Đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực đợt ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ được tổ chức vào sáng mai 5.4, tại 57 đơn vị thuộc 15 tỉnh, thành phố gồm: Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ và Cà Mau.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho biết quy định đầu tiên thí sinh cần lưu ý khi tham dự kỳ thi đánh giá năng lực liên quan đến yếu tố thời gian.
Theo quy định của hội đồng thi, thí sinh cần có mặt tại phòng thi đúng thời gian quy định trong giấy báo dự thi để làm thủ tục dự thi. Khi đi thi, thí sinh cần mang theo và xuất trình đầy đủ các giấy tờ theo quy định ghi trong giấy báo dự thi, gồm có: giấy tờ tùy thân hợp lệ và giấy báo dự thi.
Giấy tờ tùy thân hợp lệ là bản chính, còn hạn sử dụng của Thẻ Căn cước/Căn cước công dân đã sử dụng để đăng ký dự thi có thông tin cá nhân, số căn cước trùng khớp với thông tin đã đăng ký dự thi hoặc hộ chiếu đối với thí sinh không có quốc tịch Việt Nam.
Trường hợp thí sinh không có giấy tờ tùy thân hợp lệ nêu trên, thí sinh phải có mặt tại phòng hội đồng của điểm thi trước giờ gọi thí sinh vào phòng thi ít nhất 30 phút, xuất trình giấy báo dự thi và Căn cước điện tử trên VNeID (có thông tin cá nhân, số căn cước trùng khớp thông tin đã đăng ký dự thi) để được kiểm tra, giải quyết. Nếu thí sinh đến sau 7 giờ 45 phút sẽ không được giải quyết dự thi.
Nhưng trong vòng 7 ngày sau ngày thi, thí sinh phải nộp bản chính giấy xác nhận của chính quyền địa phương nếu bị mất giấy tờ tùy thân hoặc bản sao y chứng thực Thẻ căn cước/hộ chiếu (thời gian chứng thực trong 7 ngày kể từ ngày thi) về Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo để được cấp kết quả thi. Thí sinh không đáp ứng các yêu cầu tại điểm b hoặc c khoản này sẽ không được tham gia kỳ thi”, tiến sĩ Chính lưu ý.
Trường hợp thí sinh không mang theo giấy báo dự thi, thí sinh phải có mặt tại Phòng hội đồng trước giờ gọi thí sinh vào phòng thi ít nhất 30 phút để làm các thủ tục cần thiết. Nếu thấy có những sai sót về họ tên (họ, tên đệm, tên), ngày sinh (ngày, tháng, năm sinh), số căn cước, thí sinh phải có mặt tại Phòng hội đồng trước giờ tập trung thí sinh tối thiểu 30 phút để được kiểm tra, xử lý. Đối với các thông tin cá nhân khác bị sai sót, thí sinh tự điều chỉnh trên trang thông tin của kỳ thi trong vòng 3 ngày sau ngày thi.
“Thí sinh cần chấp hành hiệu lệnh của ban coi thi và hướng dẫn của cán bộ coi thi. Thí sinh đến cửa phòng thi sau khi có hiệu lệnh bắt đầu tính giờ làm bài 15 phút, tức sau 8 giờ 45 phút sẽ không được dự thi.
Theo quy định của Hội đồng thi kỳ thi đánh giá năng lực đợt 1 năm 2026 ĐH Quốc gia TP.HCM, thí sinh lưu ý nhiều điều không được làm trong phòng thi.
Trước khi làm bài thi, phải ghi đúng, đầy đủ số báo danh, mã đề thi và thông tin cá nhân vào đề thi, Phiếu trả lời trắc nghiệm và giấy nháp. Trong đó, trên phiếu trả lời trắc nghiệm, thí sinh điền chính xác và đủ thông tin vào các mục trống, chỉ được viết bằng một loại mực cùng màu, không được dùng mực màu đỏ.
Nếu phát hiện thấy đề thi bị lỗi, mã đề thi không thống nhất giữa các trang, thiếu trang, rách, hỏng, nhoè, mờ hay các lỗi khác phải báo cáo ngay với cán bộ coi thi trong phòng thì, chậm nhất 15 phút sau khi phát đề. Sau khi kiểm tra đề thi, phải úp đề thi, để đề thi dưới tờ phiếu trả lời trắc nghiệm; không được xem nội dung đề thi khi cán bộ coi thi chưa cho phép.
