Đây không còn là câu chuyện giáo dục, mà là bài toán tương lai quốc gia. Vì thế nếu chỉ hiểu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu nâng cấp một vài đại học hay cải thiện chất lượng đào tạo, có lẽ vẫn chưa chạm tới bản chất vấn đề. Điều thực sự được đặt ra là một yêu cầu chiến lược: VN phải tái định nghĩa vai trò của đại học trong mô hình phát triển quốc gia mới.
Từ mô hình Humboldt thế kỷ 19, đại học hiện đại không còn là nơi chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và dẫn dắt tư tưởng. Tuy nhiên, trong phần lớn quá trình phát triển của mình, giáo dục đại học VN chủ yếu được nhìn như nơi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.
Nhưng trong thế kỷ 21, dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và cạnh tranh địa chính trị – công nghệ, đại học đã trở thành hạ tầng chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quốc gia nào sở hữu các trung tâm sản sinh tri thức, công nghệ lõi và tinh hoa dẫn dắt sẽ làm chủ chuỗi giá trị. Quốc gia nào tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, gia công và nhập khẩu công nghệ sẽ tiếp tục ở vị trí thấp trong trật tự phát triển mới. Đó không còn là cảnh báo. Đó là thực tế đang diễn ra.
Nhiều năm qua, đại học VN phát triển nhanh về quy mô: số trường tăng, sinh viên tăng, công bố quốc tế cải thiện. Nhưng nếu nhìn thẳng vào năng lực tạo công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hay đóng góp cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học, khoảng cách của đại học VN với các đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á vẫn còn xa.
Điểm yếu lớn nhất của đại học VN không phải thiếu trường, mà thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Nhiều trường hiện vẫn vận hành như cơ sở đào tạo mở rộng quy mô hơn là trung tâm tạo tri thức mới. Thành công nhiều khi vẫn được đo bằng số lượng tuyển sinh, số ngành mở mới hay số lượng bài báo được đong đếm cơ học, thay vì năng lực giải quyết những bài toán phát triển của đất nước và năng lực tạo ra công nghệ có giá trị thực.
Đại học VN đang mạnh về bài báo nhưng còn rất yếu về bằng sáng chế quốc tế; nếu so sánh về số lượng bằng sáng chế quốc tế với các đại học trong khu vực, thì sự hiện diện của các đại học VN trên bản đồ sở hữu trí tuệ công nghệ toàn cầu vẫn còn mờ nhạt.
Đó là khoảng cách đáng lo.
Trong khi đó, mô hình đại học thế giới đã thay đổi rất nhanh. Đại học Stanford góp phần tạo ra Thung lũng Silicon, MIT trở thành trung tâm kết nối công nghệ – quốc phòng – công nghiệp của Mỹ. Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đang đóng vai trò trung tâm trong chiến lược công nghệ và AI của Trung Quốc. NUS là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Singapore.
Họ không chỉ đào tạo nhân lực, mà họ còn tham gia tạo tương lai quốc gia.
Điều đáng suy nghĩ hơn là AI đang làm thay đổi tận gốc mô hình đại học truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tri thức phổ thông không còn chủ yếu nằm trong giảng đường hay thư viện đại học; đại học đứng trước nguy cơ mất độc quyền tri thức, nền tảng quyền lực quan trọng của mình.
Khi tri thức phổ thông trở nên gần như miễn phí nhờ AI, giá trị của đại học sẽ không còn nằm ở việc truyền đạt cái đã biết, mà ở khả năng tạo ra cái chưa ai biết; không phải đào tạo những con người làm theo quy trình, mà đào tạo những người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo công nghệ và dẫn dắt xã hội trong môi trường đầy bất định.
Nếu không chuyển đổi kịp, nhiều đại học có thể tụt hậu ngay trong chính chức năng truyền thống của mình.
Nhưng thách thức lớn nhất của đại học VN hiện nay không đơn thuần là tiền bạc hay cơ sở vật chất. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở mô hình quản trị và tư duy phát triển. Bởi lẽ, một đại học nghiên cứu đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ chuyển giao công nghệ. Sứ mệnh tối cao của nó là trở thành chiếc nôi đào tạo và hình thành các tầng lớp tinh hoa, từ khoa học, công nghệ đến quản trị chính sách và doanh nghiệp, những bộ óc đủ tầm dẫn dắt tương lai quốc gia.
Tinh thần của đại học nghiên cứu là tự do học thuật, tranh luận và chấp nhận rủi ro sáng tạo.
Nhưng mô hình quản lý hiện nay lại thiên về kiểm soát, cào bằng và an toàn. Chúng ta muốn đại học đổi mới sáng tạo, nhưng lại vận hành bằng tư duy của một đơn vị sự nghiệp hành chính.
Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin – cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Không thể có nghiên cứu đột phá nếu môi trường học thuật thiếu phản biện thực chất và cạnh tranh học thuật đúng nghĩa.
Không thể thu hút nhân tài toàn cầu hay các nhà khoa học VN hàng đầu trở về nếu cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và hợp tác quốc tế vẫn chậm chạp, khép kín và thiếu chuẩn quốc tế.
Điều đáng mừng là lần đầu tiên, VN đặt khoa học – công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia. Chủ trương dành 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo và khoảng 2% GDP cho khoa học – công nghệ là một quyết định lớn, cho thấy tư duy phát triển quốc gia đã thay đổi.
Nhưng nguồn lực dù lớn đến đâu cũng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là dám thay đổi mô hình phát triển đại học.
VN không cần thêm những đại học lớn về quy mô. VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia. Muốn vậy, phải chấp nhận cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia: tự trị học thuật thực chất, cạnh tranh nhân tài toàn cầu và mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế.
Cần nhìn nhận đúng định nghĩa: tự chủ đại học tuyệt đối không phải là sự đánh đồng với việc Nhà nước “khoán tài chính” để đại học tự lo trong bài toán tăng học phí, mà đó là một cam kết thể chế: Nhà nước tiếp tục đầu tư trọng điểm, chiến lược nhưng kiên quyết buông bỏ tư duy kiểm soát hành chính, trao lại quyền tự trị học thuật thực chất cho giảng đường.
Nếu không hình thành được ít nhất vài đại học nghiên cứu đủ mạnh trong 15-20 năm tới, VN có nguy cơ tiếp tục đứng ở vị trí gia công công nghệ và phụ thuộc tri thức trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay cả khi có thêm vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại.
Điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra với Đại học Quốc gia Hà Nội thực chất là một yêu cầu chiến lược đối với tương lai VN: phải hình thành những “đầu tàu trí tuệ” đủ sức dẫn dắt công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.
Trong thế kỷ 21, khoảng cách giữa các quốc gia sẽ ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức và công nghệ. Vì vậy, cải cách đại học không còn là câu chuyện riêng của ngành giáo dục.
Muốn trở thành quốc gia phát triển, VN trước hết phải trở thành quốc gia có đại học nghiên cứu mạnh.
Tuy vậy điều này cũng cảnh báo học sinh (HS) cần cân nhắc kỹ về năng lực học tập và điều kiện đi lại để tránh tình trạng dồn nguyện vọng (NV) vào một số trường.
Sáng 2.4, Sở GD-ĐT Hà Nội tổ chức hội nghị hướng dẫn tuyển sinh vào các trường mầm non, lớp 1, lớp 6, lớp 10 năm học 2026 - 2027 và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Ông Nghiêm Văn Bình, Trưởng phòng Quản lý thi và kiểm định chất lượng (Sở GD-ĐT Hà Nội), nêu một trong những điểm mới đáng chú ý năm nay là đăng ký dự thi vào lớp 10 hình thức trực tuyến theo cổng duy nhất là Cổng thông tin tuyển sinh đầu cấp của TP; chỉ những trường hợp đặc biệt, bất khả kháng mới đăng ký trực tiếp vào "đơn xanh" như trước.
HS có thể tự đăng ký (bắt buộc phải có VNeID mức 2). Tuy nhiên, giáo viên và phụ huynh có thể đăng ký giúp HS thông qua xác thực VNeID của người đăng ký hộ (nhưng phải thêm bước xác nhận tài khoản, mật khẩu của HS).
Theo lịch, từ ngày 4 - 6.4, HS có thể đăng ký thử nghiệm; từ ngày 10.4 đến 24 giờ ngày 17.4, HS sẽ đăng ký chính thức. Trong thời gian này, các em có thể điều chỉnh NV.
HS có thể theo dõi tỷ lệ chọi của từng NV1, 2, 3 theo thời gian thực. Mỗi HS sẽ xem được tối đa tỷ lệ chọi của 10 trường THPT công lập không chuyên và 4 trường THPT chuyên. Qua đó, HS có thể cân nhắc thay đổi NV trong quá trình đăng ký trực tuyến. "Trước khi HS thay đổi NV, chúng tôi cũng khuyến cáo việc điều chỉnh này phải đăng ký vào năng lực học tập của HS, vào điều kiện thực tiễn và điều kiện đi lại; để tránh việc chọn NV quá an toàn nhưng khi trúng tuyển lại không theo học gây lãng phí, ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh chung cũng như của chính HS", ông Bình lưu ý.
