Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm nay đến Bắc Kinh, bắt đầu chuyến thăm hai ngày tới Trung Quốc. Ông Putin sẽ hội đàm riêng với Chủ tịch Tập Cận Bình để thảo luận về “các vấn đề quan trọng và nhạy cảm nhất” trong quan hệ song phương, đồng thời trao đổi “những vấn đề toàn cầu cấp bách nhất” khi dự tiệc trà.
Chuyến công du diễn ra chỉ vài ngày sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Mỹ Donald Trump, người đã được ông Tập tiếp đón một cách nồng hậu với những nghi thức trang trọng nhất, trong đó cuộc gặp trong Trung Nam Hải, “trái tim quyền lực” của Trung Quốc.
Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov cho biết ông Putin đã theo dõi chặt chẽ chuyến thăm của Tổng thống Mỹ. “Chuyến đi này sẽ là cơ hội tốt để Nga trao đổi ý kiến về các cuộc tiếp xúc giữa Trung Quốc và Mỹ”, Peskov nói.
Hai chuyến thăm liên tiếp của Tổng thống Mỹ và Tổng thống Nga đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc đón tiếp các lãnh đạo cao nhất của hai cường quốc trong cùng một tháng.
Bình luận viên Xin Lin của DW, Đức, nhận định việc Tổng thống Putin thực hiện chuyến thăm ngay sau khi Tổng thống Trump rời Bắc Kinh thực sự gây chú ý bởi nó làm bật lên tầm ảnh hưởng của Trung Quốc giữa một bối cảnh địa chính trị ngày càng chia rẽ và hằn sâu bởi những cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc.
Vai trò trung tâm
Cố vấn chính phủ Trung Quốc Trịnh Vĩnh Niên, Hiệu trưởng trường Chính sách Công thuộc Đại học Trung văn Hương Cảng cơ sở ở Thâm Quyến, đánh giá thái độ kiềm chế, tôn trọng mà Tổng thống Trump thể hiện trong suốt chuyến thăm Bắc Kinh vừa qua là bằng chứng về việc ông giờ đây “hiểu rõ ràng hơn rằng Mỹ không thể đánh bại Trung Quốc” mà thay vào đó bắt buộc phải tìm kiếm hợp tác.
Theo ông, việc hai lãnh đạo Mỹ – Nga lần lượt tới Trung Quốc trong thời gian ngắn còn cho thấy rằng Bắc Kinh hiện chiếm vị thế trung tâm trong mối quan hệ “tam giác chiến lược” với Washington và Moskva.
“Trung Quốc sẽ không chấm dứt mối quan hệ với Nga chỉ vì Mỹ muốn chúng tôi làm điều đó và chúng tôi cũng không đơn giản là nghiêng về một bên chỉ vì có mối quan hệ qua lại gần gũi với Nga”, ông Trịnh nói. “Trong mối quan hệ giữa ba nước, Trung Quốc ngày nay đang đóng vai trò then chốt”.
Quan hệ giữa Trung Quốc và Nga đã trở nên khăng khít hơn những năm gần đây. Trong khi đó, quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng chuyển sang thế cạnh tranh gay gắt kể từ nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của ông Trump và căng thẳng này vẫn tiếp diễn dưới thời tổng thống Joe Biden.
Tuy nhiên, phát biểu tại Bắc Kinh hồi tuần trước, Tổng thống Trump cho biết ông và Chủ tịch Tập có sự gắn kết “tuyệt vời”, đồng thời tuyên bố đây là mối quan hệ “lâu dài nhất” giữa lãnh đạo hai nước.
Theo ông Trịnh, Tổng thống Trump đã cho thấy một “xu hướng thực tế mới” trong nhiệm kỳ thứ hai của mình. “Ông Trump có lẽ đã hiểu rằng Trung Quốc đã vươn lên mạnh mẽ và Mỹ không thể mãi giữ lập trường đối đầu”, ông nói.
Những bước xoay chuyển
Trung Quốc suốt một thập kỷ qua đã huy động các nguồn lực để đạt khả năng tự chủ về công nghệ cao, dịch chuyển lên nấc thang cao hơn trong chuỗi công nghiệp và chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực nhằm tăng cường khả năng chống chịu trước những thách thức từ bên ngoài.
Ông Trịnh nhận định chính điều này đã tạo ra những thay đổi trong tư duy đối đầu của Mỹ.
“Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Trump, nhiều người Mỹ tin chắc rằng phải đánh bại Trung Quốc và Mỹ có đủ khả năng làm điều đó”, ông nói. “Nhưng tình hình giờ đây hoàn toàn khác. Sau nhiều năm phát triển liên tục, Trung Quốc đã bước vào một giai đoạn mới”.
Theo thông cáo từ phía Trung Quốc, trong hội nghị thượng đỉnh với ông Trump tại Bắc Kinh hôm 14/5, ông Tập cho biết hai lãnh đạo đã “đồng thuận về một tầm nhìn mới nhằm xây dựng mối quan hệ Mỹ – Trung ổn định chiến lược mang tính xây dựng”.
Ông Trịnh cho rằng chìa khóa để hướng tới “một tương lai tốt đẹp hơn” trong quan hệ Mỹ – Trung sẽ nằm ở việc liệu hai cường quốc có thể xây dựng được một cơ chế ổn định dựa trên thực tế, giữ cạnh tranh trong tầm kiểm soát và đóng góp nhiều hơn cho lợi ích chung trước các vấn đề quốc tế lớn hay không.
Claus Soong, chuyên gia tại Viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator (MERICS) tại Đức nhận định cục diện địa chính trị hiện tại đang đặt Bắc Kinh vào vị thế có lợi, khi cả Washington và Moskva đều cần đến họ. Trong khi đó, Trung Quốc lại không cần phải nghiêng về bất kỳ bên nào để đối trọng với Mỹ, cũng không cần phải né tránh những căng thẳng giữa Nga và phương Tây.
Tổng thống Trump đã được Chủ tịch Tập đón tiếp nhiệt tình và rời Bắc Kinh trong bầu không khí lạc quan. Chuyến thăm của Tổng thống Putin có thể nhằm tìm kiếm một đảm bảo rằng bất kỳ tiến triển nào trong quan hệ Mỹ – Trung cũng không làm tổn hại đến Nga.
Đối với ông Putin lúc này, ưu tiên hàng đầu là tái khẳng định mối quan hệ chặt chẽ với ông Tập và tìm hiểu chính sách hiện tại của Bắc Kinh, Soong nhận định.
Kể từ khi Nga phát động chiến dịch tại Ukraine hồi tháng 2/2022, Tổng thống Putin đã thường xuyên gặp gỡ Chủ tịch Tập. Đối với Bắc Kinh, mối quan hệ này vẫn là một ưu tiên, tuy nhiên, Nga đang ngày càng dựa nhiều hơn vào sự hỗ trợ của Trung Quốc.
Nga đã tìm cách thúc đẩy Trung Quốc tăng nhập khẩu dầu khí của mình. Hai nước hồi tháng 9/2025 ký bản ghi nhớ mang tính ràng buộc pháp lý trong việc thúc đẩy xây dựng siêu dự án khí đốt Power of Siberia 2, có khả năng vận chuyển thêm 50 tỷ m3 khí đốt mỗi năm từ các mỏ khí Yamal ở vùng cực của Nga, đi qua lãnh thổ Mông Cổ rồi đến Trung Quốc.
Ông Putin lần đầu đề xuất dự án vào năm 2022, ngay sau khi phương Tây áp đặt lệnh trừng phạt Nga vì chiến sự Ukraine và buộc Moskva xoay trục thị trường sang châu Á. Tuy nhiên, sau nhiều năm đàm phán, Trung Quốc chưa tỏ ra quá mặn mà với dự án này. Thời điểm khởi công hay hoàn thành dự án Power of Siberia 2 cũng chưa được Bắc Kinh công bố.
Liệu Trung Quốc có điều chỉnh mức độ hỗ trợ của mình cho Nga hay không hiện vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không muốn chứng kiến kinh tế Nga suy yếu, bởi Moskva vẫn là một đối tác chiến lược quan trọng của Bắc Kinh trên nhiều lĩnh vực, chuyên gia Soong đánh giá.
Theo Soong, Nga – Trung có lợi ích song hành, nhưng không hoàn toàn trùng khớp. Mục tiêu then chốt của Trung Quốc là đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định và bền vững hơn, nhưng không để bị phụ thuộc quá mức vào dầu khí của Nga, điều có thể tạo lợi thế đòn bẩy cho Moskva.
