Sáng nay (20.5), Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tổ chức lễ khởi công xây dựng 2 tòa nhà thuộc Trung tâm Phát triển công nghệ cao của trường tại Khu Công nghệ cao TP.HCM.
Đây là dự án trọng điểm của trường nằm trong chiến lược phát triển hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ trong giai đoạn mới theo định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, viện nghiên cứu trong – ngoài nước.
Theo tiến sĩ Nguyễn Mai Lan, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, công trình xây dựng với 2 khối chức năng chính: Tòa nhà Global Hub (11 tầng) gồm các khối Viện Đào tạo các chương trình quốc tế và Viện Nghiên cứu, giảng dạy ngoại ngữ; tòa nhà Innovation Hub (12 tầng) gồm các khối Viện Nghiên cứu tin học, Viện Nghiên cứu đào tạo theo yêu cầu xã hội, Viện Xúc tiến quan hệ doanh nghiệp và hỗ trợ sinh viên.
Toàn khu được xây dựng trên diện tích hơn 47.000 m² với tổng diện tích sàn gần 94.681m². Riêng 2 khối nhà khởi công có tổng diện tích sàn hơn 25.482 m², được đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật với không gian học thuật, nghiên cứu, thực hành ứng dụng, đào tạo quốc tế, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hợp tác doanh nghiệp. Tổng mức đầu tư của dự án này là hơn 300 tỉ đồng và được triển khai đến năm 2027.
Tiến sĩ Mai Lan chia sẻ: “Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục ĐH trên thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và thị trường lao động. Các trường ĐH không chỉ thực hiện chức năng đào tạo và nghiên cứu mà còn đóng vai trò là trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế”.
Vì thế, theo bà Mai Lan, việc đầu tư xây dựng thêm 2 tòa nhà nhằm tiếp tục hướng đến mục tiêu tập trung các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật công nghệ cao, giải mã công nghệ, hoàn thiện các công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm trong các lĩnh vực công nghệ cao đang ưu tiên phát triển tại Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên
Vì vậy, trong phòng thi, làm bài thi thế nào, cần lưu ý điều gì để không bị mất điểm là điều đang được thí sinh (TS) quan tâm trước khi bước vào kỳ thi lớp 10.
Với môn ngữ văn, thạc sĩ Nguyễn Phước Bảo Khôi, giảng viên Khoa ngữ văn Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM, lưu ý đọc kỹ đề thi là bước tiên quyết để TS định hình toàn bộ cấu trúc và chiến thuật làm bài lớp 10.
Theo thầy Khôi, các em cần đọc kỹ đề để phân bổ thời gian hợp lý cho từng phần dựa trên cấu trúc điểm số, đọc kỹ để nhận diện câu hỏi thuộc mức độ nào (biết, hiểu, vận dụng) để áp dụng phương án trả lời tương ứng và căn cứ vào mức điểm mà tránh trả lời sót ý. Quan trọng nhất, đề thi tuyển sinh lớp 10 của TP.HCM luôn có những "lối thoát hiểm" (nội dung ngữ liệu, hệ thống câu hỏi đọc hiểu có khả năng hỗ trợ đắc lực về mặt ý tưởng cho phần viết) nên cần đọc đề tinh ý để tận dụng những dữ kiện "chìa khóa" ấy.
Khi làm bài, cần lưu ý những phần cần lấy trọn điểm trong đề thi. Với phần đọc hiểu văn bản văn học, câu hỏi biết và vận dụng (tương ứng với 1,5 điểm) là những phần dễ lấy điểm.
Với phần viết đoạn văn, TS có thể đã có được 0,75 điểm nếu viết đủ dung lượng yêu cầu (200 chữ), đúng hình thức (nên có 3 phần: câu mở đoạn, phần thân đoạn, câu kết đoạn). Câu mở đoạn nêu đủ thông tin cần thiết và yêu cầu đề, triển khai ý gắn với trích dẫn bằng chứng.
Tương tự, với phần viết bài văn nghị luận xã hội, nhiều khả năng TS đã được 1,25 - 1,5 điểm nếu đáp ứng yêu cầu về dung lượng (khoảng 600 chữ), đúng hình thức (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn). Mở bài nêu được yêu cầu đề, triển khai các luận điểm trung tâm gắn với bằng chứng sát hợp, cụ thể.
Thạc sĩ Bảo Khôi lưu ý TS nắm chắc kiến thức liên quan, những "từ khóa" đặc trưng và cách thức trình bày/trả lời đúng cách đối với những câu hỏi đọc hiểu ở mức điểm cao.
Theo thầy Khôi, đa số những câu hỏi đảm nhận mục tiêu phân hóa của đề thi thường nằm ở mức hiểu và vận dụng. Để trả lời tốt những câu hỏi này, các em nên nắm kỹ tri thức liên quan đến từng loại văn bản (văn bản văn học sẽ là chi tiết, mạch cảm xúc, các biện pháp tu từ… Văn bản nghị luận sẽ là luận đề, luận điểm, lý lẽ, bằng chứng… Văn bản thông tin sẽ là cách trình bày thông tin, phương tiện phi ngôn ngữ…).
