Nghiên cứu của Đại học Sydney (Australia) chỉ ra phụ nữ độc thân trên 45 tuổi, không có con là nhóm có khả năng cao nhất phải chăm sóc cha mẹ già hoặc người thân bệnh tật.
“Nhiều phụ nữ cho biết gia đình họ tồn tại một kỳ vọng: vì không vướng bận con cái, họ là người rảnh rỗi và linh hoạt nhất để hỗ trợ”, Phó giáo sư Myra Hamilton, trưởng nhóm nghiên cứu, nói.
Tuy nhiên, hệ lụy mà nhóm phụ nữ này phải đối mặt không chỉ là thời gian, mà còn là gánh nặng tài chính và áp lực tinh thần.
Định kiến “không vướng bận”
Bà Hamilton cho biết, việc mặc định người độc thân phải chăm sóc cha mẹ xuất phát từ hai định kiến: chăm sóc là việc của phụ nữ và không con sẽ rảnh rỗi hơn người đã lập gia đình. “Những phụ nữ này không trốn tránh trách nhiệm, họ muốn phụng dưỡng cha mẹ. Nhưng chính cảm giác bị áp đặt khiến họ không thoải mái”, chuyên gia nói.
Chuyên gia tư vấn tâm lý Judy Graham cho biết nhiều khách hàng của bà đang gánh vác việc chăm sóc cha mẹ một mình, hoặc đối mặt với các mối quan hệ anh chị em phức tạp. “Khách hàng thường kể về những câu nói trong gia đình kiểu như: Cô không có con, nên có thể tạm dừng công việc để đưa mẹ đi khám bệnh được không?”, bà Graham nói.
Theo bà, quan niệm này bắt nguồn từ tâm lý coi trọng việc sinh sản của xã hội. Họ phải đối mặt với căng thẳng tâm lý, thể chất và tài chính giống mọi người nhưng thường phải gánh chịu một mình.
Thiệt thòi tài chính, sự nghiệp
Việc chăm sóc người già ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của phụ nữ không con. Nếu phụ nữ có con thường bị gián đoạn sự nghiệp ở giai đoạn đầu, nhóm không con lại bị ảnh hưởng ở giai đoạn muộn hơn khi phải chăm sóc thành viên lớn tuổi.
Bà Hamilton cho biết sự gián đoạn này ảnh hưởng đến cơ hội thăng tiến và làm giảm mức tích lũy hưu trí của phụ nữ. Bà Graham cũng nói nhiều người phải làm việc bán thời gian hoặc tạm dừng kinh doanh để chăm sóc người thân.
Môi trường công sở chưa có sự ghi nhận tương xứng. Nhiều phụ nữ cho biết người sử dụng lao động không công nhận nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ già giống như việc nuôi con nhỏ. “Các chủ lao động đặt ra kỳ vọng cao hơn, yêu cầu làm thêm ca hoặc sắp xếp kỳ nghỉ trùng với kỳ nghỉ học của con cái đồng nghiệp”, bà Hamilton nói. Nữ chuyên gia cho rằng việc cân bằng giữa trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc là khó khăn chung của tất cả phụ nữ.
Nguy cơ bị cô lập
Phụ nữ không con còn đối mặt với nguy cơ bị cô lập trong gia đình. Họ có thể bị gạt ra khỏi các sự kiện với lý do “Chúng tôi phải tổ chức tiệc sinh nhật cho con, vì vậy cô hãy đến bệnh viện vì cô không vướng bận”.
Theo bà Graham, mỗi câu nói mang tính đùn đẩy như “Tôi không thể đưa mẹ đi khám vì phải đón con” trở thành lời nhắc nhở về hoàn cảnh cá nhân của họ.
“Sự chăm sóc lẽ ra dành cho con cái giờ được chuyển sang phụng dưỡng người già. Đó là phần mất mát mà những phụ nữ không có con phải trải qua”, bà Graham nói.
Thiệt thòi kép về tài chính và sự nghiệp
Bên cạnh những tác động về mặt tài chính, việc chăm sóc người già cũng ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của phụ nữ không con.
Bà Hamilton chỉ ra, nếu phụ nữ có con thường bị gián đoạn sự nghiệp ở giai đoạn đầu, thì phụ nữ không con lại bị ảnh hưởng ở giai đoạn muộn hơn – thời điểm họ phải tập trung chăm sóc các thành viên lớn tuổi trong gia đình.