Dù chương trình nghị sự của cuộc hội đàm sắp tới giữa ông Putin và ông Tập vẫn chưa rõ ràng, Soong dự đoán hai bên sẽ ký kết một số thỏa thuận, nhưng ông lưu ý rằng đây chỉ là bước khởi đầu chứ chưa phải kết thúc của cả quá trình.
Trong khi đó, Andrei Kortunov, chuyên gia Nga về các vấn đề quốc tế thuộc Câu lạc bộ Thảo luận Valdai có liên kết với Điện Kremlin, cho rằng các cuộc hội đàm giữa Tổng thống Putin và Chủ tịch Tập “có thể không phải lúc nào cũng dễ dàng trên mọi phương diện”, nhưng “tình hình hiện tại cũng tạo ra những cơ hội mới cho Nga”.
Trong một bài bình luận gần đây trên CGTN, ông Kortunov nhấn mạnh niềm tin là thứ quyết định những gì có thể đạt được trong quan hệ giữa các cường quốc. “Trong trường hợp quan hệ Trung – Nga, mối quan hệ cá nhân bền chặt giữa hai lãnh đạo sẽ giúp mối quan hệ song phương trở nên ổn định và dễ dự đoán hơn”, Kortunov cho hay.
Trong hội thảo được tổ chức ở Thâm Quyến hồi tháng 4, Zhu Zhaoyi, giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Trung Đông tại Trường Kinh doanh HSBC thuộc Đại học Bắc Kinh, cho rằng Trung Quốc cần rút ra những bài học từ xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran.
Ông lập luận rằng Trung Quốc hiện sở hữu rất nhiều vũ khí mới, nhưng chưa có cơ hội học hỏi từ những cuộc chiến thực tế. "Tôi tin xung đột Trung Đông có giá trị rất lớn đối với Trung Quốc, đặc biệt là về mặt quân sự. Quân đội Mỹ càng chiến đấu nhiều, Trung Quốc càng có thể thu hẹp khoảng cách về khí tài. Mỹ tham chiến thực chất là cơ hội học hỏi khổng lồ cho Trung Quốc", ông nói.
Fu Qianshao, cựu đại tá không quân Trung Quốc, cũng chỉ ra rằng bài học lớn mà ông rút ra từ xung đột Trung Đông là "không được quên đầu tư vào năng lực phòng thủ", đặc biệt khi Iran đã tìm được cách vượt qua cả những tổ hợp phòng không hiện đại nhất của Mỹ như Patriot và THAAD.
Theo kết quả phân tích ảnh vệ tinh do báo Washington Post công bố hôm 6/5, ít nhất 217 công trình và 11 thiết bị quân sự đã bị phá hủy hoặc hư hại tại 15 căn cứ đồn trú của Mỹ trong 6 tuần xung đột. Video đăng trên mạng xã hội cũng cho thấy lá chắn tên lửa Patriot do Mỹ sản xuất bất lực trước đòn tập kích từ Iran.
"Chúng ta cần dành nhiều nỗ lực để xác định điểm yếu trong khía cạnh phòng thủ, đảm bảo tiếp tục bất khả chiến bại trong các xung đột tương lai", Fu cho hay.
Trung Quốc đã nhanh chóng mở rộng năng lực tấn công trong những năm gần đây, bổ sung tên lửa được trang bị phương tiện lướt siêu vượt âm và tiêm kích tàng hình thế hệ 5. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI), Bắc Kinh dự kiến biên chế tổng cộng 1.000 chiến đấu cơ J-20 vào năm 2030.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn sở hữu oanh tạc cơ chiến lược H-6 và đang phát triển mẫu H-20 được so sánh với "sát thủ tàng hình" B-21 Mỹ.
"Dù vậy, năng lực phòng thủ của Trung Quốc lại là vấn đề khác", đài CNN của Mỹ nhận định.
Giới quan sát đánh giá Iran đã xuyên thủng được lưới phòng không đa tầng của Mỹ và đồng minh vùng Vịnh chỉ bằng những công nghệ tương đối thô sơ, trong đó có tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái (UAV) tự sát kiểu Shahed.
