“Bất động sản không hề đứng một mình mà kéo theo cả chục ngành công nghiệp đằng sau, từ sắt thép, xi măng, gạch ngói, vận tải, đến thiết kế, nội thất… Nếu cứ siết vốn bất động sản thì liệu có làm ảnh hưởng tới các nhà máy sản xuất vật liệu kia không, công nhân có nguy cơ thất nghiệp hàng loạt không? Thế nên, bơm vốn cho các dự án bất động sản có hạ tầng đồng bộ, làm thật ăn thật cũng chính là gián tiếp cứu cánh cho sản xuất công nghiệp. Còn ‘đóng băng’ bất động sản thì nền kinh tế cũng sẽ bị tác động tiêu cực”.
Đó là lo lắng của độc giả Trunghieufwork đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định quan điểm không thể ưu tiên tín dụng cho riêng bất động sản tại diễn đàn khơi thông dòng vốn, chiều 20/5. Trước ý kiến từ Hiệp hội bất động sản TP HCM và cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cần nới room tín dụng, phân loại phân khúc nhà ở và ưu tiên vốn cho nhà ở phục vụ nhu cầu thực, đại diện cơ quan điều hành nhấn mạnh dòng vốn vào bất động sản vẫn tăng cao hơn mức bình quân của nền kinh tế, không thể tập trung quá lớn vào một lĩnh vực, gây khó khăn tiếp cận vốn cho các ngành khác, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa..
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân loại bất động sản đầu cơ và nhu cầu mua ở thực thay vì siết dòng vốn cào bằng, độc giả Anhdungbình luận: “Nhiều người cứ nghĩ siết tín dụng bất động sản là để giá nhà giảm cho dân dễ mua, nhưng thực tế doanh nghiệp không tiếp cận được vốn thì không thể làm dự án, nguồn cung khan hiếm làm giá nhà bị đẩy lên cao, người thu nhập trung bình lại càng khó chạm tay vào ước mơ an cư.
Hơn nữa, một dự án đứng im không chỉ ảnh hưởng đến chủ đầu tư, mà kéo theo hàng ngàn công nhân xây dựng mất việc, các đại lý vật liệu, cửa hàng nội thất thất thu… Việc siết dòng vốn cào bằng như vậy vô tình làm thắt chặt chi tiêu và cơ hội việc làm của rất nhiều người lao động bình thường. Tôi nghĩ thay vì khóa van tổng, cơ quan quản lý nên mở van cho các dự án nhà ở thực, có như vậy thị trường mới có hàng, giá nhà mới hạ nhiệt và người lao động mới có công ăn việc làm”.
>> Tôi vẫn đi ở trọ sau khi vay mua nhà 2,5 tỷ đồng Sài Gòn
Trong khi đó, ủng hộ quan điểm của Ngân hàng Nhà nước, độc giả Mẹ Nấm phân tích: “Bất động sản cần vốn, nhưng nông nghiệp, công nghiệp, startup cũng cần vốn. Không thể ngành nào cũng đòi ưu tiên riêng được. Đồng ý là bất động sản có tác động lan tỏa tới rất nhiều ngành nghề, nên không thể để thị trường ‘đóng băng’ hoàn toàn. Nhưng cũng vì nó ảnh hưởng lớn nên càng phải kiểm soát dòng vốn kỹ hơn. Nếu tín dụng chủ yếu đi vào đầu cơ, đẩy giá đất vượt xa thu nhập thì cuối cùng doanh nghiệp sản xuất, người lao động và cả ngân hàng đều chịu hệ quả khi ‘bong bóng’ xì hơi”.
Gợi ý giải pháp phân loại dòng vốn bất động sản, bạn đọc Phuongthanhngo cho rằng: “Hoàn toàn chia sẻ với áp lực của Ngân hàng Nhà nước khi quản lý dòng tiền quốc gia là nhiệm vụ cực kỳ cân não, không thể cứ thấy doanh nghiệp bất động sản kêu than là nới room bừa bãi được. Tuy nhiên, thay vì nhìn nhận chung chung là ‘ngành bất động sản’, có lẽ giải pháp hợp lý hơn là thiết kế một bộ tiêu chí phân loại dòng vốn thật chi tiết.
