Hưng cao 1,37 m, nặng 26 kg, BS.CKI Nguyễn Đông Bảo Châu, khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, ghi nhận thấp hơn mức chiều cao và cân nặng trung bình của bé trai tuổi này theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Ở tuổi 13, trẻ theo chuẩn cao từ 1,56 m và nặng khoảng 44 kg.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu, siêu âm thận cho thấy Hưng bị thiếu hụt đồng thời ba vi chất quan trọng gồm kali, canxi và magie. Bác sĩ Châu chẩn đoán bé mắc hội chứng Bartter kèm vôi hóa thận và chậm phát triển thể chất.
“Bartter là một dạng rối loạn thận – nội tiết, tỷ lệ mắc khoảng 1,2/1.000.000 trẻ”, bác sĩ Châu giải thích. Bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, nghĩa là trẻ mắc bệnh khi nhận đồng thời gene bệnh từ cả bố lẫn mẹ.
Ở trẻ mắc hội chứng Bartter, thận không giữ được các chất điện giải thiết yếu, dẫn đến rò rỉ chất điện giải. Sự mất cân bằng kéo dài khiến trẻ mệt mỏi, yếu cơ, ảnh hưởng đến tim mạch, thần kinh, phát triển chiều cao. Lâu dài, canxi lắng đọng tại thận gây vôi hóa thận và suy giảm chức năng thận.
Do chị ruột mắc bệnh, Hưng đã được phát hiện bệnh sớm và bổ sung điện giải từ nhỏ. Đến tuổi dậy thì, giai đoạn nhu cầu vi chất tăng cao, tình trạng mất bù điện giải khiến các biểu hiện bệnh trở nên rõ rệt. Hưng mệt mỏi, ăn kém, khó gắng sức và chậm phát triển so với bạn bè.
Bác sĩ Châu cho rằng Hưng đang trong giai đoạn dậy thì, nhu cầu vi chất tăng cao, nên việc bổ sung trước đó không còn đủ đáp ứng, gây thiếu hụt nghiêm trọng.
Kali là chất điện giải chủ yếu trong tế bào, có vai trò duy trì cân bằng điện giải, phát triển hệ cơ bắp, hỗ trợ dẫn truyền thần kinh, ổn định huyết áp. Cơ thể thiếu kali gây mỏi cơ, chuột rút, yếu cơ, thậm chí rối loạn nhịp tim, ảnh hưởng đến chức năng thận. Canxi là nền tảng của hệ xương và răng, đồng thời tham gia vào quá trình co cơ, dẫn truyền thần kinh và đông máu. Trẻ thiếu chất dinh dưỡng này có nguy cơ còi xương, loãng xương sớm, chậm tăng chiều cao. Magie tham gia điều hòa hoạt động của kali và canxi.
Bác sĩ Châu điều chỉnh liều lượng bổ sung kali, canxi, magie dạng uống, kê thuốc hỗ trợ giảm bài tiết chất điện giải qua thận cho Hưng. Đồng thời, bác sĩ tư vấn chế độ dinh dưỡng cá thể hóa theo nhu cầu tăng trưởng, kết hợp vận động thể lực phù hợp.
Sau một tháng tuân thủ phác đồ điều trị, chỉ số điện giải trong máu cải thiện dần. Hưng có thể tham gia một số hoạt động thể chất vừa sức như đi bộ, chạy xe đạp.
Hội chứng Bartter vẫn chưa có phương pháp điều trị dứt điểm, điều trị chủ yếu nhằm duy trì cân bằng điện giải suốt đời. Trẻ mắc bệnh cần tuân thủ dùng thuốc và tái khám định kỳ nhằm phát hiện và xử trí sớm bất thường. Nếu tự ý bỏ thuốc hoặc tự điều chỉnh liều lượng thuốc, trẻ có thể bị hạ kali máu cấp, gây rối loạn nhịp tim, yếu cơ nặng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Nếu trẻ có dấu hiệu mệt mỏi kéo dài, thở gắng sức, đột ngột yếu cơ nhiều, tim đập nhanh hoặc không đều, co cơ mạnh, mất ý thức… phụ huynh cần đưa trẻ đến bệnh viện khám sớm.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, điều trị đích là một phương pháp hiện đại trong điều trị ung thư. Thay vì dùng hóa trị truyền thống tấn công cả tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh, điều trị đích tập trung vào những điểm yếu riêng của tế bào ung thư.
