Nếu ở bài viết trước, các chuyên gia chỉ ra những “khoảng trống” trong cơ chế bảo vệ trẻ em và sự chậm trễ trong phát hiện, can thiệp các vụ bạo hành thì dưới góc độ tâm lý học, hàng loạt vụ việc đau lòng thời gian qua còn cho thấy một thực tế đáng lo ngại khác như bạo lực với trẻ em thường không xuất hiện đột ngột mà âm thầm hình thành, tích tụ trong những gia đình tồn tại xung đột, lệ thuộc cảm xúc và sự mất kiểm soát kéo dài.
Theo các chuyên gia, việc cha mẹ hoặc người thân liên tục có hành vi bạo lực với trẻ không còn là hiện tượng cá biệt mà phản ánh những vấn đề đáng báo động về kỹ năng làm cha mẹ, khả năng quản trị cảm xúc. Đồng thời cho thấy nhiều lỗ hổng trong việc nhận diện sớm nguy cơ và hỗ trợ kịp thời từ gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Hoàng Quốc Lân – Trung tâm Chăm sóc sức khỏe Tinh thần, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông cho rằng, phần lớn cha mẹ đều có bản năng yêu thương con cái, không ai sinh ra đã muốn làm tổn thương con mình.
Tuy nhiên, những sang chấn tâm lý từ quá khứ, áp lực cuộc sống, xung đột hôn nhân hay sự thiếu hụt kỹ năng kiểm soát cảm xúc có thể khiến người lớn dần mất khả năng đồng cảm với trẻ.
Theo ông Lân, có những người từng lớn lên trong môi trường bạo lực, bị dạy dỗ bằng đòn roi nên mặc nhiên xem đánh mắng là cách giải quyết vấn đề.
Trong khi đó, nhiều người khác đang sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài, thất bại, cô đơn hoặc mâu thuẫn gia đình nhưng lại không có phương pháp giải tỏa cảm xúc lành mạnh, từ đó trút giận lên người yếu thế nhất là trẻ nhỏ.
“Điều đáng sợ là bạo lực thường không bắt đầu bằng những hành vi quá nghiêm trọng ngay lập tức, mà đi từ quát mắng, xúc phạm, đe dọa, đánh để “dạy dỗ”, rồi tăng dần mức độ khi người lớn mất kiểm soát và không bị ngăn chặn”, ông Lân phân tích.
Liên hệ với vụ việc đau lòng vừa xảy ra tại Hà Nội, ông Lân cho rằng có thể tồn tại yếu tố “lệ thuộc cảm xúc” và “lệ thuộc sinh tồn”. Theo đó, nhiều người sau đổ vỡ hôn nhân hoặc trong hoàn cảnh cô đơn thường sợ bị bỏ rơi nên bám víu vào mối quan hệ mới như chỗ dựa duy nhất.
Dần dần, họ sống trong tâm thế phải “nhìn sắc mặt” đối phương để tồn tại, sợ bị bỏ đi, sợ mất hỗ trợ kinh tế hoặc không đủ khả năng nuôi con một mình.
Trong thực tế tham vấn tâm lý, chuyên gia này cho biết có không ít người mẹ từng lên tiếng bảo vệ con khi chứng kiến con bị bạo hành.
Tuy nhiên, nếu mỗi lần phản ứng đều dẫn đến cãi vã, bị đe dọa hoặc tiếp tục chịu bạo lực, họ sẽ dần hình thành tâm lý bất lực với suy nghĩ: “Mình không thay đổi được gì” hoặc “im lặng thì mọi chuyện còn yên ổn hơn”.
Dưới góc nhìn nhận thức hành vi, ông Lân cho rằng khi sống quá lâu trong môi trường độc hại, nhận thức của con người cũng dần bị bóp méo.
Họ có xu hướng tự hợp lý hóa hành vi bạo lực bằng những suy nghĩ như: “Con chịu một chút rồi cũng qua”, “Nếu chống lại thì còn tệ hơn” hoặc “Ít nhất con vẫn còn gia đình”.
“Đó là cách con người tự làm giảm cảm giác bất lực và sợ hãi của chính mình”, ông Lân nói.