Theo đó, những dự án mang tính chất đầu cơ, gom đất để chờ đẩy giá cần tuyệt đối không cấp vốn. Nhưng ngược lại, với các siêu đô thị được quy hoạch bài bản, đồng bộ cả hạ tầng giao thông, tiện ích an sinh xã hội và có năng lực triển khai thực tế, thì rất cần được khơi thông dòng vốn ổn định. Những đại dự án này bản chất là hạ tầng đô thị, giúp giãn dân và tạo động lực phát triển kinh tế vùng chứ không thuần túy là ‘kinh doanh đất’. Định hướng tín dụng trúng và đúng vào các dự án động lực này vừa giúp phát triển kinh tế, vừa bảo đảm an toàn dòng vốn cho chính hệ thống ngân hàng”.
Ngày thứ sáu, khi đi làm về, bạn chắc chắn an tâm vì còn hai ngày nghỉ trước mặt. Người trẻ có thể hẹn hò, gặp gỡ bạn bè, hoặc đơn giản là dành thời gian cho gia đình. Hai ngày cuối tuần trọn vẹn giúp họ tái tạo năng lượng, cân bằng lại nhịp sống vốn đã quá căng thẳng.
Nhưng khi ngày thứ bảy vẫn là ngày làm việc, dù chỉ nửa ngày, mọi kế hoạch gần như bị cắt vụn. Tối thứ sáu không còn trọn vẹn vì phải nghĩ đến sáng hôm sau vẫn phải dậy đi làm. Thứ bảy trôi qua một cách lưng chừng vì không đủ dài để nghỉ ngơi, cũng chẳng đủ tập trung để làm việc hiệu quả. Đến chiều về, người ta mệt mỏi hơn là được hồi phục.
Tôi nghĩ chúng ta cần đánh giá nghiêm túc cách xã hội đang thiết kế thời gian sống của người trẻ.
Một trong những lý do khiến nhiều người trì hoãn kết hôn, ngại sinh con không chỉ nằm ở chi phí, mà còn là cảm giác không có thời gian để sống một cuộc đời đúng nghĩa.
Khi cả tuần bị chia nhỏ thành những ngày đi làm kéo dài, cuối tuần lại bị cắt đôi, thì việc xây dựng một mối quan hệ bền vững trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Hẹn hò không chỉ là gặp nhau vài tiếng sau giờ làm trong trạng thái mệt mỏi. Hôn nhân càng không thể chỉ dựa trên những khoảnh khắc chớp nhoáng. Nó cần thời gian chất lượng để hiểu nhau, để chia sẻ, để cùng trải nghiệm. Một cuối tuần trọn vẹn có thể tạo ra nhiều kết nối hơn cả tuần làm việc vội vã.
Chưa kể, những kế hoạch tưởng chừng đơn giản như đi chơi xa 1-2 ngày cũng trở nên bất tiện. Nếu được nghỉ thứ bảy, tối thứ sáu người trẻ hoàn toàn có thể bắt đầu một chuyến đi ngắn, đổi gió sau một tuần làm việc. Nhưng khi sáng thứ bảy vẫn phải lên công ty, mọi thứ trở nên dở dang, như tôi đã đề cập.
Ở góc độ doanh nghiệp, việc duy trì làm việc nửa ngày thứ bảy cũng không thực sự mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhân sự đến công ty trong tâm thế cho có mặt, công việc khó đạt được năng suất cao. Thời gian ngắn, tâm lý lưng chừng, kết quả thường chỉ là những giờ làm việc hình thức.
Ngược lại, nếu cho nhân viên nghỉ trọn vẹn hai ngày cuối tuần, họ có cơ hội hồi phục cả thể chất lẫn tinh thần. Khi quay lại làm việc vào thứ hai, năng lượng và sự tập trung sẽ tốt hơn. Về dài hạn, đó mới là cách nâng cao hiệu quả lao động bền vững.
Quan trọng hơn, đây còn là một câu chuyện mang tính xã hội. Khi chúng ta nói về việc khuyến khích kết hôn, sinh con, không thể chỉ dừng ở các khẩu hiệu hay chính sách hỗ trợ tài chính.
Người trẻ cần một môi trường sống cho phép họ có thời gian để xây dựng các mối quan hệ, để chăm sóc gia đình, để cảm thấy cuộc sống không chỉ xoay quanh công việc.
