Đầu tháng 5, Meta loại bỏ mã hóa đầu cuối (E2EE) cho tin nhắn riêng tư trên ứng dụng Instagram, với lý do “tỷ lệ người kích hoạt quá thấp”. Mã hóa đầu cuối được Instagram bắt đầu áp dụng năm 2021 dưới dạng tùy chọn và người dùng phải vào sâu trong mục cài đặt mới có thể bật. Trước đó vào tháng 3, theo BBC, người phát ngôn của TikTok tại Mỹ xác nhận không có kế hoạch áp dụng E2EE cho công cụ nhắn tin trực tiếp.
Trong khi đó, một nền tảng khác của Meta là WhatsApp cũng vướng kiện tụng liên quan đến bảo mật riêng tư tại Mỹ từ nhóm nguyên đơn từ nhiều nơi như Australia, Brazil, Ấn Độ. Theo RT, công ty bị cáo buộc cho phép nhân viên và bên thứ ba truy cập nội dung tin nhắn riêng tư của người dùng, trái với cam kết bảo mật ban đầu.
Trước lùm xùm của WhatsApp, ông chủ mạng xã hội X Elon Musk và nhà sáng lập Telegram Pavel Durov đều cho rằng cam kết bảo mật của WhatsApp là “lời nói dối thế kỷ”. “Chỉ người mất não mới tin WhatsApp vẫn an toàn vào năm 2026. Khi phân tích cách WhatsApp triển khai mã hóa, chúng tôi phát hiện nhiều lỗ hổng có thể bị tấn công”, Pavel Durov viết trên X đầu năm nay.
Mã hóa đầu cuối tin nhắn là gì?
Mã hóa đầu cuối (E2EE) được coi là lớp giáp bảo mật cao nhất với các ứng dụng nhắn tin vì dữ liệu được khóa tại thiết bị gửi và chỉ mở trên thiết bị nhận. Nếu hacker xâm nhập được vào hệ thống máy chủ của các ứng dụng nhắn tin có hỗ trợ E2EE, thứ chúng thu được là các ký tự vô nghĩa vì khóa giải mã chỉ được lưu tại thiết bị cuối của người dùng. Ngay cả nhà phát triển cũng không thể xem được nội dung tin nhắn của người dùng.
Khi loại bỏ E2EE, các ứng dụng như Instagram sẽ quay lại dùng mã hóa đường truyền tiêu chuẩn (Transport Encryption, giống TLS/HTTPS). Có nghĩa, tin nhắn đi qua máy chủ của Meta sẽ tồn tại ở dạng “văn bản rõ” (plaintext) mà hệ thống của họ có thể đọc được.
Nếu xem tin nhắn là một bức thư, việc không có E2EE đồng nghĩa người dùng gửi thư mà không được cất trong phong bì có dán kín. Nhân viên bưu điện (hệ thống máy chủ nhắn tin) hay bất kỳ người nào cũng có thể đọc được nội dung trên thư. Điều nguy hiểm hơn là những người chuyển thư (công ty cung cấp dịch vụ nhắn tin) có thể ghi chép lại mọi sở thích, thói quen, mối quan tâm của người dùng, từ đó bán cho các công ty quảng cáo hoặc dùng để huấn luyện cho AI.
Cú “quay xe” của các công ty lớn
Tại hội nghị nhà phát triển F8 thường niên của Facebook ở Mỹ tháng 4/2019, CEO Mark Zuckerberg tuyên bố: “Tương lai nằm ở sự riêng tư”. Theo Guardian, khi đó ông cam kết tái cấu trúc toàn bộ hạ tầng cơ sở, hợp nhất hệ thống tin nhắn của WhatsApp, Messenger và Instagram thành một nền tảng tập trung vào quyền riêng tư, trong đó mã hóa đầu cuối là cốt lõi.
Tuy nhiên, việc Instagram âm thầm khai tử E2EE sau 7 năm cho thấy Meta đã thay đổi quan điểm. Công ty sẵn sàng hy sinh quyền riêng tư của người dùng khi nó có thể xung đột với các quy định, lợi ích khác.