Đó có thể là một gen, một protein, hoặc một tín hiệu bất thường mà chỉ tế bào ung thư mới có.
Nhờ cách tiếp cận này, điều trị đích giúp tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả hơn. Đồng thời, nó cũng ít gây hại cho các tế bào khỏe mạnh, giúp giảm tác dụng phụ khó chịu cho người bệnh.
Về cơ chế hoạt động, các thuốc điều trị đích có thể: ngăn chặn các tín hiệu bất thường ra lệnh cho tế bào ung thư lớn lên và nhân đôi nhanh chóng. Như vậy, khối u sẽ không thể phát triển.
Các thuốc điều trị đích ngăn chặn việc hình thành các mạch máu mới. Mạch máu này vốn dùng để cung cấp ô xy và dinh dưỡng cho khối u. Khi không có đủ "thức ăn", khối u sẽ khó sống và phát triển.
Các thuốc này đưa thuốc hóa chất trực tiếp đến tế bào ung thư, gắn thuốc hóa chất vào kháng thể đặc hiệu để vận chuyển chính xác tới tế bào ung thư.
Đối với một số loại ung thư cần hormone để lớn lên (như ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến...), thuốc đích sẽ chặn hoặc cắt nguồn hormone đó, làm khối u teo đi.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, trước khi quyết định điều trị đích, bác sĩ cần có kết quả xét nghiệm của người bệnh để tìm ra những đặc điểm riêng của khối u ung thư (gọi là "dấu ấn sinh học" hoặc "điểm đích"). Nếu khối u có những "điểm đích" mà thuốc có thể tấn công, thì khả năng điều trị thành công bằng thuốc đích sẽ cao hơn. Thuốc điều trị đích hoạt động như một "mũi tên" đi đến những điểm yếu riêng của tế bào ung thư, nhờ vậy, có thể diệt khối u hiệu quả hơn.
Vì thuốc chỉ tấn công vào tế bào ung thư có "điểm đích" đặc hiệu, nên ít làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể. Điều này giúp giảm bớt các tác dụng phụ khó chịu so với hóa trị thông thường.
Nhưng thuốc đích chỉ có tác dụng khi khối u ung thư mang "điểm đích" mà thuốc nhắm tới. Thuốc không hiệu quả nếu khối u không có "điểm đích" phù hợp.
Ngay cả khi phù hợp, vẫn có nguy cơ kháng thuốc. Vì sau một thời gian điều trị, các tế bào ung thư có thể thay đổi và trở nên "khôn ngoan" hơn, tìm cách "né" thuốc. Khi đó, thuốc sẽ dần mất đi hiệu quả, gọi là hiện tượng "nhờn thuốc" hoặc "kháng thuốc".
Ngoài ra, thuốc đích vẫn có thể gây tác dụng phụ. Mặc dù thường nhẹ hơn hóa trị, nhưng người bệnh vẫn có thể gặp các tác dụng phụ như tiêu chảy, rối loạn chức năng gan, hay các tác dụng phụ trên da, niêm mạc…
Mỗi người bệnh là một trường hợp khác nhau. Bác sĩ sẽ giúp người bệnh làm các xét nghiệm cần thiết, tư vấn và cùng người bệnh lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất, phù hợp nhất với tình trạng bệnh.
Chồng chị, 38 tuổi, bị thương nặng sau tai nạn giao thông, cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Hội đồng chuyên môn ba lần chẩn đoán chết não. Anh là trụ cột chính trong gia đình, nuôi ba con nhỏ, công việc chính là đi giao hàng, gặp tai nạn trong một chuyến giao hàng.
Bố của anh cũng đang điều trị tại Đơn vị Thận lọc máu của bệnh viện này. Gia đình quyết định hiến tặng các mô, tạng của anh để ghép cứu sống nhiều bệnh nhân khác.
Trước khi rút ống thở, người vợ lặng lẽ vào phòng để nói lời vĩnh biệt. Bàn tay chị run rẩy khẽ chạm vào mặt chồng lần cuối cùng. Sau đó, kíp bác sĩ rút ống thở, đứng cúi đầu một phút mặc niệm.
"Cả cuộc đời con tôi làm nhiều việc thiện, đến lúc mất vẫn có thể cứu được nhiều người", mẹ của người hiến tạng, nói.