Lại một lần nữa, điểm thi tốt nghiệp cao ngất lại diễn ra. Lần này, biện pháp gian lận là khác nhưng kết quả thì vẫn như trước: Rất nhiều học sinh đã nhận được điểm cao bất thường, không phải do mình làm bài mà có được.
Những thông tin hiện tại cho thấy có giáo viên giải đề thi và đưa vào phòng thi cho các em học sinh chép lại. Kết quả là điểm Toán cao bất thường ở một trường chuyên.
Vụ việc này đã diễn ra chỉ tám năm sau vụ việc sửa điểm thi khi vào sổ báo cáo. Cách làm này khiến các bài thi đều có đáp án đúng, và chấm thi lại không phải là biện pháp nữa. Để biết em nào học thật em nào chép bài giải của giáo viên đã xông vào phòng thi chỉ có cách đem các em ra thi lại.
Câu hỏi được đặt ra là, vì sao các giáo viên lại liều mình như vậy? Đây là việc có sự tham gia của rất nhiều giáo viên, và toàn bộ quy định gác thi đã bị gạt bỏ sang một bên, nên mới có sự việc như vậy.
Lần trước, cũng là một vụ gian lận gây chấn động dư luận cả nước, các cán bộ giáo dục làm điểm thi đã nâng điểm cho thí sinh đã bị bắt, bị xử lý, nhưng chỉ mấy năm sau lại xảy ra một vụ khác, táo tợn hơn, và có sự tham gia của một loạt các giáo viên, hiệu trưởng?
Tôi lần giở lại vụ việc lần trước và nhận ra rằng sau khi những người có liên quan bị xử lý thì các em học sinh trong vùng nghi vấn vẫn được nộp điểm thi mà ai cũng biết là có vấn đề đó để xét tuyển vào trường đại học. Lần này cũng vậy, các em học sinh trong vùng nghi vấn vẫn được nộp điểm thi xét tuyển.
Ai cũng biết rằng trong số 147 điểm mười đấy, có một số là thật. Có một số là nhiều hơn sức học thật, nhưng cũng không chênh nhau là mấy. Ngày nay lại cấm không cho các em này nộp điểm xét đại học thì thật sự sẽ có một số em phải nhận lãnh hậu quả cho sự sai trái của người khác.
Cái khe hở "nhân văn" này đã được những người bán điểm tận dụng theo một cách sáng tạo. Sự lúng túng của các cơ quan quản lý khi đối mặt với việc này xuất phát từ việc thiếu khung pháp lý để xử lý người mua điểm hay cả những người không mua điểm cũng bị nhét thêm điểm vào người.
Các giáo viên vào phòng thi giải bài thi cho học sinh chép lại giống như thực hiện một pha "hy sinh bản thân để cứu chủ" đầy kịch tính trong phim cổ trang. Chưa rõ đằng sau là gì, nhưng với tinh thần quyết tâm, các giáo viên có làm sai nhưng thí sinh vẫn được lợi thì họ đâu có sợ.
Nói tóm lại, cơ quan chức năng cần phải xây dựng cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề này. Dù lỗi của ai, học sinh vẫn phải lãnh nhận hậu quả của việc gian dối, tức là bị cho điểm liệt, thì mới có thể răn đe. Trường hợp khó biết ai thật ai giả như ở Tuyên Quang thì cứ đem ra thi lại. Bộ giáo dục cũng có thể làm sẵn đề thi dự phòng, nếu rơi vào trường hợp như này thì thi lại.
Khi những vụ gian lận thi cử vẫn được kết thúc bằng phương pháp "nhân văn" với các em học sinh, những người được hưởng lợi, thì cho dù "người lớn" có bị như nào thì động cơ gian lận vẫn còn đó. Còn cái gọi là nhân văn thì không phải chỉ là việc ai được vào đại học, ai thì không.
Hậu quả của việc những điểm mười gian lận vào đại học là những bệnh nhân khổ đau dưới tay các bác sĩ kém cỏi, những công trình, sản phẩm kém chất lượng được làm ra từ những kỹ sư học dốt, và cả những giáo viên vào trường sư phạm bằng gian lận, và ra trường để tiếp tục dạy học sinh gian dối.
Năm 2019, khi vụ bê bối tuyển sinh đại học ở Mỹ bị phanh phui, các bậc cha mẹ bỏ tiền mua suất cho con đều bị xử lý hình sự. Những người là thí sinh thì đều bị đuổi học.