Ở hướng ngược lại, Mỹ đã không kích Iran bằng những vũ khí hiện đại như tiêm kích F-35 và oanh tạc cơ B-2, kết hợp với UAV giá rẻ Lucas được sao chép từ dòng Shahed. Quân đội Mỹ tuyên bố đã phá hủy hơn 13.000 mục tiêu của đối phương trong 6 tuần chiến sự.
"Thách thức với lưới phòng không Trung Quốc sẽ còn lớn hơn trong kịch bản xảy ra giao tranh với Mỹ và các đồng minh Đông Á. Chúng ta phải nghiên cứu sâu hơn để bảo vệ hiệu quả các địa điểm trọng yếu, sân bay và cảng biển trước những cuộc tấn công hiệp đồng", chuyên gia Fu cho hay.
Đài Loan thường được xem là nguyên nhân tiềm năng có thể dẫn đến xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc.
Trung Quốc luôn xem hòn đảo là một phần lãnh thổ không thể tách rời và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để thống nhất. Mỹ cam kết tôn trọng nguyên tắc "Một Trung Quốc", nhưng tiếp tục duy trì quan hệ với Đài Loan và cung cấp cho hòn đảo các loại khí tài hiện đại.
Trong trường hợp xảy ra giao tranh quanh Đài Loan, quân đội Mỹ và lực lượng phòng vệ hòn đảo có thể sử dụng UAV để tập kích tàu chiến và máy bay Trung Quốc, với ưu tiên cao nhất là những khí tài vận chuyển lực lượng đổ bộ.
Các quân nhân và khí tài đều quý giá hơn rất nhiều so với UAV tự sát. Đây là yếu tố đã được thể hiện trong chiến sự Trung Đông, khi Mỹ hiếm khi điều tàu đi qua eo biển Hormuz do lo ngại những cuộc tập kích theo chiến thuật bất đối xứng của Iran.
Trong cuộc điều trần trước Thượng viện Mỹ hồi tháng 4, đô đốc Samuel Paparo, chỉ huy Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thuộc quân đội Mỹ, khẳng định UAV tự sát đang khiến xung đột trở nên đắt đỏ hơn nhiều đối với phe tấn công.
Ông Paparo từng chủ trương phủ kín eo biển Đài Loan bằng hàng nghìn thiết bị không người lái, cả trên không, trên biển và dưới mặt nước, nhằm ngăn quân đội Trung Quốc tiếp cận hòn đảo nếu nổ ra chiến sự. "Đây là điều Bắc Kinh gần như chắc chắc đã chú ý đến", CNN nhận định.
Một kinh nghiệm khác mà quân đội các nước có thể rút ra từ xung đột Trung Đông là đối phương không ngừng học hỏi và đủ sức áp dụng những bài học đó theo cách không ngờ tới.
Hơn hai tháng sau khi xung đột Trung Đông bùng phát, nhiều nhà phân tích vẫn chưa hiểu lý do giới lãnh đạo Mỹ không chuẩn bị kế hoạch ứng phó kịch bản Iran đóng cửa eo biển Hormuz. Một số người cũng đặt dấu hỏi tại sao chính phủ Iran vẫn có thể tiếp tục hoạt động sau khi hứng thiệt hại nặng nề về nhiều mặt.
Dù vậy, một số chuyên gia đã chỉ rõ những bài học dành cho Trung Quốc.
"Thắng lợi chiến thuật không đồng nghĩa với kết quả chính trị. Áp lực quân sự đã không thể chuyển hóa thành thỏa thuận bền vững. Đối với Trung Quốc, điều đó củng cố một bài học cốt lõi: Thắng lợi trên chiến trường không tự động dẫn đến kết cục mong muốn", Craig Singleton, chuyên gia cấp cao tại Quỹ Phòng vệ Dân chủ (FDD), tổ chức tư vấn có trụ sở tại Mỹ, nêu quan điểm.
Trung Quốc cũng được đánh giá là thiếu kinh nghiệm chiến đấu thực tế. Quân đội nước này không phải đối mặt với cuộc chiến thật sự nào trong hàng chục năm, còn Mỹ đã tiến hành hàng loạt chiến dịch quy mô lớn như ở Iraq, Afghanistan và Iran.
"Đó mới là chiến tranh thật sự", Song Zongping, nhà phân tích quân sự tại Bắc Kinh, cho biết khi đề cập xung đột Trung Đông.
