Theo đại diện Đội CSGT đường bộ số 4 (Phòng CSGT Hà Nội), sự việc xảy ra vào khoảng 6h45 cùng ngày tại khu vực cầu Vĩnh Tuy, thuộc địa phận phường Hồng Hà, Tp.Hà Nội.
Thông tin ban đầu cho biết, nam thanh niên dừng xe máy trên cầu rồi bất ngờ lao mình xuống sông Hồng, khiến những người đang lưu thông qua khu vực này bất ngờ và lo lắng.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Đội CSGT số 4 đã cử cán bộ tới hiện trường, phối hợp cùng Công an phường Hồng Hà tổ chức phân luồng giao thông, đảm bảo an ninh trật tự khu vực.
Hình ảnh được chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy, sau khi nhảy xuống sông, nam thanh niên đã được lực lượng chức năng cùng người dân hỗ trợ cứu vớt thành công và đưa lên bờ an toàn. Nạn nhân sau đó được bàn giao cho lực lượng y tế để kiểm tra sức khỏe.
Nguyên nhân vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục xác minh, làm rõ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

BTV Thúy Hoa sinh năm 1957 ở Hà Nội, sớm bén duyên với nghề phát thanh khi trở thành phát thanh viên của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Tuy nhiên, bước ngoặt lớn trong sự nghiệp khi bà quyết định vào Tp.HCM lập nghiệp – lựa chọn táo bạo vào thời điểm đó.
Gia nhập Đài Truyền hình Tp.HCM (HTV), NSƯT Thúy Hoa để lại ấn tượng cho nhiều thế hệ khán giả bởi giọng đọc truyền cảm, mang bản sắc riêng. Trong suốt hơn 26 năm gắn bó với nghề, NSƯT Thúy Hoa trở thành một trong số ít BTV giọng Bắc dẫn thời sự trên sóng HTV - điều không phổ biến ở thời điểm bấy giờ.
Chất giọng của bà không chỉ truyền tải thông tin mà còn mang lại cảm xúc, khiến khán giả nhớ đến như một "thương hiệu" riêng. Chính điều đó giúp bà được nhiều thế hệ người xem yêu mến và gọi bằng cái tên trìu mến: "Giọng đọc huyền thoại".
MC giọng Bắc không chỉ hiếm hoi dẫn Thời sự trên sóng Đài truyền hình Tp.HCM, tên tuổi của NSƯT Thúy Hoa còn gắn liền với việc bà thuyết minh cho loạt phim đình đám như: Bao Thanh Thiên, Thần điêu đại hiệp, Từ Hy Thái Hậu, Ước mơ vươn tới một ngôi sao... bên cạnh công việc là BTV.
Ngoài ra, bà còn dẫn nhiều chương trình khác nhau, tham gia lồng tiếng, biên kịch… Năm 1991, bà cũng là phát thanh viên đầu tiên của đài được dẫn chương trình Hoa hậu khỏe đẹp thời trang cùng với MC Thanh Bạch.
Đặc biệt, sắc vóc cuốn hút thời hoàng kim bên cạnh tài năng cũng giúp cho NSƯT Thúy Hoa được phong danh là "Hoa hậu HTV", BTV thời sự có giọng đọc huyền thoại…
Năm 2012, bà được phong tặng danh hiệu NSƯT. Tháng 10 cùng năm, bà nghỉ hưu sau hơn 26 năm làm việc tại HTV. Sau khi rời ánh đèn, bà chuyển hướng sang kinh doanh và tận hưởng cuộc sống chậm rãi hơn.
Không chỉ có sự nghiệp đáng ngưỡng mộ, chuyện tình của NSƯT Thúy Hoa cũng khiến nhiều người tò mò bởi những chi tiết thú vị.
Được biết, ông Nguyễn Trọng Trúc - Nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký liên đoàn bóng bàn Tp.HCM và là Huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng bàn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1992 chính là chồng của giọng đọc huyền thoại.