Tương tự Meta, Tiktok cũng khẳng định không áp dụng mã hóa đầu cuối tin nhắn để “cân bằng giữa quyền riêng tư của người dùng với khả năng phản ứng trước các hành vi lừa đảo, quấy rối và các mối lo ngại về an toàn khác”.
Các chuyên gia nhận định, có hai lý do khiến một số dịch vụ tin nhắn phổ biến loại bỏ E2EE. Đầu tiên, dữ liệu của người dùng có thể được sử dụng để đào tạo các mô hình AI hoặc tối ưu thuật toán hiển thị quảng cáo nhắm mục tiêu. Lợi ích này càng lớn và là vấn đề sống còn với nhiều công ty khi việc phát triển AI đang trong giai đoạn cạnh tranh gắt gao cũng như nhu cầu tăng doanh thu quảng cáo.
Theo Forbes, năm 2024, Meta cập nhật chính sách bảo mật tại châu Âu, cho phép họ dùng bài viết, hình ảnh và cả các tương tác, tin nhắn không mã hóa đầu cuối để huấn luyện mô hình Llama AI. Công ty được cho là đã sử dụng thuật ngữ mập mờ trong điều khoản để tự cấp quyền thu thập dữ liệu mà không cần sự đồng ý của người dùng. Sự việc vấp phải phản ứng dữ dội của tổ chức bảo vệ quyền riêng tư NOYB ở châu Âu.
Lý do thứ hai có thể là mạng xã hội chịu sự quản lý ngày càng gắt gao từ các đạo luật. Tại Mỹ, đạo luật Take It Down Act yêu cầu các nền tảng loại bỏ nội dung độc hại trong vòng 48 tiếng, khiến các công ty có lý do để không áp dụng E2EE nhằm quét nội dung xấu từ tin nhắn của người dùng dễ hơn. Tuyên bố không mã hóa đầu cuối của TikTok cũng nhận được sự ủng hộ của Tổ chức giám sát và loại bỏ tài liệu lạm dụng tình dục trẻ em trên Internet (IWF) dù giới chuyên gia lo ngại hơn một tỷ người dùng dễ bị tổn hại dữ liệu cá nhân khi không có biện pháp bảo vệ.
Giải thích với The Verge, đại diện Meta cho rằng mô hình tương tác trên Instagram khác với WhatsApp. Trong khi 90% hội thoại trên WhatsApp là giữa những người quen biết nhau, đa số trên Instagram phát sinh từ việc phản hồi story của người lạ, nhắn tin hỏi mua hàng từ các shop hoặc người hâm mộ nhắn tin cho người nổi tiếng.
Việc loại bỏ E2EE trên những nền tảng mở như Instagram được Meta lý giải sẽ làm giảm sự bất tiện cho người dùng khi hai bên phải xác thực mã bảo mật, đồng nghĩa công ty cho rằng bảo vệ quyền riêng tư không còn là mục tiêu quan trọng nhất. Theo Wired, điều này có thể tạo hiệu ứng domino khi các mạng xã hội khác lấy lý do tương tự Instagram để bỏ “giáp bảo vệ” cho dịch vụ nhắn tin.
Theo chuyên gia bảo mật Ngô Minh Hiếu (Hiếu PC), việc ứng dụng nổi tiếng như Instagram không còn E2EE là tín hiệu đáng lo, nhưng người dùng cần đón nhận một cách bình tĩnh. “Chúng ta nên mặc định những dịch vụ như Instagram, Tiktok không còn phù hợp để trao đổi mật khẩu, mã OTP, thông tin tài chính, giấy tờ cá nhân hay nội dung nhạy cảm”, ông nói.
Với những trao đổi quan trọng, ông cho rằng người dùng nên ưu tiên ứng dụng có E2EE mặc định, minh bạch kỹ thuật và được kiểm toán độc lập, đồng thời đừng coi mọi ứng dụng chat từ các công ty nổi tiếng là an toàn tuyệt đối.