“Sự gián đoạn này ảnh hưởng trực tiếp đến số giờ làm việc, cơ hội thăng tiến, đào tạo và các cơ hội nghề nghiệp khác. Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh điều này dẫn đến hệ lụy rõ rệt: Giảm mức tích lũy hưu trí của nhiều phụ nữ”, Phó giáo sư Hamilton nhấn mạnh.
Bà Graham cho biết nhiều phụ nữ không con đã phải chuyển sang làm việc bán thời gian hoặc tạm dừng việc kinh doanh riêng để chăm sóc người thân. Tương lai tài chính của họ vì thế trở nên không chắc chắn.
Đáng chú ý, môi trường công sở hiện nay chưa có sự ghi nhận tương xứng đối với trách nhiệm này. Nhiều phụ nữ phản ánh rằng người sử dụng lao động không công nhận nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ già giống như cách họ nhìn nhận việc nuôi con nhỏ.
“Các chủ lao động đối xử như thể họ là những người hoàn toàn không có trách nhiệm gia đình. Họ đặt ra kỳ vọng cao hơn tại nơi làm việc, chẳng hạn như yêu cầu làm thêm ca hoặc sắp xếp kỳ nghỉ hàng năm trùng với các kỳ nghỉ học của con cái đồng nghiệp”, bà Hamilton nói.
Bà thừa nhận việc cân bằng giữa công việc và nuôi dạy con cái là thách thức lớn, nhưng “đây không phải là vấn đề so sánh giữa người có con và người không có con”. Việc cân bằng giữa trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc là khó khăn với tất cả phụ nữ.
Áp lực tâm lý và sự cô lập
Không chỉ chịu thiệt thòi về kinh tế, phụ nữ không con còn đối mặt với nguy cơ bị cô lập trong chính gia đình.
Họ có thể bị gạt ra khỏi các sự kiện gia đình với lý do: ‘Chúng tôi phải tổ chức tiệc sinh nhật cho các con, vì vậy cô hãy đến bệnh viện vì cô không có con’.
Đối với những phụ nữ không có con ngoài ý muốn, những tình huống này càng tạo ra áp lực tâm lý lớn hơn.
Theo bà Graham, mỗi câu nói mang tính đùn đẩy như “Tôi không thể đưa mẹ đi khám vì phải đón con” trở thành một lời nhắc nhở về hoàn cảnh cá nhân của họ.
“Sự chăm sóc lẽ ra dành cho con cái giờ đây được chuyển sang việc phụng dưỡng người già. Đó là một phần của sự mất mát mà những người phụ nữ không có con phải trải qua trong cuộc đời”, bà Graham kết luận.
Ngày 1-4, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho biết tổ chức này vừa có báo cáo "Tác động của lương tối thiểu tại Việt Nam".
Theo các chuyên gia, dù tiền lương bình quân tăng trong các năm gần đây song tiền lương thực tế vẫn thấp khi tính yếu tố như lạm phát. Do đó, Hội đồng Tiền lương quốc gia và ILO đã thực hiện nghiên cứu trên để đánh giá toàn diện tác động, hiệu quả của lương tối thiểu.
Theo báo cáo, những năm qua Việt Nam thường xuyên điều chỉnh lương tối thiểu. Nhìn chung, tỉ lệ lương tối thiểu trung bình so với lương trung bình tăng từ 44% vào năm 2012 lên đỉnh điểm là 58% vào năm 2016, sau đó giảm xuống còn 50% vào năm 2023.
Theo nghiên cứu, năm 2023, chỉ khoảng 3,8% người lao động làm việc ít nhất 35 giờ/tuần nhận lương dưới mức tối thiểu theo tháng và khoảng 3,3% nhận lương dưới mức tối thiểu giờ.
Các nhóm lao động nữ, cao tuổi hay có trình độ học vấn thấp có khả năng rơi vào nhóm lương thấp hơn.
Trong khi đó lao động ở doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp FDI có tỉ lệ lương thấp hơn lương tối thiểu thấp nhất.