Phải làm bài thi trên phiếu trả lời trắc nghiệm được in sẵn và được cán bộ coi thi phát. Không được đánh dấu hoặc làm ký hiệu riêng. Chỉ được tô bằng bút chì đen các ô số báo danh, ô mã đề thi và ô trả lời. Trong trường hợp tô nhầm hoặc muốn thay đổi câu trả lời, phải tẩy sạch chỉ ở ô cũ, rồi tô ô mà mình lựa chọn. Chỉ được sử dụng giấy nháp của kỳ thi do cán bộ coi thi phát; không được viết, vẽ lên giấy báo dự thi hay các vật dụng, giấy tờ không do cán bộ coi thi phát.
Thí sinh không được trao đổi, quay cóp hoặc có những cử chỉ, hành động gian lận và làm mất trật tự phòng thi. Muốn phát biểu phải giơ tay để báo cáo cán bộ coi thi. Khi được phép nói, thí sinh đứng trình bày công khai với cán bộ coi thi ý kiến của mình. Không được hút thuốc lá, ăn uống gây ồn ào, mất trật tự trong phòng thi.
Bảo quản bài thi nguyên vẹn, không để người khác lợi dụng. Nếu phát hiện có người khác xâm hại đến bài thi của mình phải báo cáo ngay cho cán bộ coi thi để xử lý. Thí sinh không được nộp bài thi trước khi hết giờ làm bài;
Thí sinh không được rời khỏi phòng thi trong suốt thời gian làm bài thi. Trong trường hợp cần thiết, chỉ được ra khỏi phòng thi khi được phép của cán bộ coi thi và phải chịu sự giám sát của cán bộ giám sát.
Nếu vi phạm quy định, thí sinh có thể bị lập biên bản, xử lý vi phạm từ mức khiển trách, cảnh cáo, đình chỉ thi, trừ điểm bài thi và hủy bỏ kết quả thi. Với các hành vi vi phạm có dấu hiệu hình sự, Hội đồng thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM lập hồ sơ gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Có những quyết định nhân sự, nếu nhìn riêng lẻ, chỉ là một chuyển động bình thường trong bộ máy hành chính. Nhưng đặt trong một thời điểm đặc biệt, nó có thể gợi ra những suy nghĩ rộng hơn về nhu cầu quản trị của một ngành.
Việc một nhân sự có nền tảng luật học, từng trải qua môi trường đào tạo luật, đào tạo chức danh tư pháp, quản trị đại học và quản lý nhà nước, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ GD-ĐT diễn ra đúng vào lúc dư luận đang đặc biệt quan tâm đến vụ việc thi cử ở Tuyên Quang khiến câu chuyện trở nên đáng chú ý hơn. Bởi Tuyên Quang không chỉ là một vụ việc giáo dục. Nhìn từ góc độ pháp lý, đây là một bài kiểm tra rất lớn đối với năng lực quản trị kỳ thi, kiểm soát quyền lực trong phòng thi, xử lý khủng hoảng và năng lực bảo vệ công bằng của hệ thống giáo dục.
Trong nhiều năm khi nói đến giáo dục, chúng ta thường nói nhiều đến chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, chất lượng giáo viên, áp lực thi cử, tự chủ đại học. Những vấn đề đó đều quan trọng. Nhưng vụ việc ở Tuyên Quang cho thấy một vấn đề khác cũng quan trọng không kém. Đó là giáo dục cần được quản trị bằng pháp luật một cách chặt chẽ hơn.
Một kỳ thi quốc gia không thể chỉ dựa vào đạo đức của người coi thi. Trong quản trị công, chỉ trông chờ vào đạo đức là chưa đủ. Nơi nào có quyền lực, nơi đó phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Phòng thi cũng là một không gian quyền lực. Trưởng điểm thi có quyền điều hành, giám thị có quyền giám sát thí sinh, cán bộ coi thi có quyền lập biên bản, nhắc nhở, xử lý tình huống. Khi thứ quyền lực ấy không được kiểm soát tốt thì e rằng sự công bằng của kỳ thi có thể bị xâm phạm từ chính bên trong hệ thống.
Điều đáng lo trong vụ việc ở Tuyên Quang không chỉ là con số điểm 10 bất thường. Điều đáng lo hơn là nếu kết quả điều tra chứng minh sai phạm phát sinh từ người có nhiệm vụ tổ chức, coi thi, giám sát thi, thì sự cố này đã vượt ra khỏi phạm vi một sai sót nghiệp vụ. Nó đặt ra câu hỏi về trách nhiệm công vụ, về cơ chế phân công, về giám sát nội bộ, về báo cáo bất thường và về khả năng phát hiện sớm rủi ro trong kỳ thi.