"Quan trọng nhất, các em còn cần lưu ý đến cách thức trình bày/việc trả lời đúng cách với từng loại câu hỏi để tránh sót ý hoặc diễn đạt dông dài mà không đạt hiệu quả cao", thạc sĩ Bảo Khôi nhấn mạnh.
Với môn toán, giáo viên Đặng Hữu Trí, tổ trưởng tổ toán Trường THCS Nguyễn Du (P.Bến Thành, TP.HCM), cho rằng đề thi giữ ổn định như năm trước gồm 7 câu với các dạng toán quen thuộc, trong đó 2 câu đầu là mức độ cơ bản; từ câu 3 đến câu 6 là toán thực tế và câu 7 là hình học phẳng. Nhìn chung đề thi năm nay "dễ thở" hơn so với những năm trước song đòi hỏi kỹ năng làm bài phải vững chắc, có sự tư duy, tránh học thuộc, học tủ, tăng cường tính thực tiễn. Vì thế, nếu TS chủ quan, có thể sẽ sai ngay từ câu 2b - là câu kiến thức cơ bản.
Trong đó, 4 bài toán thực tế có mức độ phân hóa rõ ràng ở từng câu, câu 6 là phân loại rõ ràng nhất; đồng thời ở từng câu đều chia nhỏ mức điểm, tạo điều kiện cho TS dễ dàng lấy điểm hơn.
Theo thầy Trí, một điểm cần lưu ý năm nay là mức độ vận dụng trong đề minh họa có giảm so với năm trước (từ 40% xuống còn 30%). Việc giảm mức độ vận dụng của đề thi được xem là phù hợp với bối cảnh kỳ thi đầu tiên sau sáp nhập, song vẫn đòi hỏi TS phải chắc kiến thức, kỹ năng làm bài tốt và phải có mức độ tư duy suy luận hợp lý thì mới có thể đạt được điểm cao.
Với đề thi môn tiếng Anh, theo thạc sĩ Nguyễn Hữu Thanh, Hiệu trưởng Trường THCS Bình Trưng (P.Bình Trưng), thành viên Hội đồng bộ môn tiếng Anh (cụm 10) Sở GD-ĐT TP.HCM, đề thi hiện đại loại bỏ các câu hỏi đánh đố mẹo mực nhưng đòi hỏi TS hiểu bản chất. Khi làm bài, hãy tự đặt câu hỏi: "Tại sao dùng cấu trúc này trong hoàn cảnh này?". Hiểu ngữ cảnh là chìa khóa duy nhất để đạt điểm tối đa phần vận dụng.
Để bứt phá dạng bài mới yêu cầu xác định từ dựa trên định nghĩa, TS hãy giải thích nghĩa của từ bằng tiếng Anh, nắm vững hệ thống từ đồng nghĩa (synonyms), trái nghĩa (antonyms) và gia đình từ (word forms). Đây là nền tảng cốt lõi để xử lý các câu hỏi đòi hỏi vốn từ sâu.
Thầy Thanh nhấn mạnh: "Thực tế đáng tiếc là nhiều TS mất điểm không phải vì thiếu kiến thức mà do "bệnh ẩu" . Hãy đọc thật kỹ yêu cầu đề bài. Bài làm phải trình bày sạch đẹp, nét chữ rõ ràng, tuyệt đối không viết tắt, viết mờ, viết đè, chồng lên nhau hoặc gạch xóa cẩu thả".
Đặc biệt, TS khi làm bài lưu ý các quy tắc chính tả tối thiểu như viết hoa tên riêng, đầu câu và sử dụng dấu câu chính xác. "Trong kỳ thi tuyển sinh, chỉ với 0,25 điểm giữ được từ sự cẩn trọng cũng có thể quyết định kết quả như ý hay không", thầy Thanh lưu ý.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đợt tập dượt đăng ký xét tuyển đã kết thúc, thí sinh bước vào giai đoạn then chốt của mùa xét tuyển đại học 2026. Theo các chuyên gia, việc xây dựng kế hoạch đăng ký nguyện vọng và chọn đúng ngành học phù hợp quan trọng không kém kết quả thi.
Sau khi hệ thống kết thúc đợt đăng ký xét tuyển thử và xóa toàn bộ dữ liệu, các chuyên gia tuyển sinh khuyến nghị thí sinh không nên nóng vội mà cần tập trung rà soát thông tin, tìm hiểu ngành học và xây dựng chiến lược nguyện vọng phù hợp trước khi bước vào đợt đăng ký chính thức. Thời điểm này thí sinh cần ưu tiên ba việc: kiểm tra dữ liệu cá nhân, hoàn thiện các minh chứng phục vụ xét tuyển và chuẩn bị phương án sắp xếp nguyện vọng.