Sắp tới, hệ thống sẽ bổ sung thêm gợi ý về khoảng cách từ nơi cư trú của HS đến trường mà HS dự kiến lựa chọn để các em có thêm căn cứ lựa chọn cho phù hợp.
Với tuyển sinh lớp 10, đây năm đầu tiên HS được đăng ký 3 NV vào 3 trường THPT công lập bất kỳ, không phân biệt khu vực tuyển sinh như những năm trước.
Nguyên tắc xét tuyển năm nay vẫn giữ ổn định như mọi năm, chỉ thay đổi về mức chênh lệch điểm chuẩn giữa các NV.
Cụ thể, HS được đăng ký 3 NV, xếp theo thứ tự ưu tiên cao nhất là NV1. Khi HS không trúng tuyển NV1, các em sẽ được xét tuyển đến NV2, khi không trúng tuyển NV2 sẽ được xét tuyển đến NV3. Việc xét tuyển là bình đẳng giữa các NV, chỉ chênh lệch về mức điểm.
Năm nay, mức chênh lệch điểm chuẩn giữa các NV đã giảm từ 1 điểm xuống còn 0,5 đối với NV2 và từ 2 điểm xuống còn 1 đối với NV3. Điều này giúp các em có nhiều cơ hội hơn trong lựa chọn đăng ký NV và tăng cơ hội trúng tuyển ở các NV2, 3. "Trước đây, có em lựa chọn 3 NV có mức điểm chuẩn tương đối gần nhau dẫn đến nguy cơ rủi ro rất lớn, có thể trượt cả ba NV. Mức điểm chênh lệch giữa 3 NV giảm như năm nay sẽ giúp cơ hội trúng tuyển của HS cao hơn, giảm bớt rủi ro", ông Bình nêu ví dụ.
Ông Bình cũng nhấn mạnh hệ thống không ưu tiên xét tuyển theo NV. Nghĩa là khi các em không trúng tuyển NV1 sẽ được xét tuyển NV2 song song bình đẳng với NV1 của trường mà các em đăng ký NV2 chứ không phải ưu tiên xét tuyển NV1 hết rồi mới xét đến NV2, 3...
Cũng theo ông Bình, khi hạ điểm chuẩn, các trường được tuyển NV2, 3 miễn là đủ điều kiện về điểm trúng tuyển. Sau khi hạ điểm chuẩn, các em trúng tuyển NV1 có thể quay lại nộp hồ sơ nhưng không bắt buộc, các em vẫn có thể học tại trường mà mình đã trúng tuyển NV2. Điều này khác với quy định cho điểm chuẩn công bố đợt 1, HS đã trúng tuyển NV1 sẽ không được nhập học vào các trường đăng ký NV2, 3.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội, nhấn mạnh Sở sẽ quản lý chặt chẽ chỉ tiêu của từng trường, bảo đảm phân bổ hợp lý, tránh tình trạng dồn NV vào một số trường gây quá tải trong khi nơi khác thiếu chỉ tiêu, lãng phí cơ sở vật chất. Hệ thống đăng ký trực tuyến được khai thác để công khai số lượng đăng ký theo thời gian thực, giúp HS và phụ huynh theo dõi, điều chỉnh NV phù hợp.
"Các nhà trường cần tăng cường tư vấn để HS lựa chọn NV sát với năng lực, đồng thời cân nhắc yếu tố khoảng cách địa lý, ưu tiên trường gần nơi cư trú nhằm bảo đảm điều kiện học tập ổn định lâu dài; tránh tâm lý đăng ký dồn vào trường tốp trên, hoặc chọn trường quá xa chỉ để tăng khả năng trúng tuyển", ông Hiền lưu ý.
Ông Vũ Minh Đức - Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục, Bộ GD-ĐT - đã chia sẻ với phóng viên Tuổi Trẻ về những thay đổi quan trọng trong việc xét chọn, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư từ năm 2026.
Theo ông Đức, những năm trước việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư thực hiện qua ba cấp: các cơ sở giáo dục đại học thành lập hội đồng cơ sở để xem xét, đánh giá, chọn ứng viên đủ tiêu chuẩn, đề xuất lên hội đồng ngành/liên ngành thẩm định.
Sau khi thẩm định, hội đồng ngành/liên ngành trình Hội đồng Giáo sư nhà nước xem xét, công nhận đạt chuẩn chức danh. Bước cuối, các trường đại học thực hiện bổ nhiệm.
* Thưa ông, vì sao đến nay chưa có kế hoạch xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2026?