Trong môi trường giáo dục, tư duy pháp lý có vai trò rất quan trọng. Tư duy pháp lý trước hết đòi hỏi không được quy chụp. Không thể vì một điểm thi có bất thường mà mặc nhiên coi mọi thí sinh đạt điểm cao là gian lận. Không thể vì một số cán bộ coi thi có dấu hiệu sai phạm mà phủ nhận nỗ lực học tập thật sự của những học sinh ngay tình. Nhưng tư duy pháp lý cũng không cho phép sự dễ dãi. Nếu có thí sinh chủ động móc nối, biết rõ hành vi gian lận, cùng tham gia hoặc cố ý hưởng lợi từ sai phạm, thì cũng không thể xem các em hoàn toàn là nạn nhân. Công bằng trong pháp luật không nằm ở sự thương cảm chung chung. Công bằng nằm ở việc cá thể hóa trách nhiệm. Ai có lỗi đến đâu, xử lý đến đó. Ai không có lỗi, phải được bảo vệ đến cùng.
Vụ Tuyên Quang vì vậy đang đặt Bộ GD-ĐT trước một bài toán rất khó. Nếu xử lý quá nhẹ, kỷ cương kỳ thi bị tổn thương. Nếu xử lý quá rộng, quyền lợi của thí sinh ngay tình có thể bị xâm phạm. Nếu thi lại vội vàng, có thể tạo thêm bất công mới. Nếu không thi lại trong khi kết quả thi đã bị tác động nghiêm trọng, niềm tin xã hội lại tiếp tục bị bào mòn.
Trong bối cảnh đó, việc lãnh đạo Bộ GD-ĐT có thêm nhân sự am hiểu pháp luật có thể được nhìn như một tín hiệu tích cực. Không phải vì một cá nhân có thể giải quyết ngay mọi vấn đề của ngành, càng không nên đặt kỳ vọng quá mức vào một quyết định nhân sự. Nhưng một người có nền tảng luật học, kinh nghiệm đào tạo pháp luật và quản lý nhà nước có thể góp phần làm cho các quyết sách giáo dục được đặt trên nền tảng pháp lý chặt chẽ hơn.
Một kỳ thi nghiêm túc không chỉ cần đề thi tốt, giám thị đủ, camera nhiều hay máy dò kim loại hiện đại mà còn là thiết kế thể chế. Ai chịu trách nhiệm cuối cùng? Ai giám sát người giám sát? Dữ liệu bất thường được xử lý ra sao? Khi có dấu hiệu gian lận, cơ chế phản ứng nhanh vận hành thế nào? Khi xảy ra sai phạm, quyền lợi của học sinh ngay tình được bảo vệ bằng phương án nào?
Nếu chỉ mua thêm thiết bị mà không thay đổi cách vận hành, gian lận có thể chuyển từ hình thức này sang hình thức khác. Nếu chỉ tăng cường khẩu hiệu đạo đức mà không siết trách nhiệm pháp lý, sai phạm vẫn có thể lặp lại. Nếu chỉ xử lý sau khi dư luận phát hiện, hệ thống quản trị vẫn ở thế bị động.
Từ vụ Tuyên Quang, điều ngành giáo dục cần không chỉ là một phương án xử lý cụ thể cho một điểm thi mà là một cuộc rà soát nghiêm túc về cơ chế tổ chức kỳ thi quốc gia. Quy chế thi phải đủ rõ để không ai có thể viện lý do "không biết". Trách nhiệm của trưởng điểm thi phải đủ cụ thể để không thể né tránh. Cơ chế giám sát phải đủ độc lập để không bị vô hiệu hóa bởi quan hệ nội bộ. Dữ liệu kết quả thi phải được phân tích đủ sớm để phát hiện bất thường trước khi xã hội bức xúc. Và mọi phương án xử lý phải được giải thích công khai, có căn cứ, có lý lẽ, để người dân thấy rằng công bằng không chỉ được tuyên bố mà đang được thực thi.
Một nền giáo dục muốn dạy học sinh trung thực thì chính hệ thống giáo dục phải vận hành bằng những nguyên tắc trung thực. Muốn kỳ thi quốc gia giữ được niềm tin, không thể chỉ dựa vào niềm tin cá nhân, mà phải có một cơ chế pháp lý đủ minh bạch để người tốt được bảo vệ và người sai không thể dễ dàng vượt qua ranh giới.
Giáo dục không chỉ đào tạo tri thức mà còn đào tạo ý thức công dân. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của tư duy pháp lý trong giáo dục.
