Sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực ngành điều dưỡng đặt ra yêu cầu cấp bách về việc thu hút tuyển sinh và đào tạo người học trong các trường ĐH và CĐ.
Chia sẻ về vấn đề này, tiến sĩ Vương Ánh Dương, Phó cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết VN hiện chỉ có khoảng 14-15 điều dưỡng/1 vạn dân trong khi Nghị quyết 20 của Ban Chấp hành T.Ư năm 2017 đặt ra mục tiêu đến năm 2025 phải có 25 điều dưỡng/1 vạn dân và năm 2030 là 33 điều dưỡng/1 vạn dân.
“Tỷ lệ này đang thuộc nhóm thấp của ASEAN. Thái Lan có khoảng 20-25 điều dưỡng/1 vạn dân, Malaysia khoảng 30-35, Singapore trên 70; các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD trung bình từ 80-120. Chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt điều dưỡng cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng chuyên môn so với yêu cầu thực tế và so với mặt bằng chung của khu vực cũng như thế giới”, tiến sĩ Dương nhận định.
Theo khảo sát của Cục Quản lý khám chữa bệnh, trong cùng một ca trực, trung bình một điều dưỡng tại khoa hồi sức tích cực phải chăm sóc từ 3-4 bệnh nhân.
“Khi số lượng điều dưỡng không đủ, người bệnh không được theo dõi và chăm sóc toàn diện, liên tục. Tại nhiều khoa lâm sàng, đặc biệt là hồi sức tích cực, một tỷ lệ lớn bệnh viện (BV) vẫn phải huy động người nhà người bệnh tham gia hỗ trợ chăm sóc thường ngày”, ông Dương cho hay.
Hiện nay, VN có trên 100 cơ sở tham gia đào tạo điều dưỡng, tuy nhiên không phải trường nào cũng tuyển được đủ chỉ tiêu hằng năm. Năm 2025, hàng loạt trường phải tuyển bổ sung ngành điều dưỡng như Trường ĐH Y Dược (ĐH Huế, 65 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Thái Bình (86 chỉ tiêu), Trường ĐH Y Dược Hải Phòng (60 chỉ tiêu)… Trường ĐH Tây Nguyên tuyển 34 chỉ tiêu ngành điều dưỡng ở phương thức xét điểm thi tốt nghiệp thì không có thí sinh (TS) nào nhập học, tổng chỉ tiêu của các phương thức là 48 thì có khoảng 41 TS nhập học.
Các cơ sở đào tạo như ĐH Phenikaa, ĐH Duy Tân, các trường ĐH Văn Lang, Quốc tế Hồng Bàng, Nguyễn Tất Thành, Tân Tạo… đều phải tuyển bổ sung ngành này.
Ở bậc CĐ, số lượng người học ngành điều dưỡng cũng giảm nhiều so với những năm trước. Tiến sĩ Lê Lâm, Hiệu trưởng Trường CĐ Đại Việt Sài Gòn, cho biết: “Cách đây khoảng chục năm, TS đăng ký ngành này rất đông. Thời điểm hiện tại, nhu cầu nhân lực cần nhiều do hệ thống BV tư phát triển, BV công nâng cấp mở rộng, nhưng tại trường, người học điều dưỡng giảm từ 50-70%”.
Trong một nghiên cứu của giảng viên Phạm Dương Thanh Tâm và Nguyễn Thị Thảo Ngọc, Khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật y học Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, hầu hết sinh viên các ngành điều dưỡng, dược và y khoa được phỏng vấn đều cho rằng nghề điều dưỡng vất vả và áp lực nhất trong hệ thống y tế.
“Định kiến về ngành điều dưỡng còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố gia đình, truyền thông và môi trường. Sinh viên cả 3 ngành trên đều nhận định ngành điều dưỡng thiếu vai trò lãnh đạo và cơ hội thăng tiến trong bộ máy quản lý. Hình ảnh người điều dưỡng bị lu mờ, ít được ghi nhận những đóng góp. Các gia đình có xu hướng thiên vị các ngành y đa khoa, dược hơn là điều dưỡng”, nhóm nghiên cứu chia sẻ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Uyên, Phó khoa Điều dưỡng – Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, nêu sự thiếu hụt điều dưỡng tại VN đến từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chế độ đãi ngộ và mức lương chưa tương xứng khi lương khởi điểm của một điều dưỡng mới ra trường tại các BV công lập hiện nay còn thấp.
