Theo Bộ Y tế, giai đoạn 2021 – 2025, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên tại Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức. Tuy nhiên sự bùng nổ của mạng xã hội cùng những thay đổi trong hành vi sống đang đặt ra hàng loạt thách thức mới, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nhận thức và thực hành an toàn của giới trẻ.
Theo kết quả giám sát sức khỏe quốc gia năm 2024, tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của thanh thiếu niên Việt Nam là 18,7 tuổi. Dù vậy, xu hướng “trẻ hóa” trong quan hệ tình dục đang ngày càng rõ rệt.
Đáng lo ngại, mức độ an toàn tình dục vẫn còn thấp, chỉ khoảng 54% thanh thiếu niên sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ đầu tiên. Tỉ lệ sử dụng bao cao su ở nhóm quan hệ tình dục sớm cũng còn hạn chế.
Bên cạnh đó, tỉ suất sinh ở nhóm vị thành niên giảm chậm, từ 35 xuống còn 30 trẻ sinh sống trên 1.000 phụ nữ trong giai đoạn 2019 – 2024.
Tình trạng phá thai ở tuổi vị thành niên, thanh niên tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn phổ biến. Năm 2022, tỉ lệ phá thai ở nhóm này là 2,12%; đến 9 tháng đầu năm 2024 giảm còn 1,36%, song vẫn cao hơn mục tiêu dưới 1%.
Không chỉ đối mặt nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, giới trẻ còn đứng trước nguy cơ gia tăng các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Hiện nhóm tuổi 15 – 29 chiếm khoảng 50% số ca nhiễm HIV mới. Dịch HIV có xu hướng tập trung ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) trẻ tuổi.
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai, lậu cũng gia tăng nhanh ở thanh thiếu niên. Tại Bệnh viện Da liễu TP.HCM, số ca mắc trong nhóm này đã tăng gấp đôi chỉ trong giai đoạn 2021 – 2023.
Trong khi đó, khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc của thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ vị thành niên, thanh niên biết địa chỉ cung cấp dịch vụ thân thiện và đảm bảo chất lượng chỉ dưới 20 – 30%, đặc biệt thấp ở nhóm dân tộc thiểu số và công nhân di cư.
Từ bối cảnh đó, Bộ Y tế đang xây dựng đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều mục tiêu. Trong đó, đẩy mạnh giáo dục giới tính vào trường học, tăng khả năng tiếp cận biện pháp tránh thai hiện đại cho người trẻ.
Theo dự thảo đề án, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2030 có 85% thanh thiếu niên từ 15 – 24 tuổi hiểu đúng, đầy đủ về phòng tránh mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Cụ thể, đề án hướng tới 100% trường THCS, THPT và cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ đưa nội dung giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vào chương trình chính khóa hoặc ngoại khóa.
Ngoài ra, 50% trường phổ thông dân tộc nội trú được triển khai về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Theo Bộ Y tế, nội dung truyền thông sẽ tập trung vào những vấn đề gần gũi với thanh thiếu niên như tình dục an toàn, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục, địa chỉ khám chữa bệnh thân thiện…
Đề án cũng đặt ra nhiều cách tiếp cận, trong đó các hoạt động sẽ được triển khai đa dạng hơn như tọa đàm, câu lạc bộ đồng đẳng, sân chơi ngoại khóa, video ngắn trên mạng xã hội, ứng dụng số, chatbot tư vấn ẩn danh…
Bộ Y tế đề xuất xây dựng nền tảng số quốc gia cung cấp kiến thức chính xác về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; tích hợp tư vấn trực tuyến và bản đồ các cơ sở y tế thân thiện với thanh thiếu niên nhằm giảm tâm lý e ngại khi tiếp cận dịch vụ.
Những nhóm đặc thù như thanh niên công nhân, người dân tộc thiểu số, thanh niên di cư… sẽ có các gói truyền thông riêng phù hợp điều kiện sống và làm việc.