Xét theo vùng địa lý, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long là những nơi có nhiều công việc được trả lương thấp hơn lương tối thiểu vùng, ví dụ như ngành nông nghiệp, dịch vụ lưu trú, ăn uống, sản xuất thực phẩm…
Theo nghề nghiệp, nhân viên văn phòng và công chức có tỉ lệ lao động dưới mức lương tối thiểu cao nhất, tiếp theo là lao động trong ngành dịch vụ và nhân viên bán hàng.
Đáng chú ý, khi phân tích dữ liệu lao động và doanh nghiệp giai đoạn 2012 - 2023, tiền lương tối thiểu không tác động đáng kể tới các chỉ số như việc làm, thời giờ làm việc, doanh thu, lợi nhuận hay quy mô lao động.
Cũng trong báo cáo, các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, nhất là nhóm thâm dụng lao động, cho biết tăng lương tối thiểu làm tăng chi phí lao động, bảo hiểm xã hội, gián tiếp tác động đến chi phí nguyên liệu…
Ví dụ, theo một doanh nghiệp dệt may có khoảng 7.000 lao động, khi tăng lương từ 280.000 đồng/tháng/lao động như hiện nay thì chi phí của doanh nghiệp tăng khoảng 5 tỉ đồng/năm. Mức tăng chủ yếu từ điều chỉnh mức đóng bảo hiểm xã hội và lương của người lao động.
Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) năm 2019 cũng nêu việc tăng lương tối thiểu vùng dự kiến năm 2020 chủ yếu tác động vào chi phí đóng bảo hiểm xã hội. Vì đa phần mức lương bình quân thấp nhất mà các doanh nghiệp thực trả cho người lao động đã cao hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định khoảng từ 8-12%.
Để thích ứng, các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, giảm các chi phí không thiết yếu hoặc cân nhắc chuyển hoạt động tới nơi có lương tối thiểu thấp hơn.
Trong khi đó nhiều người lao động được hỏi cho biết tăng lương tối thiểu giúp họ tăng thêm thu nhập song lương hiện hành thường chưa đủ để trang trải sinh hoạt phí. Tuy nhiên lương tăng đồng nghĩa với khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tăng lên, kéo theo quyền lợi dài hạn tốt hơn.
Từ các phát hiện, chuyên gia của ILO khuyến nghị cần điều chỉnh lương tối thiểu theo lộ trình minh bạch, dự đoán được, cân bằng giữa nhu cầu của người lao động và các yếu tố kinh tế. Việc kiểm soát lạm phát có ý nghĩa quan trọng để tăng lương thực sự giúp tăng thu nhập thực tế cho người lao động.
Chính sách lương tối thiểu cũng cần được lồng ghép với các chính sách kinh tế - xã hội rộng hơn, như nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường kinh doanh… Việc nâng cao cơ chế thương lượng tập thể có thể là "chìa khóa" để cân bằng lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Lý do không hẳn vì CV chưa đẹp hay thị trường lao động thiếu việc, mà bởi điều họ chưa thật sự hiểu "Mình muốn gì?".
Việt Anh (25 tuổi, TP.HCM) tốt nghiệp loại giỏi ngành truyền thông. Cậu từng làm tại một công ty truyền thông, được 2 tháng thì nghỉ vì thấy môi trường chưa thực sự phù hợp. Thế là chật vật đi tìm việc khác. Có lúc Việt Anh thức tới 2-3h sáng chỉ để sửa hồ sơ.
Việt Anh tìm và nộp đơn liên tục vì áp lực đồng trang lứa. Bạn bè cậu ai cũng có việc hết rồi. Người lương cao, người chuẩn bị lên leader.
“Tôi thì sáng mở laptop tìm việc, chiều đóng lại vì thấy công việc nào cũng không khiến mình muốn bắt đầu. Chẳng biết mình muốn gì?”, anh tâm sự.
Ngân Phúc (23 tuổi, TP.HCM) tốt nghiệp đã gần nửa năm với tấm bằng loại giỏi nhưng vẫn chưa tìm được công việc phù hợp. Chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, trong khi phần lớn bài tuyển dụng đều yêu cầu ứng viên “có kinh nghiệm” kèm với đó là áp lực từ gia đình.
“Có đợt ngày nào tôi cũng sửa CV, rải cả chục chỗ, đúng ngành hay trái ngành đều rải hết. Phỏng vấn xong HR bảo sẽ liên hệ lại trong tuần tới, rồi email im ắng luôn”, Phúc kể.