Theo ông, người dùng cần nâng cao ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân bởi E2EE cũng không phải lớp bảo vệ tuyệt đối. Thực tế, ngoài nội dung tin nhắn, các ứng dụng vẫn có thể thu thập metadata như ai nhắn với ai, thời gian, thiết bị, IP, danh bạ, hành vi sử dụng, chưa kể những rủi ro từ sao lưu đám mây, thiết bị chiếm quyền, tính năng AI, hoặc yêu cầu pháp lý từ cơ quan chức năng.
Chiều 6-4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức lễ ký kết biên bản ghi nhớ và kích hoạt kết nối, đồng bộ dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết thời gian qua bộ đã tập trung xây dựng nền tảng dữ liệu đa ngành quy mô lớn, từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn như cơ sở dữ liệu đất đai và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Đến nay, 12/12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành cốt lõi (gồm đất đai; nền địa lý quốc gia; nghề cá quốc gia; nuôi trồng thủy sản; trồng trọt; báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường; ngành nông nghiệp; khí tượng thủy văn quốc gia; môi trường quốc gia; khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; viễn thám quốc gia; hộ nghèo, hộ cận nghèo) đã hoàn thành kết nối, được chuẩn hóa theo tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung" và đã hoàn thành kết nối, đồng bộ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia, sẵn sàng vận hành chính thức.
Kết quả này có được nhờ sự nỗ lực, quyết tâm cao của các đơn vị thuộc hai bộ, với nhiều nhiệm vụ mang tính đột phá. Trong đó "Chiến dịch 90 ngày đêm làm sạch dữ liệu đất đai" đã rà soát hơn 62,2 triệu thửa đất, xác thực 42,5 triệu thửa với cơ sở dữ liệu dân cư và đối soát hơn 82.000 tàu cá.
"Việc kết nối và đồng bộ dữ liệu không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, hướng tới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu" - Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định.
Ông Thắng cũng cho biết song song với việc xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu, bộ đang triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản theo chỉ đạo của Trung ương.
Hệ thống đã được xây dựng và đưa vào vận hành từ tháng 12-2025, hiện đang triển khai đối với một số sản phẩm chủ lực như sầu riêng, đồng thời mở rộng sang các nhóm nông sản thực phẩm khác như lúa gạo, thịt, trứng, sữa, trái cây, chè, cà phê… Dự kiến từ ngày 1-7 tới sẽ triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn quốc.
Bộ cũng đặt mục tiêu đến hết năm 2026 hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên phạm vi toàn quốc. Bảo đảm toàn bộ các thửa đất được số hóa, quản lý thống nhất, vận hành theo thời gian thực và kết nối, chia sẻ hiệu quả với các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thông tin liên quan.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, khẳng định kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ cắt giảm thủ tục hành chính, phát triển dịch vụ công trực tuyến và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ.
Để phát huy hiệu quả các hệ thống đã kết nối, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương đề nghị hai bộ tiếp tục đẩy mạnh đối khớp, xác thực dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID.
Đồng thời duy trì cập nhật dữ liệu thường xuyên, bảo đảm đồng bộ theo thời gian thực. Bên cạnh đó, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và lộ trình kết nối các hệ thống còn lại trong năm 2026.
Phát biểu trực tuyến tại hội nghị của Ngân hàng Commonwealth Úc (CBA) diễn ra ngày 26/5, CEO OpenAI cho biết sự phát triển và áp dụng nhanh chóng của AI sẽ không dẫn đến một 'thảm họa việc làm' trên quy mô toàn cầu. Sam Altman thừa nhận công nghệ này hiện chưa cướp đi nhiều công việc văn phòng như ông từng lo sợ trước đây.