Để nói về mối duyên gặp gỡ ấy, thời điểm đưa vợ chồng bà đến với nhau vô cùng tình cờ. Vào đúng dịp mùng 8/3 năm 1978, NSƯT Thúy Hoa gặp gỡ người bạn đời nhờ sự giới thiệu của một người thân.
Nữ BTV nổi tiếng đã chào vị HLV bóng bàn là "chú" khi biết ông Trọng Trúc lớn hơn bà đến 14 tuổi ngay khi chạm mặt. Nhưng có thế nào thì ấn tượng về người con gái tên Hoa cũng in sâu vào tâm trí của vị HLV.
Từ cuộc gặp gỡ có phần gượng gạo, mối quan hệ dần được vun đắp qua những lần thăm hỏi, trò chuyện. Sự chân thành và kiên trì của ông Trọng Trúc khiến nữ BTV rung động.
Dù từng vấp phải sự phản đối từ xung quanh vì khoảng cách tuổi tác và sự khác biệt trong công việc, cả hai vẫn quyết định tiến tới hôn nhân vào năm 1979.
Những năm đầu sau khi kết hôn, cuộc sống của hai vợ chồng không hề dễ dàng. Áp lực kinh tế, công việc bận rộn khiến họ ít có thời gian dành cho nhau. Tuy nhiên, chính sự thấu hiểu và sẻ chia đã giúp họ vượt qua tất cả.
Gần 40 năm chung sống, họ xây dựng được một gia đình hạnh phúc với hai người con trưởng thành. Trong đó, con gái là Nguyệt Ánh nối nghiệp mẹ khi trở thành MC quen thuộc của HTV, tham gia nhiều chương trình như: Sức sống mới, Siêu mẫu Việt Nam, Nấu ăn cùng sao…
Năm 2016, ông Nguyễn Trọng Trúc được chẩn đoán mắc ung thư trực tràng. Dù được gia đình chăm sóc tận tình, ông qua đời vào tháng 11/2017, chỉ ít ngày sau khi tham dự đám cưới của con trai.
Sự ra đi của người bạn đời sau gần 40 năm gắn bó là mất mát lớn đối với Thúy Hoa. Tuy nhiên, bà lựa chọn sống bình thản, dành thời gian cho con cháu và giữ cho mình tinh thần lạc quan. Hiện tại, NSƯT Thúy Hoa hiếm khi xuất hiện trước truyền thông. Thỉnh thoảng, bà góp mặt trong các buổi giao lưu hoặc những dịp đặc biệt bên gia đình.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Buổi chiều, khi thủy triều rút khỏi bãi biển Phước Thiện, xã Vạn Tường, từng khoảng cát ướt dần hiện ra dưới nắng muộn. Từ trong xóm nhỏ ven biển, nhiều người dân mang theo cào sắt, giỏ lưới lặng lẽ xuống bãi.
Giữa nền cát còn loang nước, ông Nguyễn Tấn Thế ở thôn Phước Thiện khom lưng kéo chiếc cào sát mặt cát rồi chậm rãi bước giật lùi. Mỗi nhịp cào đi qua phát ra tiếng lạo xạo trên nền cát ướt. Khi đầu cào chạm nghêu nằm dưới lớp cát, ông liền cúi xuống nhặt nhanh bỏ vào chiếc giỏ lưới phía trước.
"Làm quen rồi nên cào đụng là biết có nghêu liền. Nghề này phải đi lùi mới dò được nghêu dưới cát", ông Thế nói rồi tiếp tục bước theo con nước đang rút dần ra xa.
Ở vùng bãi ngang ven biển, người làm nghề cào nghêu không đi theo giờ giấc cố định mà phụ thuộc hoàn toàn vào thủy triều. Nước xuống lúc nào thì ra bãi lúc đó. Có hôm mới đầu giờ chiều đã bắt đầu làm, nhưng cũng có ngày phải chờ đến chiều muộn.