Ngoài ra khi phải chịu áp lực tâm lý kéo dài, cảm xúc của con người cũng có thể trở nên chai lì. Họ né tránh đối diện với nỗi đau của con vì điều đó khiến bản thân cảm thấy tội lỗi, bất lực và thất bại.
Tuy nhiên theo chuyên gia tâm lý, việc hiểu cơ chế tâm lý không đồng nghĩa với biện minh cho sự im lặng hay đồng lõa. Với trẻ nhỏ việc không được chính cha mẹ bảo vệ cũng là một tổn thương rất sâu sắc.
Theo vị chuyên gia, điều nguy hiểm nhất của bạo lực gia đình là sự leo thang âm thầm. Vì vậy người trong cuộc không nên tự cô lập bản thân hay tự thuyết phục rằng “mọi chuyện rồi sẽ ổn”.
“Khi một người luôn phải nhìn sắc mặt đối phương để sống, luôn lo sợ con làm điều gì đó khiến người kia nổi nóng thì đó đã là một môi trường không an toàn cho cả mẹ và con. Nhiều người sợ mất gia đình, nhưng với trẻ nhỏ điều các con cần nhất không phải là một gia đình đủ hình thức mà là một nơi đủ an toàn để lớn lên”, ông Lân chia sẻ.
Trong quá trình tham vấn, Thạc sĩ Hoàng Quốc Lân từng gặp nhiều đứa trẻ phải chứng kiến cảnh bố mẹ cãi vã triền miên đến mức chính các em là người chủ động nói với mẹ: “Mẹ ly hôn đi”, “Con không cần đủ bố mẹ đâu, con chỉ cần mẹ vui thôi”.
Theo ông, điều đó cho thấy trẻ em cảm nhận được toàn bộ sự căng thẳng và đau khổ trong gia đình, chứ không hề “không biết gì” như nhiều người lớn vẫn nghĩ.
Qua các vụ việc đau lòng gần đây, bác sĩ tâm lý cho rằng điều xót xa nhất là trẻ em gần như không có khả năng tự bảo vệ mình. Các em không thể chống trả, không biết cách cầu cứu đúng cách và nhiều khi vẫn bám víu vào chính người làm tổn thương mình vì đó là người mà các em phụ thuộc để tồn tại.
“Trong quá trình tham vấn, tôi gặp không ít đứa trẻ dù bị đánh vẫn nói: “Con ngoan thì mẹ sẽ thương lại” hoặc “Tại con hư nên con bị đánh”. Trẻ thường có xu hướng đổ lỗi cho bản thân thay vì hiểu rằng mình đang bị tổn thương”, ông Lân chia sẻ.
Theo chuyên gia tâm lý, điều này có thể để lại ảnh hưởng tâm lý kéo dài, khiến trẻ lớn lên với cảm giác mình không xứng đáng được yêu thương hoặc phải chịu đau đớn để giữ một mối quan hệ.
“Cha mẹ không cần hoàn hảo, nhưng ít nhất phải là nơi khiến con cảm thấy an toàn. Không một áp lực tình cảm, hôn nhân hay kinh tế nào nên trở thành lý do để trẻ em phải sống trong sợ hãi hoặc chịu tổn thương”, ông Lân nhấn mạnh.
Đồng quan điểm trên, Thượng tá, TS. Đào Trung Hiếu – chuyên gia tội phạm học nhận định, thực trạng trẻ em bị bạo hành, xâm hại ngay trong chính gia đình là vấn đề đặc biệt nhức nhối và đáng báo động.
Từ những vụ việc liên tiếp xảy ra tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh, điều đau lòng nhất là nơi lẽ ra an toàn nhất đối với trẻ lại trở thành nơi tiềm ẩn nguy cơ tổn thương lớn nhất.
Dưới góc độ tội phạm học, Thượng tá Hiếu cho rằng đây là loại tội phạm có độ ẩn rất cao, bởi hành vi thường diễn ra trong không gian kín, kéo dài âm thầm và bị che giấu bởi nhiều lớp tâm lý, quan hệ gia đình, danh dự và sự lệ thuộc của trẻ vào người lớn.
“Nhiều đứa trẻ không đủ khả năng tự bảo vệ mình, cũng không đủ ngôn ngữ để diễn đạt rằng các em đang bị tổn thương. Có em bị đánh đập trong thời gian dài nhưng nghĩ đó là “dạy dỗ”.