Trong đó có một người là con gái của một tỷ phú ở Trung Quốc, học rất giỏi và thật sự là có đủ khả năng vào trường top trên đôi chân của mình. Tỷ phú đó muốn chắc ăn nên nhờ một cố vấn tuyển sinh giúp đỡ và đã trả 1,5 triệu đô mà tỷ phú tưởng là tiền công cho cố vấn.
Thật ra thì ông cố vấn đó đã dùng tiền đi mua chuộc một huấn luyện viên thể thao ở Havard rồi lấy suất cho thí sinh đó. Mặc dù thí sinh đó đã chứng minh được tất cả các điều trên, nhưng Havard vẫn đuổi học cô gái đó.
Không đuổi học thì món lợi do gian dối vẫn còn, và sẽ vẫn có người tiếp tục gian dối.
Nhân dịp TP HCM sắp miễn phí vé xe buýt toàn dân, câu chuyện giao thông công cộng lại được nhiều người bàn luận.
Tôi cũng xin góp thêm một cảm nhận riêng, về vấn đề này. Tôi cho rằng, điểm nghẽn của giao thông công cộng không chỉ nằm ở hạ tầng hay chất lượng dịch vụ, mà sâu xa hơn, nằm ở chính cách chúng ta tổ chức đời sống hằng ngày một lịch sinh hoạt quá ư là linh hoạt, thậm chí tùy hứng.
Như một người ở Thủ Đức, làm việc tại Bình Thạnh cũ, buổi sáng chưa kịp đến công ty đã nhận tin nhắn: "Qua quận 3 họp gấp" (chỗ công ty đối tác), hoặc buổi chiều tối phải đi dùng bữa với khách hàng, bàn chuyện hợp đồng...
Có những người buổi chiều phải đi đón con (vì hôm nay ông bà bận việc, không đón dùm được), tiện đường tạt siêu thị mua đồ (vì vợ về trễ không mua được). Nhiều người khác thì lịch trình sau giờ tan làm có thể kể đến như: ghé qua bệnh viện thăm đồng nghiệp ốm, đi dự sinh nhật, đi cà phê, đi nhậu...
Những điểm dừng này không nằm trên một tuyến cố định nào. Tất cả những điều đó, với xe máy, là bình thường. Nhưng với xe buýt một phương tiện vận hành theo tuyến, theo giờ lại trở thành bất tiện.
Vì thế, không khó hiểu khi nhiều người lấy trải nghiệm đi xe máy làm chuẩn, rồi áp lên xe buýt và kết luận: "Không phù hợp". Nhưng đó là một phép so sánh khập khiễng.
Xe buýt không sinh ra để phục vụ những hành trình ngẫu hứng. Nó phục vụ những nhu cầu ổn định, có kế hoạch: Đi làm, đi học, di chuyển theo trục cố định. Nếu mỗi chuyến đi đều mang theo hàng loạt biến số, thì không có hệ thống công cộng nào có thể đáp ứng trọn vẹn.
Tôi rất mong mỏi việc miễn phí vé xe buýt là một cú hích ban đầu để kéo người dân lại gần hơn với giao thông công cộng.
Bên cạnh đó, người đi làm có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ: cố định khung giờ đi - về, hạn chế những cuộc hẹn phát sinh trong giờ cao điểm, gom các việc cá nhân vào một khung thời gian nhất định.
Thay vì tiện đâu ghé đó, có thể lên kế hoạch trước. Song song đó, thành phố cũng cần làm phần việc của mình. Mạng lưới tuyến phải đủ dày, đủ linh hoạt để người dân không phải đi bộ quá xa hay chờ đợi quá lâu.
Các điểm trung chuyển cần thuận tiện, an toàn. Thông tin về lộ trình, thời gian cần rõ ràng, dễ tiếp cận.
Chúng ta quen với sự linh hoạt của xe máy đến mức coi đó là tiêu chuẩn. Nhưng một thành phố lớn không thể vận hành hiệu quả nếu mọi hành trình đều phụ thuộc vào sự tùy hứng cá nhân.
Giao thông công cộng, về bản chất, đòi hỏi người tham gia một mức độ kỷ luật và kiên nhẫn nhất định.