TS Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên viên chính Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), lưu ý thí sinh cần kiểm tra kỹ các thông tin trên hệ thống tuyển sinh như họ tên, ngày sinh, khu vực ưu tiên, đối tượng ưu tiên, kết quả học tập và các dữ liệu liên quan đến xét tuyển. Thí sinh sử dụng tài khoản đã được cấp để xử lý thông tin (nhập, sửa, xem) thông tin của thí sinh trên hệ thống. Những sai sót tưởng chừng nhỏ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của thí sinh.
"Đây cũng là thời điểm thí sinh cần hoàn thiện các minh chứng liên quan đến phương thức xét tuyển đã đăng ký. Với những em sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, điểm thi đánh giá năng lực hoặc các chứng nhận khác, cần kiểm tra dữ liệu đã được cập nhật đầy đủ hay chưa. Chỉ cần dành thời gian rà soát thông tin từ bây giờ, thí sinh có thể tránh được nhiều rủi ro khi bước vào giai đoạn đăng ký nguyện vọng chính thức", ông Hùng nói.
Đối với diện xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển, các chuyên gia lưu ý thí sinh cần hoàn tất hồ sơ theo đúng thời hạn của từng trường, đồng thời vẫn nên chuẩn bị phương án đăng ký nguyện vọng trên hệ thống chung để chủ động trong mọi tình huống.
Về nguyên tắc xét tuyển, ông Hùng cho biết việc xét tuyển được thực hiện bình đẳng giữa các phương thức và tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự nguyện vọng đăng ký. Trường hợp nhiều thí sinh bằng điểm ở cuối danh sách, các cơ sở đào tạo sẽ áp dụng tiêu chí phụ; nếu vẫn bằng nhau sẽ ưu tiên thí sinh có điểm cộng thấp hơn, sau đó mới xét đến thứ tự nguyện vọng.
TS Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ TP.HCM, cho rằng sau khi hệ thống đăng ký thử kết thúc và xóa toàn bộ dữ liệu, thí sinh cần tận dụng khoảng thời gian này để xây dựng kế hoạch xét tuyển phù hợp.
Theo ông, trước hết thí sinh cần xác định rõ ngành học, trường học yêu thích nhất; đồng thời nghiên cứu kỹ điểm chuẩn các năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh và phương thức xét tuyển của từng cơ sở đào tạo.
"Khi sắp xếp nguyện vọng, thí sinh nên đặt ngành, trường yêu thích nhất ở vị trí cao nhất. Đừng xếp nguyện vọng theo tâm lý an toàn bởi hệ thống chỉ công nhận nguyện vọng cao nhất đủ điều kiện trúng tuyển", ông Quốc Anh nói.
Ông khuyến nghị thí sinh chia nguyện vọng thành ba nhóm gồm "mơ ước", "phù hợp" và "an toàn" để cân bằng giữa cơ hội vào ngành học yêu thích và khả năng trúng tuyển.
Cùng quan điểm, ThS Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng tuyển sinh và công tác sinh viên Trường đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP.HCM), cho rằng thí sinh không nên đưa một ngành ít yêu thích lên trên chỉ vì cho rằng cơ hội trúng tuyển cao hơn.
Hệ thống xét tuyển hiện nay xử lý theo thứ tự ưu tiên nguyện vọng của thí sinh; nếu đã trúng tuyển ở nguyện vọng cao hơn thì các nguyện vọng sau sẽ không còn được xét tiếp. "Nguyện vọng 1 phải là ngành học mà nếu trúng tuyển thí sinh thực sự muốn theo học", ông Tiến lưu ý.
Theo ông Tiến, bên cạnh việc cân nhắc khả năng trúng tuyển, thí sinh cần lựa chọn ngành học dựa trên năng lực, sở thích, điều kiện gia đình và xu hướng nghề nghiệp thay vì chỉ chạy theo thương hiệu trường. Một ngành học phù hợp có thể mang lại kết quả tốt hơn so với việc theo học một ngành không phù hợp chỉ vì trường nổi tiếng.
ThS Phùng Quán, chuyên gia tuyển sinh Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM), khuyên thí sinh không nên xem điểm chuẩn các năm trước là căn cứ duy nhất để chọn ngành. "Điểm chuẩn chỉ là kết quả của một mùa tuyển sinh. Khi nhiều trường áp dụng xét tuyển tổng hợp và thay đổi công thức tính điểm, việc đối sánh với các năm trước không còn hoàn toàn chính xác", ông Quán nói.
Bên cạnh đó, thí sinh cũng cần phân biệt rõ giữa tên ngành và nội dung đào tạo thực tế. Nhiều ngành có tên gọi tương tự nhau nhưng chương trình học, định hướng nghề nghiệp và chuẩn đầu ra rất khác biệt giữa các trường. Thay vì chỉ hỏi "ngành nào dễ đậu", thí sinh nên đặt câu hỏi "ngành nào phù hợp với mình nhất".
Việc chọn đúng ngành học quan trọng hơn việc chọn đúng trường học. Một quyết định phù hợp ngay từ đầu có thể giúp người học tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh tình trạng chuyển ngành hoặc bỏ học giữa chừng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí

