Sau khi Hamas mở chiến dịch đột kích vào miền nam Israel ngày 7/10/2023, một trong những video đầu tiên xuất hiện là hình ảnh một cô gái bất lực đưa tay về phía bạn trai đang bị những người đàn ông có vũ trang khống chế tại lễ hội âm nhạc trên sa mạc. Cô là một trong khoảng 250 người bị Hamas bắt làm con tin và đưa về Dải Gaza.
Noa Argamani, người bị bắt đi chưa đầy một tuần trước sinh nhật lần thứ 26, đã trải qua 245 ngày bị giam tại Gaza. Sau khi cô được giải cứu, hai tay súng xuất hiện trong video khống chế bạn trai cô đã bị tình báo Israel truy lùng ráo riết và hạ sát trong hai cuộc không kích.
Hai tay súng này nằm trong danh sách hàng nghìn thành viên Hamas lọt tầm ngắm của một lực lượng đặc nhiệm Israel, được thành lập cho nhiệm vụ duy nhất là hạ sát hoặc bắt giữ toàn bộ những người đã lên kế hoạch hoặc tham gia vào cuộc tấn công ngày 7/10, các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Israel cho biết.
Lực lượng đặc nhiệm này mang tên NILI, chữ viết tắt tiếng Do Thái của câu: “Đấng Vĩnh cửu của Israel không nói dối”, mang ý nghĩa rằng sẽ không có ai tham gia cuộc tấn công bị bỏ sót trong chiến dịch “đòi nợ máu”.
“Thông điệp rõ ràng gửi đến tất cả những kẻ thù trong tương lai là hãy suy nghĩ lại về cái giá phải trả cho một chiến dịch tấn công như vậy”, Shalom Ben Hanan, cựu quan chức cấp cao cơ quan tình báo Shin Bet của Israel, nhấn mạnh.
Không một ai có tên trong danh sách bị coi là “không quan trọng”, ngay cả người đã lái máy cày phá hàng rào biên giới vào ngày hôm đó. Gần hai năm sau, người này đã bị nhận diện và hạ sát trong một cuộc không kích khi đang đi bộ ở Gaza, theo video được quân đội Israel công bố.
Các tay súng Hamas từng dùng điện thoại hoặc máy quay GoPro ghi lại hành vi của mình trong ngày 7/10 rồi chia sẻ lên mạng xã hội, hay những người gọi điện về nhà khoe khoang “chiến tích” đã không thể ngờ được mức độ tinh vi trong khả năng giám sát cũng như quyết tâm trả đũa của Israel.
Đặc nhiệm NILI sẽ liệt mục tiêu vào diện “cần tiêu diệt không cần xét xử” nếu tìm thấy ít nhất hai bằng chứng cho thấy họ tham gia vào cuộc tấn công ngày 7/10, theo các quan chức an ninh Israel. Các điệp viên thuộc cơ quan tình báo quân sự và Shin Bet, cơ quan an ninh nội địa Israel, vẫn tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng những video mà các tay súng đăng trên mạng xã hội.
Theo đó, các điệp viên Israel sẽ đưa hình ảnh qua chương trình nhận diện khuôn mặt để sàng lọc danh tính, đồng thời rà soát, nghe lén các cuộc gọi điện thoại. Họ xem xét dữ liệu vị trí từ nhật ký trạm phát sóng và thẩm vấn những người Gaza đang bị bắt giam để xác định ai đã làm gì.
Các thành viên NILI đã tập hợp trong một phòng tác chiến để nhận diện, tìm kiếm và tấn công mục tiêu. Họ theo dõi việc đi lại hàng ngày của bạn bè và gia đình các tay súng để lần theo mọi dấu vết.
“Xác định vị trí những tay súng đó thực sự là công việc vô cùng gian khổ”, Guy Chen, cựu quan chức Shin Bet, nói. “Bạn phải biết chính xác từng giây họ đang ở đâu”.
Một trong những mục tiêu lớn đầu tiên là Saleh al-Arouri, đặc vụ hàng đầu của Hamas tại Lebanon. Al-Arouri trở về văn phòng ở Beirut, nơi ông ta đã bỏ trống từ sau cuộc tấn công ngày 7/10, vào ngày đầu năm mới 2024 sau chuyến đi tới Thổ Nhĩ Kỳ.
Các thành viên của lực lượng dân quân Hezbollah ở Lebanon đã cảnh báo al-Arouri nên ẩn mình và không dùng điện thoại di động vì chúng có thể bị hack để theo dõi vị trí, giới chức Arab cho hay.
Nhưng al-Arouri vẫn triệu tập một cuộc họp với 6 quan chức Hamas, tất cả đều mang theo điện thoại và máy tính xách tay kết nối Internet. Ngay sau đó, tiêm kích Israel đã phóng tên lửa dẫn đường đánh trúng văn phòng nơi diễn ra cuộc họp, khiến toàn bộ 7 người thiệt mạng.
6 tháng sau, Israel hạ sát thủ lĩnh Hamas Ismail Haniyeh bằng một quả bom giấu trong phòng của ông tại nhà khách do Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) quản lý ở Tehran.
“Sẽ cần thời gian nhưng chúng ta sẽ chạm tới tất cả những mục tiêu đó, dù họ ở bất cứ đâu”, David Barnea, giám đốc Mossad, cơ quan tình báo đối ngoại quốc gia Israel, hồi năm 2024 tuyên bố.
Trong những tháng tiếp theo, đặc nhiệm NILI đã hạ sát các tay súng Hamas dùng dù lượn đột nhập vào Israel ngày 7/10, những người tham gia tấn công các ngôi làng biên giới và những người sát hại hàng trăm thanh niên Israel tại lễ hội âm nhạc Nova, nơi Argamani và bạn trai bị bắt cóc.
Chiến dịch tìm diệt tiếp diễn
Hàng trăm người đã bị gạch tên trong danh sách và chiến dịch tìm diệt vẫn tiếp diễn, bất chấp Israel và Hamas đã đạt thỏa thuận ngừng bắn ở Gaza hồi tháng 10 năm ngoái. Lực lượng NILI đã được giảm quy mô xuống còn một nhóm nhỏ nhân viên mật vụ, chuyên theo dõi mục tiêu và chuyển giao thông tin cho bộ chỉ huy quân sự chịu trách nhiệm về chiến dịch ở Gaza.
Hôm 12/4, lọt vào tầm ngắm của các điệp viên Israel là Ali Sami Mohammad Shakra, một đội trưởng trong lực lượng vũ trang Hamas, người bị cáo buộc tham gia cuộc tấn công đẫm máu vào lễ hội âm nhạc Nova và bắt 4 con tin, trong đó có cả công dân Mỹ gốc Israel Hersh Goldberg-Polin.
Sau khi Shakra bị hạ sát, quân đội Israel công bố ảnh chụp màn hình từ video giám sát vào ngày 7/10 cho thấy anh ta nhô đầu ra khỏi cửa sổ một chiếc ôtô gần nơi xảy ra vụ bắt cóc, bằng chứng cho thấy người này đã tham gia vụ tấn công.
Ba ngày trước đó, IDF tuyên bố vô hiệu hóa tay súng Abd al-Rahman Ammar Hassan Khudari thuộc nhóm Jihad Hồi giáo vì đã tham gia tấn công vào khu định cư Nir Oz, nơi 1/4 cư dân đã bị sát hại hoặc bắt cóc.
Hôm 15/5, chiến đấu cơ Israel ném 13 quả bom xuống một căn hộ ở Gaza City nơi Ezzedin al-Haddad, một trong những thủ lĩnh cấp cao cuối cùng thuộc ban lãnh đạo quân sự Hamas, ẩn náu.
Haddad bị Israel coi là một trong những kiến trúc sư chính của cuộc tập kích ngày 7/10, và họ đã tung nhiều nguồn lực truy lùng ông này kể từ đó. AFP dẫn lời một quan chức quân sự Israel cho biết đòn không kích hạ sát được tung ra ngay sau khi họ nhận được tin tình báo về vị trí của Haddad ở Gaza City.
Hamas xác nhận cuộc tập kích đã khiến Haddad cùng vợ, con gái và một số dân thường thiệt mạng. Phía Israel tuyên bố Haddad đang nỗ lực khôi phục năng lực quân sự của Hamas.
“Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) sẽ tiếp tục truy đuổi kẻ thù, tấn công chúng và bắt mọi kẻ tham gia cuộc thảm sát ngày 7/10 phải chịu trách nhiệm”, lãnh đạo quân đội Israel Eyal Zamir phát biểu hôm 16/5 sau khi Tel Aviv xác nhận Haddad đã chết.
Một số quan chức an ninh Israel cho rằng việc săn lùng những tay súng Hamas như vậy sẽ tạo sức răn đe, ngăn người Palestine tham gia vào các nhóm vũ trang. Tuy nhiên, một quan chức Hamas ngày 19/5 mô tả chiến dịch truy lùng này của Israel “không khác gì chính sách hành quyết không qua xét xử và giết chóc có hệ thống mà Israel đã thực hiện đối với người dân Palestine trong nhiều thập kỷ”.
Tahani Mustafa, chuyên gia nghiên cứu tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu, cảnh báo rằng chiến dịch của Israel có nguy cơ thúc đẩy thêm người gia nhập các nhóm vũ trang, nhất là khi hiện tại, các bên thiếu một lộ trình chính trị để giải quyết vấn đề cốt lõi về việc thành lập nhà nước Palestine.
Mustafa cho biết số lượng thành viên Hamas đã tăng lên trong suốt cuộc chiến. “Điều đó xuất phát từ quy luật tất yếu rằng họ phải kháng cự hoặc là chết”, bà nói.
Với một số người từng bị giam ở Gaza, việc Haddad bị hạ sát khiến họ cảm thấy nhẹ nhõm, vì ông này từng tham gia canh giữ con tin.
“Ông ta lên kế hoạch cho cuộc tấn công ngày 7/10, sát hại bạn bè cùng nhiều người thân yêu khác của tôi, lên kế hoạch bắt cóc và giam tôi trong các đường hầm Hamas”, Emily Damari viết trong một bài đăng trên Instagram ngày 15/5.
Damari, công dân mang hai quốc tịch Israel và Anh, 29 tuổi, đã bị bắt cóc khỏi nhà và bị giam gần 500 ngày trong hệ thống đường hầm của Hamas ở Gaza.
“Đây là điều rất có ý nghĩa đối với nhiều người”, cô nói.
Aviva Siegal, 64 tuổi, bị bắt cóc cùng chồng vào ngày 7/10 và đã trải qua 51 ngày ác mộng khi bị giam ở Gaza. Bà cũng phải chờ đợi gần 500 ngày để chồng mình được trả tự do. Dù vậy, Siegal cho biết bà phản đối việc tiếp tục chiến dịch “đòi nợ máu”.
“Tôi còn sống, vậy là quá đủ đối với tôi rồi”, bà nói.
Gia đình Bộ trưởng Quốc phòng Mali Sadio Camara và một quan chức nước này hôm nay cho biết ông Camara, người vợ thứ hai và hai cháu đã thiệt mạng sau vụ đánh bom xe vào nhà riêng của ông ở Kati, một thành trì của chính quyền quân sự và là "cửa ngõ" của thủ đô Bamako.
Vụ đánh bom xe vào nhà Bộ trưởng Quốc phòng Camara diễn ra trong bối cảnh các nhóm phiến quân Mali đồng loạt phát động nhiều cuộc tấn công trên khắp cả nước nhắm vào chính quyền quân sự.
Giao tranh bùng phát từ ngày 25/4, khi phiến quân Tuareg thuộc liên minh Mặt trận Giải phóng Azawad (FLA) phối hợp với nhóm vũ trang Hỗ trợ Hồi giáo và Tín đồ Hồi giáo (JNIM) tiến hành các cuộc tấn công bất ngờ, nhắm vào nhiều khu vực trên khắp Mali.
Các cuộc đụng độ hôm 25/4 đã khiến 16 dân thường và binh sĩ bị thương, gây thiệt hại vật chất không đáng kể, theo chính phủ Mali. Họ cũng khẳng định "tình hình hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát tại tất cả các địa điểm bị tấn công".
Đụng độ giữa quân đội Mali và phiến quân tiếp diễn trong ngày 26/4 tại nhiều nơi. Tại thủ đô Bamako, lối vào các cơ sở quân sự bị phong tỏa bằng rào chắn và lốp xe.
Trong khi đó, phiến quân Tuareg thông báo đạt được một thỏa thuận cho phép lực lượng Nga hậu thuẫn quân đội Mali rút khỏi thành phố Kidal ở miền bắc, nơi họ tuyên bố đã "hoàn toàn" kiểm soát.
"Một đoàn xe quân sự đã rời đi, nhưng chúng tôi không rõ chi tiết những gì đang diễn ra. Các nhóm vũ trang đã kiểm soát đường phố", một người dân Kidal cho biết.
Quân đội Mali từng giành lại Kidal, thành trì của Tuareg, vào tháng 11/2023 với sự hỗ trợ của tập đoàn quân sự tư nhân Nga Wagner, chấm dứt hơn một thập kỷ nằm dưới sự kiểm soát của phiến quân.