Có em bị xâm hại tình dục nhưng bị đe dọa, thao túng tâm lý hoặc sống trong sợ hãi đến mức không dám lên tiếng. Trong tội phạm học hiện đại, đây được gọi là ‘vòng tròn im lặng’ quanh nạn nhân”, Thượng tá Hiếu phân tích.
Theo ông, khi sự im lặng kéo dài hậu quả không chỉ dừng ở những thương tích trước mắt mà còn để lại sang chấn tâm lý có thể đeo bám trẻ suốt cuộc đời.
Để nhận diện trẻ bị bạo lực hoặc xâm hại, người lớn cần đặc biệt chú ý tới những thay đổi bất thường về tâm lý và hành vi. Một đứa trẻ vốn hoạt bát nhưng bỗng trở nên thu mình, sợ hãi, né tránh tiếp xúc, thường xuyên hoảng loạn, mất ngủ, kết quả học tập sa sút hoặc có biểu hiện chống đối cực đoan đều có thể là tín hiệu cảnh báo.
Đối với trẻ bị xâm hại tình dục, nhiều em thường sợ hãi một người cụ thể, có ám ảnh bất thường về giới tính hoặc rơi vào trạng thái trầm cảm, tự cô lập bản thân.
“Trẻ em thường không “kêu cứu” bằng lời nói trực tiếp mà phát tín hiệu thông qua hành vi và cảm xúc”, Thượng tá Hiếu nói.
Theo chuyên gia tội phạm học, để xây dựng “lá chắn” bảo vệ trẻ em, trước hết cần thay đổi nhận thức xã hội, không thể tiếp tục coi bạo lực với trẻ là chuyện riêng của mỗi gia đình. Trẻ em là chủ thể có quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm và cảm xúc.
Bên cạnh đó, cần trang bị kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ từ sớm, giúp các em nhận biết hành vi xâm hại, biết cách từ chối, cầu cứu và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết.
Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế can thiệp nhanh giữa nhà trường, bệnh viện, công an, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo vệ trẻ em.
Theo ông nhiều bi kịch xảy ra không phải vì không ai biết, mà vì biết nhưng không dám can thiệp, không biết báo cho ai hoặc thiếu quy trình xử lý hiệu quả.
Thượng tá Hiếu đánh giá cao mô hình phối hợp liên ngành giữa bệnh viện, công an, luật sư, hội phụ nữ, báo chí và các tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em hiện nay.
Theo ông, một đứa trẻ bị bạo hành không chỉ cần được cứu chữa về y tế mà còn cần được hỗ trợ pháp lý, chăm sóc tâm lý và đồng hành lâu dài để phục hồi.
“Tuy nhiên, trong quá trình truyền thông cần đặc biệt lưu ý nguyên tắc bảo vệ danh tính và nhân phẩm của trẻ em. Các em không thể trở thành “nhân vật trung tâm” cho sự tò mò hay giật gân. Điều trẻ cần nhất sau tổn thương là được chữa lành, được bảo vệ và được trao lại cảm giác an toàn để tiếp tục lớn lên như một con người bình thường”, ông Hiếu chia sẻ.
Kỳ nghỉ hè năm 2026 của học sinh cả nước đang đến rất gần khi chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là năm học 2025-2026 chính thức khép lại.
Theo khung kế hoạch thời gian năm học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên trên toàn quốc phải hoàn thành chương trình giảng dạy và tổng kết năm học trước ngày 31/5/2026. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh ở hầu hết các tỉnh, thành sẽ bắt đầu bước vào kỳ nghỉ hè muộn nhất từ ngày 1/6.
Tùy vào điều kiện tổ chức dạy học cũng như kế hoạch riêng, một số địa phương có thể cho học sinh nghỉ sớm hơn vài ngày đến khoảng một tuần.
Không chỉ mốc nghỉ hè, Bộ GD&ĐT còn đưa ra hàng loạt thời hạn quan trọng mà phụ huynh và học sinh cần đặc biệt lưu ý.
Trong đó, việc xét công nhận hoàn thành chương trình tiểu học và xét tốt nghiệp THCS phải hoàn tất trước ngày 30/6/2026. Đây là mốc ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh cuối cấp chuẩn bị bước vào giai đoạn chuyển trường, chuyển cấp.