Ở nhóm giải pháp cung cấp dịch vụ, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50% cơ sở y tế công lập từ cấp cơ bản trở lên đạt tiêu chuẩn thân thiện với vị thành niên, thanh niên theo hướng dẫn quốc gia.
Theo đó, các trạm y tế, cơ sở khám chữa bệnh được khuyến khích bố trí “góc thân thiện” hoặc luồng khám riêng để đảm bảo riêng tư, tư vấn không phán xét cho người trẻ.
Đề án cũng hướng tới phát triển các mô hình mới như phòng khám sức khỏe sinh sản tại khu công nghiệp; gói dịch vụ thiết yếu cho thanh niên công nhân; đội y tế lưu động phục vụ vùng sâu, vùng xa. Đồng thời triển khai tư vấn tâm lý kết hợp chăm sóc sức khỏe sinh sản trong trường học và nhà thuốc thân thiện với thanh thiếu niên.
Bộ Y tế cũng khuyến khích mở rộng khả năng tiếp cận bao cao su và các biện pháp tránh thai hiện đại tại siêu thị, cửa hàng tiện ích nhằm giúp người trẻ tiếp cận dễ dàng hơn.
Theo mục tiêu đề án, đến năm 2030, 80% nhu cầu sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15 – 24 tuổi sẽ được đáp ứng.
Đề án xác định nhiều nhóm cần ưu tiên can thiệp như trẻ vị thành niên từ 10 – 13 tuổi, thanh niên chưa kết hôn, người khuyết tật, thanh niên di cư, đồng bào dân tộc thiểu số, công nhân trẻ tại khu công nghiệp và cả nhóm đồng giới.
Ngoài thanh thiếu niên, các đối tượng như phụ huynh, giáo viên, cán bộ đoàn và nhân viên y tế cũng được xem là nhóm cần được đào tạo, nâng cao kỹ năng tư vấn.
Bộ Y tế cho rằng việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho người trẻ không chỉ là vấn đề y tế mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng dân số, sức khỏe tinh thần, tương lai lao động và phát triển xã hội.
Theo kế hoạch, đề án sẽ được triển khai trên phạm vi toàn quốc từ năm 2026 đến hết năm 2030.
Buổi chiều tan trường, trong khi bạn bè nán lại trò chuyện, Khải Đan, nhân viên văn phòng ở Tây Ninh, chỉ có một mục tiêu duy nhất là chạy thẳng vào nhà vệ sinh, lột bỏ chiếc áo dài ra, rồi mới chịu về nhà. Đó là nghi thức "bất thành văn" suốt những năm cấp ba, không phải vì nóng, không phải vì bất tiện, mà vì với Đan, "mỗi phút mặc bộ đồng phục nữ là một phút đang sống sai người".
Khải Đan năm nay 26 tuổi, sinh ra với cơ thể nữ nhưng luôn cảm nhận mang bản dạng giới nam. Hành trình để được nhìn thấy chính mình trong gương mà không cảm thấy xa lạ kéo dài gần một thập kỷ - qua những buổi sáng cố "uốn" bản thân vào khuôn, những mối quan hệ bị cắt đứt "không kèn không trống", và một cuộc đối thoại với gia đình mà Đan đã phải chuẩn bị tâm lý rất lâu trước khi dám mở miệng.
Tình trạng Đan trải qua có tên chuyên môn là gender dysphoria, tức là sự bất đồng nhất giữa cơ thể sinh học và bản dạng giới. Người trải qua tình trạng này thức dậy mỗi ngày với nhận thức rằng cơ thể vật lý của họ phản bội lại chính bản đồ giới tính được lập trình sẵn trong não bộ.
Hiệp hội Tâm thần học Mỹ định nghĩa nó là "sự đau khổ tâm lý sâu sắc phát sinh từ sự bất đồng nhất giữa giới tính sinh lý và bản dạng giới nội tại. Sự đè nén liên tục này bào mòn sức khỏe tinh thần, buộc người trong cuộc phải tiêu tốn năng lượng khổng lồ chỉ để duy trì các hoạt động sống cơ bản".