“Thứ hai là áp lực công việc. Vì thiếu nguồn điều dưỡng nên một số điều dưỡng phải chăm sóc số lượng bệnh nhân nhiều hơn so với tiêu chuẩn khuyến cáo. Bên cạnh đó là áp lực từ người nhà bệnh nhân cùng với trực đêm dẫn đến dễ kiệt sức. Vị thế xã hội chưa được nhìn nhận đúng khi trong tâm thức của nhiều người dân, bác sĩ là người ra y lệnh, còn điều dưỡng chỉ là người làm theo”, tiến sĩ Uyên nhận định.
Tuy nhiên, theo tiến sĩ Uyên, hiện nay có 2 nhóm TS nhận thức theo 2 hướng. Một là e ngại vì vẫn còn định kiến, coi điều dưỡng là công việc phục vụ, vất vả, trực đêm hôm nhưng thu nhập không tương xứng. Do đó, tỷ lệ TS chọn ngành điều dưỡng có xu hướng sụt giảm. Nhiều trường gặp khó khăn trong việc tuyển sinh đủ chỉ tiêu.
“Trong khi đó, nhóm còn lại vẫn yêu ngành do được xã hội trọng dụng và dễ kiếm việc làm do cầu cao, đặc biệt cơ hội chuyển dịch lao động quốc tế. Các em có thể tới các thị trường lớn như Đức, Nhật Bản, Canada, Úc, Đài Loan với nhiều chương trình học bổng, tuyển dụng với mức lương rất cao và cơ hội định cư rõ ràng”, tiến sĩ Uyên thông tin.
Tiến sĩ Lưu Nguyễn Đức Hạnh, Phó khoa Điều dưỡng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, cũng cho hay bên cạnh nhóm TS e ngại thì vẫn có nhiều bạn trẻ nhận thấy điều dưỡng là công việc có tính ổn định cao, nhu cầu xã hội lớn và vị thế của người điều dưỡng trong hệ thống y tế hiện đại đã được nâng tầm, không còn đơn thuần là người hỗ trợ mà là một cộng sự quan trọng trong quá trình chăm sóc người bệnh.
Để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực và giữ chân sinh viên với nghề, tiến sĩ Đức Hạnh nêu: “Chương trình học của các trường phải bám sát thực tế, chú trọng kỹ năng lâm sàng. Giảng viên giàu kinh nghiệm và tâm huyết để truyền lửa nghề cho sinh viên. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị đào tạo và cơ sở thực tập. Khi sinh viên nhìn thấy cơ hội việc làm rộng mở, thu nhập ổn định và môi trường làm việc chuyên nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp, các em sẽ tự tin theo đuổi nghề”.
Trong khi đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Anh, Phó khoa Điều dưỡng – Hộ sinh Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng, cho rằng Bộ Y tế và các cơ quan ban ngành cần ban hành chính sách tăng lương cơ bản, tăng phụ cấp ưu đãi nghề, đặc biệt là phụ cấp trực đêm, phụ cấp độc hại riêng cho khối điều dưỡng để họ yên tâm sống được với nghề.
“Phải đẩy mạnh truyền thông để xã hội hiểu rằng điều dưỡng là một ngành khoa học chăm sóc độc lập, phối hợp bình đẳng với bác sĩ chứ không phải nghề phụ thuộc. Môi trường làm việc cũng nên được cải thiện, giảm tải thủ tục hành chính bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin để họ có nhiều thời gian tập trung vào chuyên môn chăm sóc người bệnh, giảm áp lực tâm lý”, tiến sĩ Ánh chia sẻ thêm.
Theo tiến sĩ Ánh, nhà nước cũng có thể cân nhắc áp dụng chính sách miễn giảm học phí hoặc cấp học bổng cho sinh viên theo học ngành điều dưỡng nhằm thu hút học sinh nộp hồ sơ.
Nam sinh lớp 12A1, trường THPT Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, đạt điểm 10 ở môn Toán và Lý, tiếng Anh được 9,75, là một trong hai thủ khoa khối A01, theo dữ liệu điểm thi tốt nghiệp THPT. Minh kể đón nhận kết quả khá bình tĩnh, bởi giữ được trạng thái tâm lý ổn định khi thi và ước lượng được kết quả.
"Em tiếc vì một câu sai tiếng Anh cơ bản về chia động từ, hai môn còn lại thì em tự tin", Minh chia sẻ.
Tân thủ khoa trước đó từng đạt 88,25/100 điểm - top 3 trong khoảng 20.000 thí sinh thi đánh giá tư duy (TSA) đợt 2 của Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong tổng cộng hơn 60.000 lượt thi năm nay, chỉ 175 thí sinh đạt trên 80 điểm.