Ngày 11/5, đại diện Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh cho biết đã kích hoạt quy trình lấy - ghép tạng với sự tham gia của khoảng 100 y bác sĩ, kỹ thuật viên và nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM.
Các tạng được hiến gồm một trái tim, hai thận, hai lá gan và hai giác mạc. Trong đó, tim và một phần tạng được vận chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để ghép, số tạng còn lại chuyển vào Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM. Hai quả thận được ghép ngay tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh.
Đây là trường hợp hiến tạng thứ 4 tại Quảng Ninh và là lần thứ hai lấy ghép tạng tại bệnh viện đa khoa tỉnh.
Ghép tạng là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học nhân loại từ thế kỷ 20. Đây là phương pháp cuối cùng trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, hiểm nghèo do các mô, tạng bị suy giảm chức năng và không hồi phục như suy thận mạn, gan, tim, tủy, hỏng giác mạc...
Ca ghép tạng từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam thực hiện hồi tháng 5/2010. Đến nay, hơn 9.500 ca ghép tạng thành công, trong đó nhiều nhất là ghép thận, gan...
Ngày 29.4, tin từ Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long cho biết, các bác sĩ của bệnh viện vừa điều trị thành công một trường hợp chấn thương cột sống nặng do tai nạn lao động ngã từ giàn giáo.
Trước đó, nam bệnh nhân T.H.H (39 tuổi, ở xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) nhập viện do ngã từ giàn giáo cao khoảng 1,7 m trong lúc lao động. Bệnh nhân đau lưng nhiều, đau vùng háng trái, vận động hạn chế kèm tình trạng tê vùng mông, yếu 2 chi dưới và tiêu tiểu không tự chủ.
Tại thời điểm thăm khám, bác sĩ ghi nhận sức cơ 2 chân giảm còn 1 - 2/5, nghi ngờ tổn thương thần kinh nặng vùng cột sống thắt lưng - cùng. Bệnh nhân được chỉ định thực hiện các cận lâm sàng khẩn cấp để đánh giá toàn diện tình trạng chấn thương.
Kết quả chụp MRI cột sống thắt lưng ghi nhận xẹp đốt sống L1, mảnh gãy phía sau thân sống di lệch ra sau chèn ép bao màng cứng, gây hẹp nặng ống sống với đường kính trước sau chỉ còn khoảng 6 mm. Đồng thời, X-quang khung chậu thẳng và CT vùng hông đùi trái ghi nhận hình ảnh theo dõi hoại tử chỏm xương đùi trái.
Nhận định đây là trường hợp cấp cứu ngoại khoa có nguy cơ để lại di chứng liệt và rối loạn cơ tròn nếu chậm trễ điều trị, các bác sĩ Khoa Ngoại Thần kinh, Ngoại Chấn thương và Ngoại Tổng quát nhanh chóng hội chẩn liên chuyên khoa. Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng chùm đuôi ngựa do xẹp đốt sống L1 chèn ép thần kinh và được chỉ định phẫu thuật cấp cứu giải ép ống sống.
Trong quá trình phẫu thuật, ê kíp đã giải ép rộng ống sống, lấy bỏ mảnh xương chèn ép, xử trí tổn thương màng tủy và phục hồi giải phẫu vùng tổn thương nhằm bảo tồn tối đa chức năng vận động cho người bệnh.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt. Đến ngày thứ 5, bệnh nhân tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ khô, lành tốt, sức cơ 2 chi dưới cải thiện lên 4/5, có thể ngồi dậy và tập đi lại với hỗ trợ. Dự kiến, bệnh nhân sẽ được xuất viện vào ngày thứ 7 sau phẫu thuật và tiếp tục chương trình phục hồi chức năng.
Thạc sĩ - bác sĩ Trầm Quốc Thuần, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long, cho biết hội chứng chùm đuôi ngựa là tình trạng cấp cứu thần kinh cần được chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời. Nếu trì hoãn điều trị, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ yếu liệt 2 chân, rối loạn tiểu tiện kéo dài và giảm chất lượng cuộc sống. Với trường hợp này, việc phẫu thuật đúng thời điểm đã góp phần quan trọng trong quá trình hồi phục của bệnh nhân.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực xây dựng và làm việc trên cao, cần tuân thủ nghiêm các quy định an toàn lao động, sử dụng đầy đủ thiết bị bảo hộ để hạn chế nguy cơ tai nạn lao động đáng tiếc.