Tiếp đó, công tác tuyển sinh đầu cấp gồm lớp 1, lớp 6 và lớp 10 tại các địa phương phải hoàn thành chậm nhất trước ngày 31/7/2026 để đảm bảo kịp tiến độ chuẩn bị cho năm học mới.
Riêng với học sinh lớp 12, mùa hè năm nay sẽ không thực sự bắt đầu ngay sau lễ bế giảng bởi các em còn bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 diễn ra trong hai ngày 11 và 12/6. Đây được xem là cột mốc quan trọng nhất quyết định cánh cửa đại học cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
Chính vì vậy, dù phần lớn học sinh được nghỉ từ đầu tháng 6 nhưng với nhóm cuối cấp, khoảng thời gian này vẫn là chặng nước rút đầy áp lực trước kỳ thi quyết định.
Theo ghi nhận từ kế hoạch năm học của 34 tỉnh, thành phố đã công bố, đa số đều bám sát khung thời gian chung của Bộ, tức hoàn thành năm học trước ngày 31/5. Một số địa phương lớn như: Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ... cũng triển khai lịch tổng kết vào những ngày cuối tháng 5 để học sinh bắt đầu nghỉ hè từ đầu tháng 6.
Như vậy, số ngày chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, học sinh cả nước sẽ chính thức bước vào kỳ nghỉ hè 2026 kéo dài khoảng gần 3 tháng trước khi tựu trường trở lại vào cuối tháng 8 để chuẩn bị năm học mới.
Đây là quãng thời gian được nhiều gia đình lên kế hoạch cho con nghỉ ngơi, du lịch, học kỹ năng hoặc tham gia các lớp học hè nhằm tái tạo năng lượng sau một năm học nhiều áp lực.
Những ngày tháng 5, chúng tôi tìm đến căn nhà nhỏ của bà Nguyễn Thị Lân ở phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An. Ở cái tuổi ngoài 80, mái tóc đã bạc trắng, làn da đã nhăn nheo, nhưng bà vẫn còn minh mẫn.
Thấy chúng tôi nhắc đến Bác Hồ, ánh mắt của bà lại ánh lên niềm xúc động xen lẫn tự hào. Trong căn phòng khách, nơi dễ nhìn thấy nhất, bà chỉ vào bức ảnh đen trắng chụp cùng Bác Hồ và Đoàn đại biểu Quân khu IV năm 1969. Đây kỷ vật quý giá nhất được bà gìn giữ cẩn thận suốt nhiều năm qua.
"Tôi đứng hàng đầu, ngoài cùng bên trái, cách Bác chỉ chưa đầy một mét đó", bà cười, rồi lặng đi vài giây bởi dòng ký ức ùa về.
Đó là vào năm 1965, khi vừa tròn 21 tuổi, Nguyễn Thị Lân tình nguyện tham gia lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Không lâu sau, cô gái trẻ được điều vào chiến trường Quảng Trị, bắt đầu những tháng ngày gian khổ nhưng hào hùng giữa đại ngàn Trường Sơn.
Tại đây, bà cùng đồng đội đảm nhận nhiệm vụ tải lương thực, vũ khí vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam, trên đường trở ra lại cáng thương binh từ trận mạc về tuyến ngoài để cứu chữa.
"Ngày nào cũng đi từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Bom đạn, sốt rét và thiếu thốn khiến ai cũng gầy gò, xanh xao nhưng không ai lùi bước", cựu thanh niên xung phong nhớ lại.
Sau hai năm ở Trường Sơn, bà tiếp tục được điều về ngã ba Đồng Lộc, nơi được xem là "tọa độ lửa" thời bấy giờ. Tại đây, bà lần lượt giữ chức Đại đội phó rồi Đại đội trưởng Đại đội 557, một đơn vị chủ yếu là nữ thanh niên xung phong.
Bà cùng đồng đội tham gia thông đường để những tuyến xe vận tải đi qua. Thân hình nhỏ nhắn nhưng vô cùng gan dạ, nữ Đại đội trưởng ấy luôn sẵn sàng xông ra mặt đường để các chuyến xe lưu thông được an toàn. Những thành tích của bà góp phần giúp Đại đội 557 về sau được phong tặng Huân chương Độc lập.