Nhìn qua tưởng đơn giản, nhưng nghề này đòi hỏi sức bền và sự chịu khó. Người làm phải cúi lưng hàng giờ trên nền cát mềm, vừa kéo cào vừa cảm nhận những va chạm rất nhỏ dưới lớp cát ướt.
"Người mới làm thường đau lưng, mỏi người vì phải khom suốt nhiều giờ. Nghề cực mà thu nhập lại bấp bênh nên giờ ít người còn theo", ông Thế chia sẻ.
Cách đó không xa, bà Nguyễn Thị Hạnh vẫn đều tay kéo cào theo mép nước. Theo bà, nghề cào nghêu có ngày kiếm được tiền chợ, tiền gạo nhưng cũng nhiều hôm đi cả buổi mà chẳng được bao nhiêu.
"Biết là cực nhưng vẫn phải bám bãi thôi. Không làm thì cũng không biết lấy gì lo cuộc sống", bà Hạnh nói.
Dọc những bãi biển ở Vạn Tường, Đông Sơn hay Tịnh Khê, hình ảnh người dân lặng lẽ bước giật lùi trên cát theo con nước đã trở thành nhịp mưu sinh quen thuộc suốt nhiều năm qua.
Trời vừa hửng sáng, bãi biển xã Mỏ Cày đã vang tiếng gọi nhau chuẩn bị chuyến biển đầu ngày. Trong làn gió mặn, đội lưới rùng của ông Nguyễn Văn Hải (62 tuổi) tất bật đưa ngư lưới cụ xuống ghe.
Chiếc ghe nhỏ chở theo tấm lưới dài men sát bờ biển. Đứng ở mạn ghe, ông Hải chăm chú quan sát mặt nước để dò luồng cá áp bờ.
"Không phải thấy biển êm là thả lưới được. Phải nhìn con nước, hướng sóng rồi đoán luồng cá chạy đâu", ông Hải nói.
Theo những ngư dân làm nghề lưới rùng, việc "dò luồng" quyết định phần lớn chuyện được hay mất của cả mẻ lưới. Chỉ cần gió đổi hướng hoặc biển động mạnh, cả đội phải quay ghe vào bờ vì khó gom cá và dễ gặp nguy hiểm.
Khi xác định được luồng cá, chiếc lưới dài bắt đầu được thả xuống biển. Một đầu giữ trên bờ, đầu còn lại theo ghe chạy vòng ra xa, tạo thành vòng cung ôm lấy vùng nước ven bờ.
Ít phút sau, ghe quay lại cập bãi. Tiếng hô kéo lưới vang lên giữa buổi sớm yên ả. Ngay lập tức, cả đội đồng loạt ghì dây lưới, bước giật lùi trên cát để lấy sức kéo tấm lưới nặng trĩu nước biển.
Cát lún dưới chân theo từng nhịp bước. Mồ hôi thấm ướt lưng áo nhưng tiếng hô kéo lưới vẫn đều giữa tiếng sóng biển.
Ngư dân Lê Sáu (65 tuổi), thành viên trong đội lưới rùng, vừa kéo lưới vừa thở gấp: "Kéo riết là rã cả tay chân nhưng vẫn phải bám nghề để kiếm đồng ra đồng vào".
Sau gần một giờ, tấm lưới dần khép lại. Những con cá ánh bạc mắc đầy trong mắt lưới lấp lánh dưới nắng sớm.
"Có hôm gặp luồng cá gần bờ thì cả đội có tiền chia nhau. Nhưng cũng nhiều bữa kéo cả buổi mà lưới nhẹ tênh", ông Hải cười hiền.