Trong trường hợp giao tranh bùng phát giữa Bắc Kinh và Washington trong một thập kỷ tới, lượng lớn binh sĩ Mỹ từng góp mặt trong xung đột Trung Đông hiện nay sẽ tiếp tục tham chiến, mang theo lượng kinh nghiệm mà mình đã tích lũy được. "Họ đã mất đồng đội và khí tài, song cũng đạt được những thắng lợi áp đảo và thực hiện hoạt động tác chiến chính xác ở mức độ cao", CNN cho hay.
Quân đội Trung Quốc có thể thích ứng nhanh đến mức nào nếu bị đặt trong chiến trường liên tục thay đổi như vậy vẫn còn là dấu hỏi, theo giới phân tích.
Drew Thompson, chuyên gia tại Trường nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, nêu ra ví dụ lịch sử là Chiến tranh Triều Tiên năm 1950-1953, lần gần nhất quân đội Mỹ và Trung Quốc giao tranh trực tiếp.
Trong cuộc chiến đó, lực lượng Trung Quốc sở hữu chiến đấu cơ MiG-15 do Liên Xô sản xuất, được đánh giá là ngang ngửa với mẫu F-86 chủ lực của Mỹ. Tuy nhiên, phi công Mỹ đạt thành tích chiến đấu vượt trội, chủ yếu do nhiều người áp dụng kinh nghiệm tích lũy từ Thế chiến II.
"Bài học ở đây là một phi công xuất sắc lái máy bay tầm thường sẽ luôn thắng một phi công tầm thường dùng máy bay xuất sắc", Thompson cho hay.
Một bài học khác là giao tranh giữa hai phe luôn có sự chênh lệch về năng lực, nhưng không phải lúc nào cũng kết thúc gọn ghẽ như khi Mỹ mở chiến dịch đột kích để bắt Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro hồi đầu năm.
"Iran tận dụng điểm nghẽn và đưa rủi ro vào chuỗi cung ứng toàn cầu cho thấy xung đột cục bộ có thể nhanh chóng bị quốc tế hóa như thế nào", Singleton cho hay, đề cập tác động toàn cầu khi eo biển Hormuz bị phong tỏa. "Đối với Bắc Kinh, đó là cảnh báo rằng mọi kịch bản về Đài Loan đều sẽ lập tức làm liên lụy đến nền thương mại thế giới, dòng chảy năng lượng và các bên thứ ba theo những cách khó có thể tưởng tượng được".
"Việt Nam quan tâm theo dõi tình hình và tin tưởng Cuba sẽ khắc phục, vượt qua những khó khăn, thách thức hiện tại", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay, khi nêu quan điểm của Việt Nam về tình hình Cuba.
Việt Nam khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống với nhân dân Cuba anh em và nhất quán ủng hộ các nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) yêu cầu gỡ bỏ bao vây cấm vận đơn phương chống Cuba.
Về việc Cuba - Mỹ đối thoại, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết Việt Nam hoan nghênh, ủng hộ hai nước tiến hành trao đổi để tìm giải pháp cho những khác biệt trong quan hệ song phương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
"Việt Nam mong muốn hai bên sớm đạt được tiếng nói chung để đi tới cải thiện và bình thường hóa quan hệ, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác, ổn định và phát triển của khu vực và trên thế giới", bà Hằng nói.
Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel ngày 13/3 tuyên bố giới chức nước này và Mỹ đã thảo luận để giải quyết các khác biệt theo hướng đối thoại. Ông cho biết các cuộc trao đổi, được "yếu tố quốc tế thúc đẩy", cũng nhằm tìm kiếm những lĩnh vực hợp tác để đảm bảo an ninh, hòa bình cho cả hai quốc gia và khu vực.
Chủ tịch Cuba ngày 25/3 thông báo cựu lãnh đạo Raul Castro đang tham gia đàm phán với Mỹ và các cuộc thảo luận này mới ở giai đoạn đầu.
Cơ quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ngày 22/5 thông báo rằng những người nước ngoài đang ở Mỹ và muốn xin tư cách thường trú nhân (thẻ xanh) sẽ cần phải rời Mỹ và trở về quê nhà nộp đơn, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt nhưng chưa nêu rõ.
Ngay lập tức, điện thoại của luật sư di trú Flavia Santos Lloyd liên tục đổ chuông, khi khách hàng của bà băn khoăn, lo lắng về hệ lụy của chính sách mới. Lloyd không chắc phải trả lời họ thế nào, nhưng bà biết thay đổi này sẽ làm chậm quá trình xử lý hồ sơ xin thẻ xanh.