Với thành tích xuất sắc, cuối năm 1967, bà Nguyễn Thị Lân lần đầu tiên được chọn vào đoàn đại biểu thanh niên ưu tú ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Dù hôm ấy bà không được gặp Bác ở khoảng cách gần nhưng với bà đó vẫn là niềm hạnh phúc lớn lao.
Bà kể: "Ngày đó, Bác vì lịch trình bận rộn nên không thể gặp riêng từng người, chỉ đứng từ xa vẫy tay và mỉm cười. Với chúng tôi như vậy đã quá vinh dự rồi".
Lần gặp đó đã tiếp thêm sức mạnh cho nữ cựu nữ thanh niên xung phong lòng gan dạ. Tại ngã ba Đồng Lộc, Đại đội trưởng Nguyễn Thị Lân không quản ngại gian khổ, và lập được nhiều chiến công.
Năm 1968, đơn vị của bà được công nhận là Đơn vị Quyết thắng, bản thân bà là một trong số hiếm hoi nữ thanh niên xung phong nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân. Một lần nữa, bà lại vinh dự có mặt trong đoàn đại biểu 23 người Quân khu IV ra Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 6/1969 ở Phủ Chủ tịch. Trước khi vào gặp Bác, trưởng đoàn đã cử 7 đại diện trực tiếp gặp, báo cáo thành tích với Bác, trong đó có bà.
Nhắc lại giây phút ấy, giọng bà nghẹn lại: "Khi Bác bước ra, cả đoàn ùa tới ôm lấy Bác như con cháu lâu ngày gặp lại người thân. Bác nắm tay từng người, hỏi han rất ân cần". Bà nhớ rất rõ, theo thứ tự, bà là người thứ ba lên báo cáo thành tích với Bác. Giọng nói ôn tồn, cử chỉ thân mật của Bác khiến mọi người đều rưng rưng xúc động, nghẹn ngào…
Đã gần 60 năm trôi qua nhưng giây phút ấy, kỷ niệm ấy dường như còn ngưng đọng, lưu giữ trong tâm trí nữ thanh niên xung phong năm nào. Sau khi chiến tranh kết thúc, bà xuất ngũ, lập gia đình. Hai lần gặp Bác Hồ đã trở thành động lực giúp bà vượt qua tất cả khó khăn.
"Lời nói ấm áp, ánh mắt yêu thương, cử chỉ thân mật của Bác Hồ đã luôn thôi thúc tôi phải sống tốt, sống vui, sống khỏe, làm nhiều việc có ích cho Đảng, Nhà nước...", bà Lân vui vẻ nói.
Bà Trần Thị Hường, Thường vụ hỗ trợ thanh niên xung phong phường Trường Vinh, cho biết: "Sau khi xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, bà Lân vẫn hoạt động sôi nổi các hoạt động tại địa phương. Hiện tại, bà Lân đang được hưởng các chính sách của thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến".
Ông Võ Văn Lý, Phó Chủ tịch UBND phường Trường Vinh, thông tin, mới đây, địa phương đã đề nghị xét tặng 31 trường hợp, truy tặng 4 trường hợp trên địa bàn "Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang".
Những ngày này, khu vực cửa biển Sa Cần tấp nập tàu câu mực trở về từ ngư trường Trường Sa. Nhiều tàu của ngư dân xã Bình Sơn và Vạn Tường cập bờ sau hơn hai tháng lênh đênh với khoang hàng đầy mực xà khô – loại hải sản đang được thu mua ở mức cao nhất từ trước đến nay, khoảng 315.000–317.000 đồng/kg. Có tàu sau một chuyến biển thu về doanh thu 8–9 tỷ đồng.
Nhưng thay vì đưa tàu vào quê nhà để bốc dỡ như trước đây, các chủ tàu lại phải tiếp tục cho tàu chạy ra cảng Tam Quang hoặc Kỳ Hà (TP Đà Nẵng) để hoàn tất thủ tục xác nhận nguồn gốc thủy sản rồi mới bán hàng.
Theo quy định của Luật Thủy sản 2017, tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên hoạt động khai thác xa bờ phải cập cảng cá chỉ định để thực hiện các thủ tục xác nhận nguồn gốc, nhật ký khai thác và các quy trình liên quan. Trong khi đó, khu vực cửa biển Sa Cần – nơi neo đậu truyền thống của hàng trăm tàu cá – lại chưa có cảng cá chỉ định.