Từng là nghề phổ biến ở nhiều làng biển Quảng Ngãi, nay nghề lưới rùng ven bờ dần ít người theo. Những người còn gắn bó chủ yếu là ngư dân lớn tuổi, không còn đủ sức vươn khơi xa nên tiếp tục bám biển gần bờ để mưu sinh và giữ nghề cũ của cha ông.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Xã Hội
Đánh thức "mỏ kim cương" lộ thiên của Hà Nội - Kỳ 3: Cú hích biến di sản thành thương hiệu

Sở hữu hệ thống di sản văn hóa đồ sộ bậc nhất cả nước, từ các di tích quốc gia đặc biệt, làng nghề truyền thống đến kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú, Hà Nội được ví như đang nắm giữ một "viên ngọc quý" của du lịch Việt Nam.
Thế nhưng, để biến những giá trị ấy thành sản phẩm hấp dẫn, thu hút du khách và tạo động lực phát triển kinh tế, theo các chuyên gia và nhà quản lý, điều cần nhất không phải là thêm di sản, mà là thêm những "cú hích" về con người, cách làm và tư duy phát triển.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Trần Trung Hiếu - Phó Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội, cho rằng khó khăn lớn nhất trong quá trình phát huy tiềm năng di sản hiện nay không phải là thiếu cơ chế hay thị trường, mà là năng lực của đội ngũ làm du lịch và sự sẵn sàng của cộng đồng địa phương.
Theo ông Hiếu, Hà Nội đang sở hữu một "viên ngọc quý" là hệ thống di sản đồ sộ, nhưng giá trị của viên ngọc ấy chỉ được phát huy khi có những người biết kể câu chuyện về di sản, biết xây dựng sản phẩm và đưa di sản đến gần hơn với du khách.
"Quanh đi cuộn lại thì vấn đề vẫn là con người. Hà Nội có di sản giống như có một viên ngọc quý, nhưng phải có người biết kể câu chuyện về viên ngọc ấy, biết đưa nó đến với du khách thì giá trị mới được phát huy", ông Hiếu chia sẻ.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, hiện nay cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch đã tương đối đầy đủ, lượng khách đến Hà Nội cũng rất lớn. Tuy nhiên, không phải địa phương nào trên địa bàn thành phố cũng có thể biến di sản thành sản phẩm du lịch thành công. Điều tạo nên khác biệt chính là tư duy của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng.
"Nơi nào cộng đồng sẵn sàng làm du lịch, chính quyền coi đây là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển kinh tế - xã hội thì nơi đó sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn", ông nói.
Theo ông Trần Trung Hiếu, điểm đặc biệt của du lịch di sản là lợi ích cuối cùng sẽ quay trở lại với chính cộng đồng sở hữu di sản. Khi các giá trị văn hóa được khai thác đúng hướng, người dân sẽ trực tiếp hưởng lợi thông qua các dịch vụ lưu trú, ẩm thực, bán sản phẩm làng nghề hay tổ chức các hoạt động trải nghiệm.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, địa phương không chỉ cần nguồn nhân lực tại chỗ mà còn cần đội ngũ có năng lực quản trị, biết xây dựng sản phẩm, tổ chức hoạt động và kết nối với doanh nghiệp lữ hành.
"Không phải địa phương nào cũng mạnh về làm du lịch. Có tài nguyên là một chuyện, còn chuyển hóa tài nguyên thành giá trị kinh tế lại là câu chuyện khác", ông Hiếu nhận định.
Ở góc nhìn nghiên cứu, TS. Trần Hữu Sơn - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch, cho rằng để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên di sản, Hà Nội cần xây dựng một mô hình hợp tác chặt chẽ giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng. Theo ông, không một đơn vị nào có thể tự mình tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
Trong mô hình này, nhà khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu, giải mã và tư vấn các giá trị văn hóa; doanh nghiệp chịu trách nhiệm thiết kế sản phẩm và đưa ra thị trường; còn cộng đồng chính là chủ thể gìn giữ, kể chuyện và tạo nên sức sống cho di sản
"Chỉ khi ba chủ thể cùng đồng hành, những giá trị lịch sử, văn hóa mới được chuyển hóa thành các sản phẩm trải nghiệm đủ sức hấp dẫn du khách", TS. Trần Hữu Sơn nhận định.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay, theo TS. Trần Hữu Sơn, là cơ chế để cộng đồng thực sự được hưởng lợi từ di sản vẫn còn nhiều hạn chế.