- Luật Giáo dục đại học số 125/2025 được Quốc hội thông qua ngày 10-12-2025, có hiệu lực từ 1-1-2026; tại khoản 5 và 6 điều 29 quy định: "Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư".
Thực hiện quy định của luật, Bộ GD-ĐT đang khẩn trương xây dựng, ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (dự kiến ban hành trong quý 3-2026).
Sau khi thông tư của bộ được ban hành, các cơ sở giáo dục đại học sẽ triển khai việc xét, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2026.
* Kế hoạch xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư năm nay có những điều chỉnh quan trọng, đáng chú ý nào. Lý do của những điều chỉnh này là gì, thưa ông?
- Điểm điều chỉnh quan trọng trong quy định mới về xét, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư là: việc bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư gắn với vị trí việc làm, định hướng phát triển của cơ sở giáo dục đại học; chuyển từ cơ chế xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư theo mô hình tập trung sang cơ chế để các cơ sở giáo dục đại học trực tiếp tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý đội ngũ học thuật trình độ cao.
Đây không đơn thuần là thay đổi về quy trình nhân sự mà còn phản ánh sự chuyển đổi sâu hơn trong tư duy quản trị đại học: từ quản lý hành chính sang quản trị chất lượng; từ công nhận danh vị sang xác lập trách nhiệm học thuật; từ kiểm soát tập trung sang tự chủ có giám sát.
Việc điều chỉnh này là bước triển khai cụ thể chỉ đạo của Đảng và Nhà nước được nêu trong nghị quyết 71 của Trung ương về đột phá phát triển giáo dục, thực hiện quy định của Luật Giáo dục đại học và xu thế tự chủ đại học ngày càng cao, hội nhập với chuẩn mực quốc tế.
* Được biết Bộ GD-ĐT đang xây dựng thông tư mới về xét công nhận giáo sư, phó giáo sư. Dự kiến các cơ sở giáo dục đại học sẽ được trao quyền thế nào trong việc bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư?
- Dự thảo quy định mới của bộ giao cho cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm toàn bộ quá trình xét, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Bộ dự kiến phân cấp mạnh mẽ gắn liền với trách nhiệm giải trình, đề cao vai trò của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học.
* Dự kiến các cơ sở giáo dục sẽ dựa vào căn cứ nào để xét chọn, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư?
- Để đảm bảo mặt bằng chất lượng đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, Bộ GD-ĐT sẽ ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, tập trung vào ba năng lực nền tảng cốt lõi của ứng viên: năng lực giảng dạy, uy tín khoa học và khả năng thu hút nguồn lực để phát triển năng lực nghiên cứu của trường.
Một số tiêu chuẩn cụ thể có thể như: có công bố khoa học quốc tế thuộc danh mục Scopus hoặc WoS, năng lực ngoại ngữ chuyên môn bằng tiếng Anh, thành tựu khoa học, kết quả đào tạo nổi bật và định hướng nghiên cứu của ứng viên.
Trên cơ sở quy định của bộ, các trường có quyền quy định chi tiết tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư sao cho sát điều kiện thực tế, định hướng chiến lược của mình. Tuy nhiên, việc này phải phù hợp với đặc thù lĩnh vực, chuyên ngành đào tạo và không thấp hơn quy định chung.
Các cơ sở giáo dục đại học thành lập hội đồng xét, bổ nhiệm theo ngành/nhóm ngành, tổ chức phản biện, đánh giá năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học và uy tín của ứng viên và ban hành quyết định bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư với những người đủ điều kiện theo quy định.
Buổi tọa đàm nằm trong khuôn khổ lễ phát động Cuộc thi toàn quốc về marketing xã hội Social Pioneers 2026, do Đại học Kinh tế quốc dân phối hợp cùng Quỹ xã hội Phan Anh và dự án Heritex tổ chức.
Tại tọa đàm, vấn đề ranh giới giữa sáng tạo và sai lệch lịch sử được nhiều sinh viên quan tâm, đặt câu hỏi đến các chuyên gia.
Trong đó một nam sinh cho biết thời gian gần đây đã được xem nhiều kênh thông tin chia sẻ các nội dung về lịch sử, để lan tỏa tình yêu lịch sử cho người trẻ. Bên cạnh những kênh thông tin hoàn thành tốt nhiệm vụ, có một số kênh thông tin lại bị cư dân mạng chỉ trích vì đã làm sai lệch thông tin lịch sử. Nam sinh mong muốn các chuyên gia chỉ rõ gianh giới giữa sáng tạo và sai lệch lịch sử.