Hơn một thập kỷ qua, Mali đã bị tàn phá hơn bởi xung đột và bạo lực của các nhóm vũ trang Hồi giáo, nhưng cuộc tấn công hôm 25/4 là nghiêm trọng nhất kể từ năm 2020, khi chính quyền quân sự lên nắm quyền.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres lên án "các hành vi bạo lực" tại Mali. "Tổng thư ký kêu gọi phối hợp hỗ trợ quốc tế để đối phó với mối đe dọa ngày càng gia tăng của chủ nghĩa cực đoan bạo lực và khủng bố tại vùng Sahel, đồng thời đáp ứng các nhu cầu nhân đạo cấp bách", người phát ngôn của ông Guterres cho hay.
Sahel là dải đất rộng hơn 3 triệu km2 kéo dài từ bờ biển phía tây đến phía đông châu Phi, là khu vực có vị trí chiến lược ở châu Phi. Liên minh châu Âu cũng lên án các "vụ tấn công khủng bố" tại Mali.
Quân đoàn châu Phi, tổ chức bán quân sự được thành lập dưới sự hậu thuẫn của quân đội Nga, đã thay thế Wagner trong việc hỗ trợ quân đội Mali chống lại các nhóm vũ trang Hồi giáo.
Press TV, kênh truyền thông bằng tiếng Anh của truyền hình nhà nước Iran, hôm nay cho biết nhóm vũ trang Houthi tại Yemen đã bắn rơi một máy bay không người lái (UAV) MQ-9 Mỹ tại tỉnh Marib.
Defense Line, trang tin độc lập ở Yemen, cho biết sự việc xảy ra vào tối 17/5. Houthi là lực lượng do Iran hậu thuẫn.
Video do Press TV đăng cho thấy đám cháy dưới mặt đất, dường như là địa điểm mà phi cơ rơi xuống. Hãng còn đăng hình ảnh các mảnh vỡ được cho là tên lửa AGM-114R9X mà UAV MQ-9 mang theo vào thời điểm bị bắn rơi.
Lực lượng Houthi và quân đội Mỹ chưa đưa ra bình luận.
AGM-114R9X là biến thể của tên lửa đối đất dẫn đường bằng laser AGM-114 Hellfire. Phiên bản này có biệt danh là "bom ninja", do được gắn các lưỡi dao thay cho đầu đạn nổ mạnh truyền thống. Những lưỡi dao trên sẽ bung ra trước khi va chạm với mục tiêu và cắt nát mọi thứ trên đường bay.
MQ-9 Reaper là UAV quân sự do tập đoàn General Atomics của Mỹ chế tạo cho không quân nước này, có thể bay ở độ cao hơn 15.000 m và hoạt động liên tục trong 24 tiếng. Nó có thể đảm nhận vai trò thu thập thông tin tình báo, giám sát, trinh sát và tấn công. Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ cho biết mỗi chiếc MQ-9 có giá xuất xưởng khoảng 30 triệu USD.
Theo tạp chí quân sự Air & Space Forces của Mỹ, không quân nước này còn 182 UAV MQ-9 khi kết thúc năm tài chính 2025, trong đó có 24 máy bay do không quân vệ binh quốc gia vận hành.
"Nhưng trong 18 tháng vừa qua, nhiều phi cơ đã bị hạ bằng hỏa lực phòng không, các cuộc tập kích bằng UAV cũng làm hỏng một số chiếc Reaper trên mặt đất", tạp chí này cho biết, dường như đề cập thiệt hại trong xung đột với Iran. "Lực lượng Houthi tại Yemen cũng đã phá hủy ít nhất 12 chiếc MQ-9 trong các chiến dịch trước đó".
David Tabor, phó tham mưu trưởng không quân Mỹ phụ trách kế hoạch và chương trình, hôm 12/5 cho biết lực lượng này còn khoảng 135 máy bay MQ-9, song khẳng định vẫn có thể hoàn thành tất cả yêu cầu tác chiến được đề ra đối với dòng Reaper.
Air & Space Forces cho biết MQ-9 có vận tốc tương đối chậm và đã được chứng minh là dễ bị tổn thương trước hỏa lực phòng không Iran. Đài CBS nhận định MQ-9 dễ bị bắn hạ do được thiết kế để làm nhiệm vụ chống khủng bố và phiến quân với trang bị thô sơ, chứ không phải nhằm đối phó với những quốc gia sở hữu năng lực phòng không hiện đại.
Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.