"Điều này gây ra tâm lý e ngại. Chúng tôi có một số hồ sơ chuẩn bị xử lý, nhưng giờ tôi thấy rõ là nên chờ xem tình hình thế nào đã", bà nói.
Chính sách này có khả năng ảnh hưởng đến hàng trăm nghìn người nộp đơn xin thẻ xanh mỗi năm ở Mỹ, được coi là một phần trong bước chuyển hướng của chính quyền Tổng thống Donald Trump nhắm vào các con đường nhập cư hợp pháp, sau khi đã tập trung phần lớn cho việc xử lý người di cư bất hợp pháp tại Mỹ kể từ năm ngoái, theo Rebecca Santana, nhà bình luận AP.
Trong hơn nửa thế kỷ qua, người nước ngoài cư trú hợp pháp được phép nộp hồ sơ và hoàn tất toàn bộ quy trình xin thẻ xanh (thường trú nhân) ngay tại Mỹ. Nhóm này gồm người kết hôn với công dân Mỹ, người sở hữu visa lao động hoặc du học, người tị nạn, người xin tị nạn chính trị và nhiều diện khác.
Tuy nhiên, với thông báo mới của USCIS, điều này đã thay đổi. Những người này sẽ phải quay về quê nhà, nộp hồ sơ tại văn phòng lãnh sự Mỹ ở địa phương và chờ xét duyệt. Họ sẽ không được quyền kháng cáo hay khiếu nại nếu hồ sơ bị quan chức lãnh sự bác bỏ.
USCIS cũng ban hành một bản ghi nhớ chi tiết hơn nhằm hướng dẫn nhân viên xét duyệt hồ sơ. Các chuyên gia về di trú cho hay bản ghi nhớ này có nhiều thông tin phức tạp hơn, gây mơ hồ về phạm vi áp dụng của quy định mới.
Bộ An ninh Nội địa ngày 27/5 cho hay sự thay đổi này sẽ không ngăn cản bất kỳ ai có đủ điều kiện "một cách hợp pháp và đúng đắn" nhận được thẻ xanh, dù nó sẽ khiến một số người phải nộp đơn bên ngoài nước Mỹ. Bộ này nói chính sách sẽ "không có tác động đáng kể nào đối với những người nộp đơn có trình độ cao và các chuyên gia có tay nghề cao luôn tuân thủ luật pháp".
Công ty luật di trú Boundless Immigration trong bài đăng diễn giải về chính sách mới trên blog riêng cho biết các nhân viên xét duyệt đang được hướng dẫn "áp dụng các tiêu chuẩn tự quyết một cách nghiêm ngặt hơn". Tuy nhiên, họ cho rằng quy định này không hoàn toàn chấm dứt quy trình chuyển đổi tình trạng cư trú đối với "những người nộp đơn đủ điều kiện", tùy thuộc vào loại thị thực họ sở hữu.
Shev Dalal-Dheini, giám đốc cấp cao về quan hệ chính phủ tại Hiệp hội Luật sư Di trú Mỹ, cho biết chính sách mới có thể nhắm vào những người ở quá hạn thị thực, như cha/mẹ của công dân Mỹ ở lại sau khi thị thực hết hạn, nhân viên một công ty được thuyên chuyển đến Mỹ, hoặc những người đang ở nước này bằng thị thực dành cho giới tăng lữ và chức sắc tôn giáo.
"Có vẻ như đối tượng mà họ nhắm tới là những người đang ở Mỹ quá thời hạn lưu trú cho phép", bà nói.
Kevin Miner, cộng sự của công ty luật di trú Fragomen, cho biết ông kỳ vọng những người sử dụng thị thực dựa trên việc làm, như H-1B, sẽ được miễn trừ. Đây là nhóm thị thực được gọi là "dual-intent" (hai mục đích), cho phép người mang visa không định cư tại Mỹ nộp đơn xin thẻ xanh. Bản ghi nhớ cũng nêu rõ các loại visa dual-intent có thể nằm trong diện ngoại lệ.
"Đó có lẽ là các trường hợp sẽ tiếp tục được tiến hành quy trình xét duyệt bình thường và chúng ta sẽ không thấy tác động đáng kể nào", Miner nhận định.