Đánh giá về đề thi tốt nghiệp, Minh thấy đề Vật lý rất nặng về lý thuyết nhưng vẫn yêu cầu thí sinh thông hiểu bản chất. Bí quyết học tốt môn này của Minh là gắn kiến thức trong sách vở với các hiện tượng trong thực tế.
Với môn Toán, nam sinh đánh giá phần tư duy về hình học không gian là "khó nhằn" hơn cả.
Sở hữu chứng chỉ IELTS 8.0, nhưng Minh thừa nhận đây là môn học khiến em thấy khó lấy điểm 10 nhất. Nguyên nhân là do nền tảng tiếng Anh của em có được nhờ xem video giải trí, chơi game, nghe phụ đề phim, thay vì học bài bản và gò ép theo cấu trúc ngữ pháp.
"Vì tiếp xúc nhiều nên em có thể nhìn vào và làm theo phản xạ rất nhanh, nhưng khi bị hỏi sâu về quy tắc ngữ pháp thì em lại không quá tự tin", Minh lý giải.
Sở thích chơi game trên máy tính được nam sinh duy trì thường xuyên như một cách giải trí. Nhưng đến giai đoạn nước rút, em gác lại một bên để tập trung học.
Quang Minh nói em ít đi học thêm, thời gian còn lại chủ yếu tự học và "cày" đề do thầy cô giao. Số lượng đề em làm ở mỗi môn "vô cùng đồ sộ".
"Chồng đề thi em làm trong quá trình ôn tập không thể bê được bằng hai tay, cao gần bằng giá sách", Minh kể.
Khi làm bài thi, chiến thuật của tân thủ khoa là làm theo nhiều lượt. Lượt một, em giải quyết đa số câu hỏi, câu nào vướng mắc sẽ lập tức bỏ qua để làm tiếp vào lượt hai, lượt ba. Sau khi hoàn thành, em kiểm tra lại toàn bộ bài làm để tránh sai sót.
Cô Nguyễn Thị Thu Hòa, giáo viên chủ nhiệm kiêm môn Vật lý của Minh, cho biết môn học thế mạnh và nổi trội nhất của nam sinh là Toán. Trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, nam sinh cũng dễ dàng đạt điểm 10 môn này.
Trong ba năm học THPT, Quang Minh không gò bó bản thân mà liên tục thử sức ở nhiều môn học. Lớp 10, em đạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Tin học. Lớp 11, em tiếp tục chinh phục môn vật lý với giải nhì. Đến năm lớp 12, Minh lại mang về thêm giải ba môn Toán.
"Minh có khả năng tự học rất tốt, thông minh và tiếp thu nhanh. Em chịu khó chú ý nghe giảng, ham học hỏi qua sách báo, mạng, cũng như từ thầy cô và bạn bè", cô nói.
Nam sinh cho biết dự định đăng ký xét tuyển vào ngành Khoa học Máy tính (IT1) của Đại học Bách khoa Hà Nội.
"Em đam mê môn Tin học từ lâu rồi, năm lớp 4 em đã bắt đầu đi thi viết code", Minh chia sẻ.
10 chuyên đề ôn tập môn địa lý thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Hoàng Đạt, Trường quốc tế Á Châu (Asian School). hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=UYuNC3Qh_HE
Trong chuyên đề 4, Cơ cấu kinh tế - địa lý nông nghiệp, giáo viên Hoàng Đạt hệ thống nội dung kiến thức như: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Vấn đề phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.
Trước đó, vào ngày 27.4, Báo Thanh Niên đã phát sóng chuyên đề 3 – Địa lý dân cư Việt Nam- giáo viên hệ thống kiến thức về dân số, lao động việc làm và thực trạng đô thị hóa.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 27.4 đến 2.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Ngày 10-4, UBND xã Hòa Vang (TP Đà Nẵng) công bố kết quả thực hiện chính sách cung cấp sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Đây là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai chính sách này.
Ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang, cho biết ngay từ thời điểm thành lập theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (1-7-2025), Hòa Vang đã xác định là địa bàn còn nhiều khó khăn, đời sống người dân chưa cao. Từ thực tế đó, xã chủ động xây dựng mô hình "tủ sách giáo khoa dùng chung", huy động nguồn lực xã hội hóa để cung cấp sách giáo khoa (SGK) miễn phí, giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh và chống lãng phí.