Bức tranh dịch tễ học toàn cầu cho thấy tình trạng này hiện diện ở mọi quốc gia. Theo các nghiên cứu công bố trên Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ, thế giới có khoảng 25 triệu người tự nhận diện là người chuyển giới. Tỷ lệ tự báo cáo về sự khác biệt giới tính chiếm từ 0,5% đến 1,3% dân số nói chung.
Số liệu từ Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cũng cho thấy người mắc tình trạng này có nguy cơ cao bị lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ và tự cô lập; tỷ lệ có ý nghĩ tự sát trong nhóm người chuyển giới chưa được hỗ trợ lên tới hơn 40%, cao gấp nhiều lần so với dân số chung.
Đan không biết những con số đó khi còn ở tuổi dậy thì. Điều Đan biết là bản thân luôn thấy sai lệch với những gì các cô gái cùng lứa thích, sai lệch với cái tên khai sinh đầy nữ tính, sai lệch với những đại từ "con này", "con kia" mà người xung quanh dùng như lẽ hiển nhiên.
"Giải pháp tức thời của tôi lúc đó rất đơn giản: ai gọi sai, cắt liên lạc. Không giải thích, không tranh cãi", Đan tâm sự.
Đến năm lớp 10, Đan quyết định đấu tranh để được mặc đồng phục nam trong suốt học kỳ 1. Nhà trường chấp nhận. Đó là lần đầu tiên Đan nhận ra rằng thế giới bên ngoài, dù chậm, vẫn có thể dịch chuyển.
Thế nhưng, những tổn thương nhỏ vẫn tích tụ theo từng ngày. Thạc sĩ Tâm lý Lâm sàng Vương Nguyễn Toàn Thiện, Giám đốc Chuyên môn Trung tâm Tham vấn Trị liệu Tâm lý Lumos, gọi đây là "microaggression" - các hành vi, lời nói phủ nhận bản sắc thoạt nhìn có vẻ nhỏ nhặt nhưng lặp lại đủ lâu sẽ gây tổn thương tích lũy.
"Một người có bản dạng giới nam nhưng buộc phải sống như nữ sẽ liên tục rơi vào cảm giác đang đóng vai thay vì được là chính mình", ông nói. "Về lâu dài, họ dễ rơi vào cô độc, xấu hổ và luôn sống trong cảnh giác vì sợ bị phán xét".
Với Đan, trạng thái đó kéo dài nhiều năm, bên ngoài vẫn học tập, làm việc bình thường, nhưng bên trong là sự kiệt sức âm ỉ. "Giống như phải mang một chiếc mặt nạ 24/7". Đan mô tả. "Đó là nguyên nhân lớn khiến mình bị stress".
Điểm tựa duy nhất trong những năm tháng đó là một lời hứa với chính mình là chỉ cần còn sống thì mọi chuyện đều có thể giải quyết. Câu tự nhủ ấy nghe có vẻ tối giản, nhưng với Đan, nó đủ để giữ bản thân không bước qua ranh giới nguy hiểm.
Bước ngoặt đến khi Đan quyết định nói thật với gia đình và bạn bè thân thiết. Đan đã chuẩn bị cho một kịch bản xấu, từ phán xét, từ chối đến im lặng lạnh. Thay vào đó, họ ôm Đan lại. Sự chấp nhận ấy không chỉ là cảm xúc, nó có cơ sở khoa học. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Pediatrics năm 2019 cho thấy những người chuyển giới trẻ tuổi được ít nhất một thành viên gia đình chấp nhận có tỷ lệ trầm cảm và ý nghĩ tự sát thấp hơn đáng kể so với những người không nhận được sự hỗ trợ đó.
"Bản thân không việc gì phải tiếp tục trốn trong một chiếc vỏ bọc sai lệch nữa", Đan nói.
Giai đoạn can thiệp y tế, theo Đan, lại là phần dễ nhất của cả hành trình. Khi bắt đầu liệu pháp hormone testosterone qua đường uống và tiêm định kỳ, cơ thể Đan thay đổi theo từng tuần. Giọng nói trầm xuống dần, từng nốt một, "như một nhạc cụ đang được lên dây lại đúng tông".
Lớp mỡ phân bổ lại, đường nét khuôn mặt góc cạnh hơn, cơ bắp phát triển và lông tóc trên cơ thể dày lên theo đúng kiểu hình nam giới. Chu kỳ kinh nguyệt hoàn toàn chấm dứt, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc đồng bộ hóa lớp vỏ sinh lý với bản dạng giới nam của Đan.
Giờ đây, soi gương và nhìn thấy hình ảnh người đàn ông trước mặt, Đan cảm thấy mãn nguyện. "Hãy tìm cho mình một lý do đủ lớn để bước ra. Chỉ cần lý do đó đủ ý nghĩa với bạn, bạn sẽ có sức để đi đến tận cùng", Đan bày tỏ.
Khoản 2 điều 9 Thông tư 01/2025/TT-BYT (Thông tư 01/2025) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BHYT, các trường hợp chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) BHYT theo đúng trình tự bao gồm:
Chuyển người bệnh giữa các cơ sở KCB BHYT trong cùng cấp KCB; từ cơ sở KCB cấp ban đầu đến cơ sở KCB cấp cơ bản; từ cơ sở KCB cấp cơ bản đến cơ sở KCB cấp chuyên sâu theo yêu cầu chuyên môn, tình trạng của người bệnh hoặc vượt khả năng đáp ứng của cơ sở KCB.
Chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp ban đầu đến cơ sở KCB cấp chuyên sâu trong trường hợp vượt khả năng đáp ứng của cơ sở KCB cấp cơ bản tại tỉnh.
Chuyển người bệnh đã điều trị ổn định từ cơ sở KCB cấp chuyên sâu về cơ sở KCB cấp cơ bản hoặc cấp ban đầu; chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp cơ bản về cơ sở KCB cấp ban đầu để tiếp tục điều trị, theo dõi.
Chuyển người bệnh từ cơ sở KCB cấp chuyên sâu hoặc cấp cơ bản về cơ sở KCB BHYT ban đầu để điều trị, quản lý, theo dõi đối với các bệnh mạn tính (theo quy định tại điều 10 Thông tư 01/2025).
Quy định cũng nêu rõ, cơ sở KCB BHYT chuyển người bệnh về quản lý, theo dõi, điều trị tại cơ sở KCB BHYT cấp ban đầu có trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin với cơ sở tiếp nhận bảo đảm cung ứng thuốc, thiết bị y tế và không ảnh hưởng đến quá trình điều trị của người bệnh; chuyển thuốc, thiết bị y tế trong thời gian cơ sở KCB tiếp nhận người bệnh chưa có sẵn thuốc, thiết bị y tế để cung cấp cho người bệnh…
Ngày 15/5, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho biết, các bác sĩ Khoa Thăm dò chức năng của đơn vị vừa gắp thành công bàn chải dài 20cm trong dạ dày người bệnh.
Trước đó, Khoa Thăm dò chức năng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình tiếp nhận trường hợp bệnh nhân nữ (31 tuổi), nhập viện trong tình trạng nuốt phải bàn chải khi vệ sinh lưỡi.
Qua thăm khám và nội soi ống tiêu hóa, các bác sĩ phát hiện dị vật mắc kẹt trong lòng dạ dày. Sau khi hội chẩn, ê-kíp đã nhanh chóng thực hiện thủ thuật nội soi can thiệp để gắp bỏ.
Dị vật là một chiếc bàn chải dài khoảng 20cm, đường kính lớn nhất khoảng 3cm, còn nguyên vẹn được lấy ra ngoài an toàn. Ngay sau thủ thuật, người bệnh tỉnh táo, không đau đớn, thể trạng ổn định và được xuất viện trong ngày.