Sinh viên RMIT được trải nghiệm môi trường học tập quốc tế, từ chương trình đào tạo đến cơ sở vật chất và cộng đồng giảng viên, sinh viên - Ảnh: NTCC
Trong bối cảnh hội nhập thế giới và cơ hội làm việc quốc tế ngày càng phổ biến, ngành Quốc tế học đang được nhìn nhận như một lựa chọn đúng đắn cho những bạn trẻ muốn phát triển sở thích của mình thành năng lực và định hướng nghề nghiệp dài hạn.
Với mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các dòng chảy kinh tế, xã hội và văn hóa toàn cầu.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng, yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững ngày càng rõ nét, cùng với các nỗ lực quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới là các minh chứng đầy thuyết phục vươn tới mục tiêu này.
Chúng ta có thể thấy rõ là khi nhiều doanh nghiệp quốc tế mở rộng thị trường tại Việt Nam, cùng với việc ngày càng nhiều doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam kết nối với thị trường toàn cầu, thì nhu cầu về nhân sự có năng lực làm việc trong môi trường đa văn hóa, hiểu bối cảnh quốc tế và thích ứng với các chuẩn mực mới cũng trở nên cấp bách hơn.
Với tầm nhìn này, một sự thật hiển nhiên là nhiều công việc trong tương lai sẽ không chỉ đòi hỏi một chuyên môn đơn lẻ, mà tư duy toàn cầu, kỹ năng giao tiếp cùng với năng lực phân tích và xử lý vấn đề trong bối cảnh quốc tế là điều kiện thiết yếu.
Đây cũng chính là lý do các ngành học liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa và các vấn đề toàn cầu như Quốc tế học ngày càng được quan tâm sâu rộng.
Trong bối cảnh đó, Quốc tế học không chỉ là một ngành học nhằm giúp mở rộng hiểu biết về thế giới, mà còn là một hướng tiếp cận với các vấn đề toàn cầu trong mối liên hệ tương tác với ngôn ngữ, văn hóa, xã hội và con người.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gọi đây là năng lực toàn cầu (global competence) - năng lực xem xét các vấn đề địa phương, toàn cầu và liên văn hóa, tương tác hiệu quả với người khác và hành động vì sự phát triển bền vững chung.
Rõ ràng là cách tiếp cận này ngày càng phù hợp với nhu cầu của nhiều tổ chức hiện nay, không chỉ các cơ quan quốc tế hay tổ chức phi chính phủ, mà cả doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp đa quốc gia.
Bà Quản Thu Huyền, Chuyên gia tư vấn quản lý tại Hội đồng Thương mại & Đầu tư Thụy Điển (Business Sweden), chia sẻ: ‘Trong môi trường làm việc quốc tế, ngoại ngữ là điểm khởi đầu.
Yêu cầu lớn hơn nằm ở khả năng hiểu bối cảnh, nắm được nhu cầu của các bên và giúp họ làm việc với nhau hiệu quả. Điều quan trọng là kết nối đúng cơ hội, đúng đối tác, để doanh nghiệp có thể làm việc hiệu quả và bền vững trong một thị trường mới’.
Do vậy, với những học sinh có thế mạnh về ngoại ngữ, yêu thích văn hóa hoặc có quan tâm đến các vấn đề xã hội và quốc tế, Quốc tế học mở ra một hướng đi linh hoạt hơn: không chỉ đẩy mạnh phát triển ngôn ngữ, mà còn bồi đắp hiểu biết sâu về văn hóa - xã hội, khả năng phân tích, nghiên cứu, giao tiếp và làm việc trong nhiều bối cảnh nghề nghiệp khác nhau.
Đây cũng là cơ sở để có thể dẫn đến nhiều hướng đi sau tốt nghiệp, như: biên-phiên dịch, phát triển các dự án cộng đồng, truyền thông, quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế hay giữ các vai trò tại doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động xuyên biên giới.
Từ tháng 10-2026, RMIT Việt Nam sẽ chính thức đưa chương trình Cử nhân Quốc tế học vào đào tạo. Chương trình được phát triển trên nền tảng học thuật quốc tế của RMIT Australia, kết hợp với sự am hiểu về bối cảnh Việt Nam và nhu cầu nhân lực trong nước.
Bà Jodie Altan, Phó Tổng giám đốc phụ trách Đối ngoại của RMIT Việt Nam, chia sẻ: ‘‘Trong một thế giới mà kinh tế, công nghệ, phát triển bền vững và các mối liên kết toàn cầu ngày càng đan xen, nhu cầu nhân lực cũng đang thay đổi.
Các tổ chức không chỉ cần người giỏi chuyên môn, mà còn cần những người có thể hiểu và thích ứng với bối cảnh quốc tế, có khả năng làm việc xuyên văn hóa và giải quyết những vấn đề phức tạp.
Việc triển khai chương trình Quốc tế học ở Việt Nam tái khẳng định cam kết trong việc chuẩn bị cho sinh viên sẵn sàng cho sự thành công trong cuộc sống và công việc tương lai.’
Sinh viên RMIT trong vai trò phiên dịch cabin với thiết bị và công nghệ hiện đại tại trường - Ảnh: NTCC
Chương trình Cử nhân Quốc tế học được xây dựng theo hướng liên ngành, kết hợp ngôn ngữ, khoa học xã hội và các vấn đề toàn cầu dựa trên một cấu trúc linh hoạt.
Ba chuyên ngành chính gồm Ngôn ngữ và Quan hệ quốc tế, Phát triển và Công bằng xã hội, và Biên dịch - Phiên dịch. Bên cạnh đó, sinh viên có thể mở rộng định hướng với các chuyên ngành phụ như: Ngôn ngữ Nhật, Truyền thông và văn hóa châu Á, Quan hệ công chúng, v.v.
Tiến sĩ Lê Xuân Quỳnh, Chủ nhiệm bộ môn Quốc tế học, RMIT Việt Nam, cho biết: ‘Sinh viên sẽ được trang bị các năng lực cho một sự nghiệp quốc tế: bao gồm các nền tảng kiến thức về xã hội, văn hóa và phương cách thế giới vận hành; chiều sâu chuyên môn qua các chuyên ngành chính và phụ; cùng với bộ kỹ năng chuyển đổi, kỹ năng ứng dụng linh hoạt cho nhiều môi trường làm việc như giao tiếp liên văn hóa, phân tích vấn đề và tư duy đa chiều.
Song song với đó là các trải nghiệm học tập thực tiễn và hỗ trợ sớm trong định hướng nghề nghiệp, để sinh viên sẵn sàng gia nhập thị trường lao động khi tốt nghiệp.’
Nhóm sinh viên RMIT trong kỳ du học trao đổi đến RMIT Australia - Ảnh: NTCC
Một điểm đáng chú ý khác là tính quốc tế được duy trì xuyên suốt trong quá trình học tập. Chương trình này được giảng dạy và giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Anh trong môi trường đa văn hóa với cộng đồng sinh viên Việt Nam và quốc tế cùng giảng viên từ hơn 40 quốc gia, đồng thời mở ra cơ hội trao đổi và chuyển tiếp sinh viên đến RMIT Australia hoặc hơn 200 trường đối tác toàn cầu.
Nội dung được đề cập trong Thông tư 59, công bố ngày 18/7 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, các trường được ký hợp đồng với giáo viên nghỉ hưu để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Giáo viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về sức khỏe, đạt chuẩn trình độ theo vị trí việc làm, có thể ứng dụng công nghệ vào giảng dạy, cùng một số tiêu chí riêng của trường.
Hai bên chủ động thỏa thuận về hình thức, thời gian làm việc, lương và phụ cấp thâm niên, phụ cấp ưu đãi. Các yếu tố này cần phù hợp độ tuổi, sức khỏe, chuyên môn, kinh nghiệm và mức độ đóng góp của giáo viên.
Trong quá trình làm việc, giáo viên nghỉ hưu được đối xử bình đẳng; được xem xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; xét, phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú... khi đáp ứng tiêu chuẩn.
Mỗi giáo viên nghỉ hưu chỉ được ký hợp đồng với một trường. Với trường học, việc sử dụng nhóm này không thay thế các điều kiện bắt buộc về giáo viên cơ hữu. Các trường phải công khai danh sách, vị trí việc làm của giáo viên về hưu trên website để minh bạch, chính xác trong xác định năng lực.
Đây là lần đầu tiên Bộ có quy định này, nhằm tận dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, giàu kinh nghiệm, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học.
Việc này trong bối cảnh năm học 2025-2026, cả nước có gần 1,3 triệu giáo viên mầm non, phổ thông; vẫn thiếu khoảng 104.500 người. Ở bậc đại học, quy mô tuyển sinh cũng được mở rộng.
Ngoài ra, Bộ bổ sung một số nội dung của hoạt động thỉnh giảng, xác định đây không chỉ là việc giảng dạy, mà còn gồm hướng dẫn thực hành, nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, hướng dẫn khóa luận, luận văn, luận án cùng các hoạt động chuyên môn khác.