Thực tế này khiến toàn bộ đội tàu khai thác xa bờ ở khu vực phải "ăn nhờ" hạ tầng của địa phương khác. Không chỉ phát sinh chi phí, việc di chuyển thêm nhiều hải trình cũng khiến ngư dân thêm vất vả sau mỗi chuyến biển dài ngày.
Hiện xã Bình Sơn và Vạn Tường có gần 1.200 tàu cá, trong đó hơn 300 tàu dài từ 15–26m hoạt động khai thác xa bờ. Phần lớn đều neo đậu ở cửa biển Sa Cần nhưng không thể thực hiện việc bốc dỡ sản phẩm tại địa phương.
Là chủ kiêm thuyền trưởng một tàu câu mực dài hơn 24m, ông Bùi Thanh Nghĩa (xã Bình Sơn) cho biết, sau khi kết thúc chuyến biển, tàu lại tiếp tục hành trình vòng ra Kỳ Hà hoặc Tam Quang để làm thủ tục.
"Nếu được cập cảng ở quê thì giờ nào cân hải sản cũng được. Còn ra cảng ngoài tỉnh phải chờ tàu khác xong mới tới lượt mình. Có lúc tàu phải neo ngoài cảng 2–3 ngày mới vào được", ông Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, riêng lượng nhiên liệu phát sinh cho việc di chuyển thêm mỗi chuyến đã tiêu tốn khoảng 200 lít dầu.
Không riêng tàu của ông Nghĩa, nhiều chủ tàu khác cho biết, mỗi năm phải chi thêm hàng chục triệu đồng cho nhiên liệu, vận chuyển và các chi phí phát sinh chỉ vì thiếu cảng cá phù hợp.
Ông Phạm Tiếng, thuyền trưởng tàu cá QNg 95579 TS, cho hay, sau nhiều tháng lênh đênh ngoài biển, tàu cập đất liền nhưng ngư dân vẫn chưa thể trở về nhà ngay mà phải tiếp tục đưa hàng ra các cảng ngoài tỉnh để làm thủ tục.
"Tiền dầu tăng, chi phí thuê xe vận chuyển mực về Quảng Ngãi cũng tăng. Nếu có cảng cá chỉ định ở Sa Cần, mỗi năm bà con giảm được 70–80 triệu đồng chi phí", ông Tiếng nói.
Theo ông, việc thiếu cảng cá không chỉ khiến chủ tàu thêm gánh nặng mà còn ảnh hưởng đến nhiều lao động dịch vụ phụ trợ phía sau nghề biển như bốc vác, vận tải, sơ chế thủy sản. Mỗi con tàu không chỉ tạo việc làm cho lao động trên biển mà còn kéo theo cả chuỗi sinh kế phía sau.
Quảng Ngãi hiện có 5 cảng cá chỉ định. Tuy nhiên, theo ngư dân, nhiều cảng hiện chưa đáp ứng được thực tế hoạt động của đội tàu câu mực công suất lớn. Tàu câu mực địa phương thường dài khoảng 24m, rộng 7–10m; khi lắp thêm giàn phơi mực, chiều ngang có thể vượt 20m. Trong khi đó luồng vào một số cảng cá khá hẹp, chỉ cần vài tàu cùng di chuyển đã tiềm ẩn nguy cơ va chạm.
Ông Võ Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Sơn, cho biết, nghề khai thác thủy sản hiện mang lại nguồn thu hơn 500 tỷ đồng mỗi năm cho địa phương. Quy hoạch cảng cá Sa Cần đã được đưa vào quy hoạch chung nhưng nguồn lực đầu tư vẫn là bài toán khó.
"Địa phương đã nhiều lần kiến nghị cấp trên sớm quan tâm đầu tư cảng cá Sa Cần để phục vụ nhu cầu neo đậu, bốc dỡ thủy sản cho ngư dân trong khu vực", ông Nam nói.
Theo Ban Quản lý các cảng cá tỉnh Quảng Ngãi, việc siết chặt chống khai thác IUU khiến công tác quản lý tàu cá phải tuân thủ nghiêm quy định. Do đó, tàu khai thác xa bờ bắt buộc phải cập cảng cá chỉ định theo quy định pháp luật.