Một sinh viên khác băn khoăn khi khai thác các chất liệu lịch sử để truyền thông cần bám chặt vào những yếu tố cốt lõi nào để thông điệp đưa ra vừa hấp dẫn, vừa tôn trọng sự thật tuyệt đối.
Trả lời sinh viên, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng vấn đề hiện nay là làm thế nào để dạy lịch sử tốt, để lịch sử trở thành nguồn cảm hứng, chứ không phải khổ sai về trí nhớ.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, bên cạnh nỗ lực của những nhà giáo dạy lịch sử, thì mỗi người dân cần phải có bản lĩnh tiếp cận những nguồn thông tin lịch sử ngày một to lớn nhưng cũng đầy cạm bẫy.
Theo ông, hiện chúng ta đang có những công cụ công nghệ rất lớn, không thể quay lưng lại với nó. Các bạn trẻ cần dũng cảm đương đầu, tìm cách tiếp cận tốt nhất, phải đóng góp thêm cho mạng xã hội những nguồn thông tin ngày càng chính xác, tích cực, có trách nhiệm về lịch sử, góp phần đẩy lùi các thông tin sai lệch, độc hại.
"Lịch sử sẽ sống mãi. Mảnh đất sống của lịch sử là sự trao truyền qua những thế hệ", ông Quốc nói.
Còn nhà văn Hồ Bá Thược nhấn mạnh một nhà văn phải có trách nhiệm với lịch sử, phải tôn trọng lịch sử, thông qua lịch sử để giáo dục con người - đây là những điều cốt lõi.
Theo ông, các tác phẩm văn học hồi ký, bút ký, phỏng vấn phải là sự thật. Để viết được, người viết phải có vốn sống, phải đi nhiều, hiểu nhiều, biết nhiều, học nhiều, đọc nhiều, cảm nhận được những tinh túy nhất… Không thể ngồi một chỗ tự hư cấu không có cơ sở. Đây cũng là điều ông Thược muốn gửi gắm đến các bạn trẻ trước khi tạo ra một sản phẩm sáng tạo từ chất liệu lịch sử.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàn - Trưởng khoa lý luận chính trị, Đại học Kinh tế quốc dân - chia sẻ với các môn lý luận chính trị, nhiều bạn trẻ coi đây là môn học bắt buộc, mang tâm lý "bị học", không phải "được học".
Theo bà Hoàn, để sinh viên thay đổi suy nghĩ trên, có hai yếu tố quan trọng là người dạy và người học. Trong đó người dạy phải biết thổi hồn cho kiến thức, mềm hóa kiến thức bằng những câu chuyện, nhân vật lịch sử, áp dụng công nghệ, giúp thế hệ trẻ kết nối được quá khứ - hiện tại - tương lai.
Chiều cùng ngày, Đại học Kinh tế quốc dân cùng các đơn vị tổ chức đã phát động Cuộc thi toàn quốc về marketing xã hội Social Pioneers 2026 với chủ đề "Phục dựng cội nguồn, khởi tạo kỷ nguyên".
Thí sinh dự thi có độ tuổi 16 - 24, được chia thành 2 bảng học sinh và sinh viên. Bốn vòng thi sẽ diễn ra từ ngày 15-5 đến 14-8.
Các đội thi sẽ tham gia trả lời trắc nghiệm kiến thức marketing; nghiên cứu xây dựng ý tưởng, kế hoạch sơ bộ cho dự án; thực hiện hóa sản phẩm truyền thông vòng bán kết; trình bày dự án và tranh luận với các đội thi trong vòng chung kết.
PGS.TS Nguyễn Đình Toàn - Phó trưởng khoa marketing, Đại học Kinh tế quốc dân - cho biết việc lựa chọn chủ đề thi năm nay xuất phát từ thực tiễn, thế hệ trẻ đang sống trong một môi trường thông tin tốc độ cao, nội dung ngắn, thuật toán định hình sự chú ý và thói quen tiếp nhận thông tin.
Trong bối cảnh đó, lịch sử và các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ trở nên xa cách nếu vẫn được truyền tải theo mô thức một chiều, đồng thời cũng đối mặt với những rủi ro bị cắt xén, đơn giản hóa hoặc sai lệch khi lan truyền trên các nền tảng số.
"Cuộc thi năm nay đặt bài toán kết nối lịch sử, giới trẻ, công nghệ dưới lăng kính marketing xã hội. Chúng tôi tin rằng lịch sử thực sự sống khi được thế hệ trẻ tiếp nhận, đối thoại và tiếp nối", ông Toàn nhấn mạnh.
Năm ngoái, có khoảng 2.100 thí sinh tham gia dự thi, đến từ hơn 150 trường THPT, cao đẳng và đại học tại 23/34 tỉnh, thành phố.