Theo người đứng đầu OpenAI, ông và các cộng sự đã "gần như đúng" về các dự đoán tiến bộ công nghệ khi ra mắt ChatGPT vào năm 2022. Tuy nhiên, họ đã sai khi đánh giá về các hệ lụy kinh tế và xã hội trong ngắn hạn. Sam Altman thừa nhận "rất vui vì đã sai về điều này. Tôi từng nghĩ rằng sẽ có nhiều vị trí văn phòng cấp thấp bị xóa sổ vào thời điểm hiện tại so với những gì thực tế đang diễn ra. Trực giác của tôi trong khía cạnh này đã không chính xác".
CEO OpenAI lý giải 'thảm họa việc làm' chưa xảy ra là vì ông nhận ra "yếu tố con người" trong lao động vẫn là thứ không thể thay thế. Bản thân Altman từng thử nghiệm dùng AI để tự động trả lời các email và tin nhắn Slack của mình dưới danh nghĩa AI của Sam. Tuy nhiên, sau đó ông phải quay lại tự phản hồi các công việc này. Ông cho biết "Trải nghiệm đó giúp tôi hiểu rằng chúng ta thực sự quan tâm đến các mối tương tác giữa người với người. Việc phản hồi tin nhắn chiếm phần lớn thời gian của tôi, nhưng tôi không nghĩ mình có thể giao phó hoàn toàn nó cho AI trong tương lai gần".
Bất chấp những tuyên bố lạc quan của Sam Altman, góc nhìn của các chuyên gia công nghệ và dữ liệu thị trường lại không mấy lạc quan. Nhiều doanh nghiệp ghi nhận tỷ lệ cắt giảm nhân sự lên tới 17%. Con số này dù thấp hơn các dự báo cực đoan cách đây hai năm, nhưng vẫn trùng khớp với các nghiên cứu nội bộ của chính OpenAI về tác động của AI đối với thị trường lao động.
Giới phân tích cho rằng, việc so sánh làn sóng AI hiện tại với cuộc cách mạng robot trong ngành sản xuất ôtô hàng chục năm trước là điều dễ thấy. Robot từng giúp các hãng xe tối ưu hóa chi phí sản xuất nhưng đã lấy đi cơ hội việc làm của hàng triệu công nhân hàn, sơn và lắp ráp.
Các chuyên gia kinh tế nhận định, những tuyên bố của Altman chẳng có ý nghĩa gì đối với những người đã và đang phải chịu ảnh hưởng trực tiếp. Thị trường hiện tại đang rất cần các cuộc khảo sát hoàn toàn độc lập từ các tổ chức bên thứ ba để đánh giá đúng mức độ thiệt hại của AI đối với việc làm toàn cầu. Bởi lẽ, mọi báo cáo từ các công ty công nghệ có lợi ích liên quan trực tiếp đến AI đều khó đảm bảo tính khách quan.
Trong khi chờ đợi các số liệu nghiên cứu độc lập vốn mất nhiều thời gian, làn sóng tối ưu hóa bộ máy bằng chatbot và các tác nhân AI vẫn đang âm thầm diễn ra, đe dọa công việc của hàng trăm nghìn lao động trên khắp thế giới.
Song song với các phát biểu về thị trường lao động, các nguồn tin quốc tế cho biết OpenAI đang ráo riết chuẩn bị nộp hồ sơ bảo mật cho đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại Mỹ trong vài tuần tới.
Công ty kỳ vọng có thể hướng tới mức định giá kỷ lục lên tới 1.000 tỷ USD và đặt mục tiêu huy động ít nhất 60 tỷ USD trong thương vụ này. Việc Sam Altman tìm cách xoa dịu làn sóng lo ngại về thảm họa việc làm được giới quan sát đánh giá là bước đi chiến lược nhằm giảm bớt áp lực từ các tổ chức công đoàn và chính phủ trước thềm IPO lịch sử.
