Phúc "một đi không trở lại", một thiên thạch rơi xuống vị trí Đông Quận, nay thuộc thành phố Bộc Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc). Trên thiên thạch này có khắc 7 chữ, nói rằng hoàng đế sẽ chết và giang sơn sẽ phân chia lại. Điềm báo này khiến Tần đế tức giận và càng nôn nóng tìm kiếm thuốc trường sinh.
Tuy nhiên cuộc tìm kiếm phương thuốc bất tử của Tần Thủy Hoàng thất bại. Ông mất vào năm 210 TCN sau 11 năm trị vì.
Tôi hỏi con trai, sau này con muốn làm gì. Cậu con trai 8 tuổi, không cần nghĩ lâu, trả lời ngay: 'Con muốn làm chú bộ đội'.
Câu trả lời đến nhanh như một phản xạ, có lẽ bởi từ nhỏ, con đã nghe nội kể về những người lính - những con người đã đi qua chiến tranh bằng lòng yêu nước và sự hy sinh thầm lặng.
Tôi nhìn con, vừa thấy thương, vừa thấy trách nhiệm, bởi để nói với một đứa trẻ về chiến tranh và cả hòa bình không phải là chuyện dễ.
Tháng Tư, người lớn nhắc nhiều đến ngày đất nước thống nhất. Những câu chuyện lịch sử, những thước phim cũ, những ký ức được kể lại. Nhưng với một đứa trẻ 8 tuổi, "chiến tranh" là khái niệm rất xa. Con không biết thế nào là bom rơi, không hiểu cảm giác chia ly, càng không hình dung được cái giá của độc lập. Có lẽ, đó chính là điều may mắn nhất.
Tôi không muốn kể với con về chiến tranh bằng những hình ảnh đau thương mình gom nhặt suốt hơn 40 năm. Tôi chọn cách khác. Tôi nói với con rằng, ngày xưa, đất nước mình có lúc không được yên. Khi ấy, có những người đã phải rời gia đình, đi rất xa, để giữ cho đất nước này được bình yên như hôm nay. Họ không phải là những người thích đánh nhau, mà là những người muốn bảo vệ.
Nghe kể chuyện xưa, cậu con thường im lặng, chăm chú nghe, thi thoảng lại hỏi: "Vậy bây giờ mình còn phải đánh nhau không ba?". Tôi lắc đầu. "Không. Bây giờ là lúc mình giữ gìn hòa bình".
Con lại hỏi: "Giữ bằng cách nào?". Tôi chợt nhận ra, câu hỏi của con cũng chính là câu hỏi của người lớn, chỉ là chúng ta ít khi nói ra. Giữ hòa bình không chỉ là việc của những người lính. Giữ hòa bình còn là cách mỗi người sống với nhau mỗi ngày.
Tôi nói với con rằng nếu con muốn làm chú bộ đội thì trước hết con phải học cách không làm tổn thương người khác: không đánh bạn, không nói lời ác ý, không giành giật... Một người biết kiềm chế cơn giận của mình, biết nhường nhịn, biết lắng nghe - đó cũng là một người đang góp phần giữ hòa bình. Con có vẻ chưa hiểu hết, nhưng gật đầu.
Tôi kể thêm cho con nghe về ông cố. Rằng ngày xưa ông cũng từng là người lính. Ông không kể nhiều về những trận đánh, mà chỉ hay nhắc đến đồng đội, đến những ngày hành quân, đến cái đói, cái rét và cả niềm vui rất nhỏ khi được nhận một lá thư từ quê nhà. Ông cũng không nói nhiều về chiến thắng, mà nói nhiều về nỗi nhớ. Có lẽ, người đã đi qua chiến tranh thường không muốn kể lại sự khốc liệt. Họ chỉ mong những điều đó không lặp lại.
Thực ra, giáo dục lòng yêu nước cho con không phải là dạy con những điều lớn lao mà là dạy con sống tử tế, bởi tôi tin, mỗi người tử tế là một người biết tôn trọng người khác. Mỗi người tử tế là một người không gây tổn thương. Và khi đủ nhiều người tử tế, xã hội sẽ ít đi những xung đột, ít đi những mầm mống của bạo lực.
Yêu nước, ở một nghĩa rất bình dị là sống sao cho đất nước này trở nên tốt đẹp hơn, bắt đầu từ những điều rất nhỏ. Là không xả rác bừa bãi. Là biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Là không gian dối. Là biết giúp đỡ người khác khi có thể...
Tất cả những điều ấy nghe có vẻ không liên quan đến "hòa bình" nhưng thật ra đó chính là nền tảng của hòa bình.
Thật vậy, một xã hội đầy những người nóng giận, ích kỷ, thiếu trách nhiệm thì dù không có chiến tranh, cũng khó mà gọi là bình yên. Ngược lại, một xã hội nơi con người biết nghĩ cho nhau, biết dừng lại trước khi làm điều sai thì đó đã là một dạng hòa bình rất sâu chắc.
Buổi tối ít ỏi của chuyến về quê trước lễ, trước khi đi ngủ, con lại hỏi tôi: "Sau này con có được làm chú bộ đội không ba?". Tôi nói: "Được chứ. Nhưng dù con làm gì, con cũng có thể là người giữ hòa bình".
Con cười, có lẽ cậu chưa hiểu hết. Nhưng tôi tin, những điều này sẽ lớn dần trong con theo cách rất tự nhiên như tôi từng nghe ngoại kể chuyện hòa bình, thống nhất thuở ấu thơ.
Tháng Tư, với người lớn, là ký ức nhưng với con, tháng Tư nên là một lời nhắc nhở, rằng hòa bình không phải là điều sẵn có mãi mãi mà cần được giữ gìn, mỗi ngày, bằng cách chúng ta sống với nhau. Và nếu một ngày nào đó, con vẫn muốn trở thành một người lính, tôi sẽ nói thêm với con một điều là, người lính dũng cảm không chỉ là người biết cầm súng mà còn là người biết giữ cho lòng mình không có chiến tranh.