Ông dẫn ví dụ tại làng cổ Đường Lâm, nơi sở hữu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc nhưng người dân vẫn chưa được hưởng lợi tương xứng từ hoạt động du lịch. Nguồn thu từ bán vé tham quan chủ yếu tập trung vào công tác quản lý, trong khi lợi ích quay trở lại với từng hộ dân còn khá khiêm tốn.
"Nếu cộng đồng không được hưởng lợi thì rất khó để họ gắn bó lâu dài với việc bảo tồn di sản. Cần xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, giống như cách Hội An đã làm nhiều năm qua", ông nhấn mạnh.
Theo ông, khi người dân thực sự trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, họ sẽ chủ động gìn giữ không gian văn hóa, phát triển các dịch vụ trải nghiệm, lưu trú, ẩm thực hay sản phẩm thủ công truyền thống. Khi đó, bảo tồn và phát triển sẽ không còn là hai mục tiêu tách rời mà bổ trợ cho nhau.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, bên cạnh việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thành phố cũng đang chuyển hướng từ phát triển đại trà sang xây dựng các sản phẩm phù hợp với từng phân khúc khách.
Mỗi thị trường quốc tế đều có nhu cầu khác nhau. Khách châu Âu thường yêu thích trải nghiệm làng nghề và văn hóa bản địa, trong khi khách Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đông Nam Á lại có những sở thích riêng. Vì vậy, mỗi nhóm khách cần những sản phẩm được thiết kế phù hợp.
"Các doanh nghiệp lữ hành cần có nhiều sản phẩm để lựa chọn cho từng thị trường. Muốn bán được tour thì trước hết phải xây dựng đúng sản phẩm cho đúng đối tượng", ông Hiếu cho biết.
Song song với việc làm mới sản phẩm, Hà Nội cũng đang đầu tư từng bước vào hạ tầng phục vụ du lịch như bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, điểm đón tiếp, dịch vụ ăn uống, lưu trú... Đây là những yếu tố nền tảng giúp các điểm đến đủ điều kiện phục vụ khách và phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, yếu tố quyết định sức hấp dẫn của một sản phẩm du lịch vẫn là câu chuyện.
"Mỗi di tích có rất nhiều câu chuyện văn hóa, nhưng không phải câu chuyện nào cũng phù hợp với khách du lịch. Điều quan trọng là phải chọn được những câu chuyện hấp dẫn nhất, diễn giải di sản theo đúng nhu cầu của từng nhóm khách. Câu chuyện du lịch sẽ khác với câu chuyện lịch sử", ông Hiếu nhấn mạnh.
Theo ông Trần Trung Hiếu nhận định, Hà Nội cần chuyển từ tư duy chạy theo số lượng sang chú trọng chất lượng trải nghiệm. Một sản phẩm tốt không nhất thiết phải phục vụ thật đông khách mà phải đảm bảo du khách có trải nghiệm trọn vẹn, từ đó tạo sức lan tỏa và giá trị bền vững.
"Dù một tour chỉ phục vụ số lượng khách vừa phải nhưng nếu chất lượng tốt, du khách hài lòng thì giá trị mang lại sẽ lớn hơn nhiều so với việc đón khách ồ ạt nhưng trải nghiệm không được đảm bảo", ông Hiếu bày tỏ.
Đồng quan điểm, TS. Trịnh Lê Anh cho rằng, Hà Nội cần mạnh dạn từ bỏ tư duy "càng đông khách càng tốt". Theo ông, những hình ảnh chen chúc tại các điểm di tích tâm linh ngày đầu xuân không phải là biểu hiện của thành công mà là dấu hiệu của sự quá tải, đây không bao giờ là du lịch bền vững.