Thất nghiệp kéo dài khiến Phúc cũng tỏ ra chán nản. Có những ngày anh không muốn ra khỏi phòng, không muốn mở điện thoại.
“Tôi stress tới mức vừa mong có người gọi phỏng vấn, vừa sợ phải đi làm. Không ai gọi thì lại thấy bản thân vô dụng. Nhưng càng nộp nhiều, tôi càng không biết mình thật sự muốn làm gì”, cậu nói.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, chị Nguyễn Thanh Phương - Founder & CEO Công ty TNHH Chuyển hóa Nguồn nhân lực Việt Nam (VHRT - VHR Transformation) - cho rằng nhiều bạn trẻ học giỏi, GPA cao, bằng đẹp, tiếng Anh tốt nhưng vẫn khó tìm được công việc phù hợp vì hiện chỉ đáp ứng khoảng 1/3 yêu cầu của doanh nghiệp, trong khi cần đủ ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Sinh viên mới ra trường chủ yếu có kiến thức, nhưng kiến thức đó chỉ ở mức độ nền tảng, chưa chuyên sâu, và chưa hoặc rất ít được chuyển hóa vào trong công việc.
“Các bạn cũng có rất ít kỹ năng cần thiết cho công việc. Các kỹ năng cơ bản (cứng, mềm) cần phải được biết và tự trang bị trước khi bước chân vào thị trường lao động”, chị Phương nói.
Trong khi đó, điều doanh nghiệp tìm kiếm không chỉ là một người “ngoan” hay có thành tích học tập đẹp, mà là người có tinh thần học hỏi liên tục, biết quan sát, lắng nghe và có khả năng ứng dụng sáng tạo vào công việc.
Một nguyên nhân khác là thiếu "may mắn" hoặc có cơ hội mà không nắm bắt được do thiếu những điều kiện về kiến thức, kỹ năng, và thái độ đã nêu ở trên, nên khi cơ hội đến thì chưa sẵn sàng.
Với những bạn trẻ học giỏi, có bằng cấp đẹp nhưng vẫn loay hoay chưa tìm được công việc phù hợp vì chưa thật sự hiểu mình muốn gì, chị Phương nói đầu tiên là phải tự ý thức và định giá lại bản thân. Xác định rõ mình đang ở đâu, sau đó tìm ra khoảng GAP (khoảng cách) về kiến thức, kỹ năng so với yêu cầu thực tế của công việc mong muốn.
"Người trẻ cần xây dựng một lộ trình học hỏi, lên kế hoạch cụ thể để lấp đầy các khoảng trống về kiến thức và kỹ năng đã được xác định", chị Phương khuyên.
Bên cạnh chuyên môn, chị cho rằng các bạn trẻ cũng cần rèn luyện những phẩm chất mà doanh nghiệp hiện nay đặc biệt coi trọng, như tinh thần học hỏi liên tục, khả năng hợp tác và sự chính trực trong công việc.
Ngoài ra, người trẻ không nên ngại tìm kiếm sự hỗ trợ từ những người có kinh nghiệm như bố mẹ, người thân hoặc những người mình tin tưởng, đặc biệt khi gen Z có xu hướng không muốn nghe theo ý kiến của phụ huynh.
Đó là quan điểm của bạn đọc Sao Xẹt để lại trong bình luận bài viết CV đẹp ngời ngời mà sao xin việc hoài vẫn rớt?
Bài viết trên nhận về nhiều ý kiến tranh luận của bạn đọc.
Bạn đọc Sao Xẹt cho rằng ứng viên tự cho mình đã giỏi, CV của cá nhân rất đẹp nên không định vị được mình là ai.
“Bởi thế, vị trí cao, thích, mà chưa làm được, còn vị trí thấp thì không muốn, cũng chưa làm bao giờ”, bạn đọc này thẳng thắn.
Bạn đọc này nói thêm pháp nhân cần người tạo ra giá trị, không cần người khoe CV. CV đẹp chỉ là điều kiện đủ, còn điều kiện cần là ứng viên sẵn sàng hợp tác làm việc cho pháp nhân.
Bạn đọc Hải Âu cho rằng nhiều người có CV đẹp nhưng lại dùng một bản CV để nộp hàng loạt công ty, không quan tâm mình có thật sự phù hợp với vị trí hay văn hóa doanh nghiệp hay không nên dễ bị loại.