Giai đoạn đầu Hòa Vang huy động 551 triệu đồng, mua hơn 6.000 quyển SGK cho hơn 1.200 học sinh tại tám thôn vùng đồi núi xã Hòa Phú (cũ). Đối tượng được ưu tiên là học sinh diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; đáp ứng khoảng 31% nhu cầu năm học 2025-2026.
Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị được ban hành, đặt mục tiêu cung cấp SGK miễn phí từ năm học 2029-2030. Cùng với đó quyết định 3588 của Bộ GD-ĐT quy định bộ SGK thống nhất toàn quốc - cũng chính là bộ "Kết nối tri thức" mà Hòa Vang đang triển khai - đã tạo cơ sở pháp lý để địa phương mở rộng mô hình.
Xã tiếp tục huy động thêm gần 1,5 tỉ đồng, mua 74.676 quyển SGK. Đến nay tổng số sách tại thư viện các trường đạt 91.060 quyển, đủ để miễn phí cho gần 7.000 học sinh từ tiểu học đến THCS, THPT tại sáu cơ sở giáo dục, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT như Trường THPT Ông Ích Khiêm và Trung tâm Giáo dục thường xuyên số 3 - cơ sở 2. Với nguồn lực này, Hòa Vang dự kiến đáp ứng 100% nhu cầu SGK từ năm học 2026-2027.
Theo ông Nguyện, điểm cốt lõi trong cách làm là bảo đảm tính bao quát và thống nhất. Tất cả học sinh đang học tại các cơ sở giáo dục tại xã đều được mượn sách, không phân biệt thuộc quản lý của địa phương hay của ngành giáo dục.
Bài toán lớn nhất của mô hình không nằm ở khâu triển khai ban đầu mà ở khả năng duy trì lâu dài. Theo lãnh đạo xã Hòa Vang, nếu được quản lý và sử dụng tốt, mỗi cuốn SGK có thể sử dụng trong khoảng 7-10 năm. Như vậy mỗi năm chỉ cần chi một khoản kinh phí nhỏ, không đến 10%, để thay thế số sách hư hỏng, hao hụt.
"Đây là mức chi rất tiết kiệm. Nếu Nhà nước và địa phương không làm thì chi phí đó sẽ do từng gia đình gánh hằng năm, cộng lại là nguồn lực rất lớn của xã hội. Khi chính quyền đứng ra tổ chức không chỉ giúp người dân mà còn góp phần chống lãng phí", ông Nguyện nói.
Để có được nguồn sách ban đầu xã đã huy động sự chung tay của cộng đồng doanh nghiệp. Dù trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, nhưng vẫn sẵn sàng đồng hành khi nhận thấy ý nghĩa thiết thực và nhân văn của chính sách. Chỉ trong vài tháng địa phương đã huy động đủ nguồn lực để triển khai cho năm học.
Ông Nguyện thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn ban đầu khi triển khai, thời điểm đầu chưa có cơ sở pháp lý cụ thể trong khi điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn hạn chế nên việc vận động rất khó khăn, nguồn lực không dồi dào. Tuy nhiên, khi nghị quyết 71 được ban hành, địa phương có thêm cơ sở để đẩy nhanh tiến độ.
"Chúng tôi xác định đây là việc nên làm, có thể làm và cần làm sớm. Làm càng sớm thì người dân càng giảm chi phí, xã hội càng tiết kiệm nguồn lực", ông Nguyện nói.
Ông Trần Anh Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, đánh giá mô hình tại Hòa Vang là bước cụ thể hóa tinh thần nghị quyết 71, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn ở khía cạnh an sinh xã hội.
Trong bối cảnh Đà Nẵng mở rộng địa bàn sau sáp nhập, bao gồm nhiều khu vực còn khó khăn về hạ tầng và kinh tế, mô hình này giúp giảm gánh nặng cho các gia đình, tạo điều kiện để học sinh yên tâm học tập.
"Trong thời gian ngắn xã đã triển khai hiệu quả. TP giao ngành giáo dục nghiên cứu, lấy đây làm mô hình điểm để nhân rộng toàn TP trong thời gian tới", ông Anh Tuấn nói.
Đồng thời ông cũng lưu ý để mô hình phát huy hiệu quả lâu dài cần phân công rõ trách nhiệm quản lý, mượn - trả - thu hồi sách; xây dựng quy chuẩn sử dụng; tăng cường tuyên truyền để phụ huynh, học sinh nhận thức đúng; đồng thời duy trì và mở rộng các nguồn lực hỗ trợ, thường xuyên theo dõi, đánh giá để điều chỉnh kịp thời.