Matthew Soerens, thành viên của tổ chức giúp tái định cư người tị nạn tại Mỹ mang tên Cứu trợ Thế giới, cho biết từ ngữ trong bản ghi nhớ đề cập đến các trường hợp người nhập cư phải chuyển đổi tình trạng cư trú của họ tại Mỹ. Điều đó khiến Soerens hy vọng chính sách mới sẽ không áp dụng cho người tị nạn.
Soerens nói thêm người tị nạn, vốn là những người phải chạy trốn bạo lực ở quê hương, đã đáp ứng một bộ tiêu chí cụ thể để được nhận vào Mỹ sau quá trình thẩm định lâu dài. Họ bắt buộc phải thực hiện quy trình xin thẻ xanh một năm sau khi đến Mỹ và không thể trở về nhà vì những rủi ro có thể đối mặt ở đó.
Tuy nhiên, những người vào Mỹ theo diện nhập cảnh tạm thời với lý do nhân đạo cũng có thể bị ảnh hưởng, theo Soerens. Nhiều người trong số đó có thể đã có gia đình ở Mỹ hoặc họ đã kết hôn với công dân Mỹ, cho phép họ có đủ điều kiện để nộp đơn xin thẻ xanh. Tuy nhiên, quy trình xét duyệt giờ đây có thể trở nên phức tạp.
Dalal-Dheini cho hay trong bối cảnh hiện tại, khó có thể đưa ra lời khuyên pháp lý chung cho mọi người. "Nó sẽ là một vấn đề rất cụ thể và phải xét theo từng trường hợp", bà nói.
Hiệp hội Luật sư Di trú Mỹ cho biết vài người tham gia phỏng vấn thẻ xanh theo hướng dẫn mới vào ngày 26/5 đã phải đối mặt với những câu hỏi chưa từng gặp trước đây.
Một người nộp đơn xin thẻ xanh theo diện kết hôn với công dân Mỹ đã bị hỏi tại sao họ lại nộp đơn xin chuyển đổi tình trạng tại Mỹ thay vì quay trở lại quê nhà và nộp đơn tại đại sứ quán ở đó. Họ cũng được hỏi liệu có bất kỳ yếu tố nào cản trở họ quay về quê nhà nộp đơn hay không, và họ có còn gia đình ở đó không.
Một người khác được yêu cầu nộp mẫu đơn chứng minh lý do họ nên được phép nộp đơn tại Mỹ và được thông báo rằng họ phải chứng minh sẽ không trở thành gánh nặng tài chính hay "gánh nặng xã hội" cho nước Mỹ. Các bằng chứng này có thể bao gồm tờ khai thuế năm 2025, thư từ người sử dụng lao động xác nhận mức lương của họ và bảng sao kê ngân hàng.
Luật sư Lisa Seifert ngày 26/5 tháp tùng một trong những khách hàng của mình đến tòa nhà của Bộ An ninh Nội địa Mỹ tại Tukwila. Đây là nơi mọi người đến để giải quyết các thủ tục nhập cư với chính phủ liên bang, bao gồm cả những người muốn xin thẻ xanh khi đang ở Mỹ.
"Ai nấy đều lo lắng hơn bình thường. Ai cũng muốn biết liệu họ có phải đối mặt với những câu hỏi xét duyệt mới này hay không", Seifert kể.
Theo Washington Post, Mỹ cấp hơn một triệu thẻ xanh mỗi năm và tính đến thời điểm hiện tại, hơn một nửa số người nộp đơn đã có mặt sẵn ở Mỹ.
Luật sư di trú Karol Brown cho hay từ đầu tuần này, nhiều khách hàng đã liên hệ với bà để hỏi liệu thay đổi chính sách sẽ ảnh hưởng đến họ như thế nào, và họ có thể ở lại hay không.
"Sự hoang mang và bất an là có thật. Quy định mới đang tác động đến cuộc sống của mọi người, khả năng được ở bên người thân và làm công việc mơ ước của họ, cũng như quyền của các nhà tuyển dụng để đảm bảo có nhân sự cho những vị trí quan trọng tại đây", Brown nói.
Bà Lloyd cho hay "tôi không muốn mọi người hoảng loạn. Lời khuyên của tôi dành cho họ lúc này là hãy kiên nhẫn chờ xem thế nào".