Ông đề xuất, Hà Nội cần ứng dụng công nghệ số để đo lường, dự báo và chủ động điều tiết luồng khách; áp dụng việc bán vé giới hạn theo khung giờ hoặc điều chỉnh giá vé vào giờ cao điểm. Việc này không phải là hạn chế quyền tiếp cận của người dân, mà là giải pháp văn minh để bảo vệ cấu trúc di tích, đồng thời bảo vệ chính chất lượng trải nghiệm của du khách.
"Phát triển du lịch di sản phải là một cuộc chạy marathon đường dài vì sinh kế cộng đồng và sự trường tồn của văn hóa, chứ không phải là một cú chạy nước rút để lấy thành tích số lượng cơ học", TS. Trịnh Lê Anh nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Sở Du lịch Hà Nội, mục tiêu của thành phố không chỉ là tăng lượng khách mà còn kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao mức chi tiêu thông qua việc phát triển hệ sinh thái sản phẩm chất lượng cao.
Các chương trình trải nghiệm được định hướng đa dạng về thời lượng, từ 4 giờ, 8 giờ cho đến 24 hoặc 48 giờ, đồng thời mở rộng các sản phẩm du lịch ban ngày và ban đêm để tạo thêm lựa chọn cho du khách.
Một dư địa lớn khác là phát triển các sản phẩm lưu niệm mang dấu ấn riêng của từng điểm đến. "Muốn giữ được ký ức về điểm đến thì ngoài cảnh đẹp còn phải có những món quà mang dấu ấn riêng. Đó là cách nhiều quốc gia đang làm rất tốt và Hà Nội cũng cần hướng tới", ông Hiếu chia sẻ.
Bên cạnh đó, công nghệ tiếp tục được xác định là xu hướng tất yếu nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ. "Công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ. Điều tạo nên sức sống của di sản vẫn là con người, là câu chuyện và những giá trị gốc của di tích", ông Hiếu khẳng định.
Đánh giá về vai trò của du lịch di sản, ông Hiếu cho rằng đây vẫn là trụ cột quan trọng nhất trong cơ cấu sản phẩm du lịch của Thủ đô. Di sản không chỉ hiện diện trong các khu di tích mà còn hiện hữu trong ẩm thực, làng nghề, tín ngưỡng, nghệ thuật và đời sống cộng đồng, tạo nên bản sắc riêng mà không địa phương nào có thể sao chép.
Từ nay đến năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển và công nhận ba khu du lịch quốc gia gồm khu vực Hồ Gươm và phụ cận, Hương Sơn - Chùa Hương và Ba Vì. Song song với đó là tiếp tục xây dựng các tuyến kết nối bằng đường bộ, đường sông, đường sắt, xe điện, xe buýt hai tầng... để biến mỗi hành trình di chuyển trở thành một hành trình khám phá di sản.
"Phương tiện không còn đơn thuần là phương tiện nữa, mà chính là một phần của trải nghiệm văn hóa. Khi kết nối được các di sản và kể được câu chuyện của từng vùng đất, Hà Nội sẽ có thêm sức hút để giữ chân du khách lâu hơn và khẳng định vị thế là trung tâm du lịch văn hóa hàng đầu của cả nước", ông Hiếu nhấn mạnh.
Khép lại cuộc trao đổi, ông Trần Trung Hiếu khẳng định Hà Nội đang hội tụ đầy đủ điều kiện về hạ tầng, tài nguyên văn hóa, môi trường du lịch an toàn và hệ thống dịch vụ để bứt phá. Điều cần nhất lúc này là tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng lực quản trị ở cơ sở, phát huy vai trò của cộng đồng và xây dựng những câu chuyện đủ sức chạm tới cảm xúc của du khách.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