Bạn đọc có nickname Vietroad phân tích, thứ nhất, người học giỏi thường nặng về tính học thuật, ít tập trung vào kỹ năng thực tế. Đôi khi công việc không thể theo lý thuyết suông.
“Thứ hai, người học giỏi thường đề cao giá trị bản thân. Hai người cùng vị trí thì người học giỏi hơn thường đòi hỏi quyền lợi cao hơn nên thường bị đánh rớt hơn. Đôi khi, giết gà không cần dao mổ trâu”, bạn đọc này nói.
Thứ ba, nhiều người thường trau chuốt CV rất đẹp như khi phỏng vấn thì rất kém, khiến cho nhà tuyển dụng thất vọng và có cái nhìn không thiện cảm.
Bạn đọc Quỳnh Như nói CV chỉ là một phần. Nhân sự khi phỏng vấn còn đánh giá thái độ, tính cách xem có phù hợp với văn hóa doanh nghiệp không nữa.
“Nhiều khi ở nơi này bạn hướng nội vẫn có thể hoàn thành tốt công việc. Nhưng nếu sang doanh nghiệp mới, họ không thích người hướng nội thì dù bạn giỏi chuyên môn bạn cũng có thể bị từ chối như thường”, Như nói.
Bạn đọc có địa chỉ email kenj*@gmail.com thẳng thắn nói nhiều bạn trẻ ảo tưởng về năng lực bản thân, thiếu kỹ năng và kinh nghiệm, lười biếng lại ngại khổ, cũng là thực trạng nêu trong bài báo.
Bạn đọc Phạm Thị Nguyệt đồng tình với chuyên gia Nguyễn Thanh Phương trong bài báo trên, khi nhiều bạn kỳ vọng lương cao trong khi năng lực chưa tương xứng.
Nhưng nhìn ở góc độ thực tế rằng, một bạn trẻ ở TP.HCM cần ít nhất 8-10 triệu đồng/tháng để tự trang trải chi phí cơ bản. Doanh nghiệp muốn trả lương theo năng lực, còn người lao động cần lương đủ sống - mâu thuẫn này ngày càng gay gắt khi giá cả leo thang, phải chăng cả hai bên đều nên điều chỉnh kỳ vọng?
Bạn đọc Như Như chỉ ra thực tế cho thấy đại học vẫn nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng làm việc. Sinh viên ra trường được dạy "biết cái gì" nhưng chưa được dạy "làm cái đó như thế nào".
Đây là lỗ hổng hệ thống, không thể đổ hết cho người trẻ thiếu chuẩn bị. Đến khi doanh nghiệp phàn nàn thì khoảng cách đã quá xa.
Bạn đọc Minh Tuyền bày tỏ lời khuyên tìm một người cố vấn có kinh nghiệm và có tâm là cực kỳ quý giá.
“Nhiều bạn trẻ chật vật chỉ vì thiếu một người dẫn đường chỉ lối. Hy vọng các anh chị đi trước sẵn sàng mở lòng chia sẻ, và các bạn trẻ đừng ngại mở lời hỏi han”, Tuyền nói.
Bạn đọc Kim Ngân thích nhất câu "thất nghiệp không đáng sợ nếu bạn biết làm những điều này". Thay vì ủ rũ lo sợ, mình tranh thủ đăng ký các khóa học kỹ năng cũng như tham gia các buổi workshop về nghề nghiệp mà mình quan tâm.
“Khoảng thời gian tìm việc cũng là lúc mình hiểu bản thân nhất, miễn là đừng để nỗi sợ làm tê liệt. Cố lên các bạn trẻ, ai rồi cũng sẽ tìm được nơi phù hợp!”, Ngân nói.
Bạn đọc có địa chỉ email deco****@gmail.com kể đang trong quá trình xin việc, dù đã 15 năm trong ngành. Bạn đọc này nhận xét mặt bằng lương đang hạ, ngược lại với xu thế xã hội như vật giá tăng.
Bên cạnh đó, hiện có tình trạng là tuyển dụng “Tôn Ngộ Không”, nghĩa là 1 người ôm hết việc của 1 phòng hay dự án. Hơn 15 năm đi làm, anh chưa từng thấy doanh nghiệp tự chủ động tăng lương bù trượt giá, họ chỉ tăng khi người lao động muốn rời đi.