Tại phiên thảo luận hội trường chiều 20/4, đại biểu Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cho rằng trong bối cảnh rủi ro thương mại và địa chính trị khó dự báo, đầu tư công cần được đẩy nhanh nhưng phải "nhanh hơn và thông minh hơn. Ưu tiên tập trung là hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và hạ tầng đổi mới sáng tạo để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Theo ông, rủi ro lớn nhất hiện nay nằm ở công nghệ. Vòng đời công nghệ ngày càng ngắn trong khi quy trình đầu tư còn kéo dài, nếu chậm một nhịp sẽ làm mất lợi thế, chậm một nhịp, đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Đại biểu cũng chỉ ra khoảng trống thể chế đối với đầu tư vào tài sản vô hình như dữ liệu, phần mềm lõi, thuật toán, sở hữu trí tuệ. Nếu thiếu cơ chế đặt hàng, khoán chi và mua sắm theo kết quả, quá trình chuyển đổi số sẽ bị kéo lùi và khó tạo ra năng suất như kỳ vọng. Một rủi ro khác là an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu. Khi mức độ số hóa ngày càng sâu, bề mặt tấn công mở rộng, các sự cố mạng có thể làm gián đoạn dịch vụ công và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, nút thắt về năng lượng và môi trường cũng được nhấn mạnh. Các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tiêu thụ lượng điện lớn, nếu không gắn với bảo đảm an ninh năng lượng và tiêu chuẩn xanh, tăng trưởng số có thể bị kìm hãm bởi hạ tầng điện và áp lực phát thải.
Để vượt qua các thách thức, ông Khải đề nghị Chính phủ đổi mới thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường giám sát theo kết quả. Các bộ, ngành cần thiết lập cơ chế quản trị danh mục dự án theo Nghị quyết 57, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp.
Ông cũng kiến nghị cho phép áp dụng cơ chế đặt hàng, khoán chi và thử nghiệm có kiểm soát đối với các nhiệm vụ khoa học công nghệ, dữ liệu và nền tảng số; đồng thời quy định rõ quản trị rủi ro, trách nhiệm giải trình và cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung.
Đại biểu nhấn mạnh an ninh mạng cần được coi là cấu phần bắt buộc trong mọi dự án số sử dụng ngân sách, bảo đảm an toàn ngay từ khâu thiết kế, có đủ kinh phí cho giám sát, sao lưu, khôi phục và kiểm thử dữ liệu độc lập. Các nền tảng dữ liệu định danh, logistics, y tế, giáo dục cần được ưu tiên đầu tư.
"Cần tăng đầu tư cho đào tạo STEM, quản lý dự án số, thu hút chuyên gia, đồng thời huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư theo mô hình đối tác công tư phù hợp", ông nói.
Startup thiếu vốn, thiếu chính sách, khó bứt phá
Đại biểu Nguyễn Văn Huy, Phó đoàn Hưng Yên, cũng cho rằng khi các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm, hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố then chốt nhưng đang bị cản trở bởi nhiều điểm nghẽn.
Theo ông, khởi nghiệp không còn là xu hướng mà đã trở thành động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam vẫn thiếu đồng bộ về chính sách, còn chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các luật và văn bản dưới luật. Các quy định liên quan đến đầu tư mạo hiểm, ưu đãi thuế và thử nghiệm chính sách chưa hoàn thiện, khiến nhiều ý tưởng khó triển khai trong thực tế.
Liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái còn lỏng lẻo, tình trạng "mạnh ai nấy làm" vẫn phổ biến. Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học chưa được thương mại hóa hiệu quả. Doanh nghiệp khởi nghiệp gặp khó trong tiếp cận công nghệ, trong khi nhà đầu tư thiếu thông tin và niềm tin để rót vốn.
Một điểm nghẽn lớn khác là nguồn vốn. Dù đã có sự tham gia của một số quỹ đầu tư trong và ngoài nước, quy mô và tính đa dạng vẫn hạn chế. Các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt ở giai đoạn đầu, rất khó tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm. Nhiều dự án tiềm năng phải tìm vốn từ nước ngoài hoặc thu hẹp quy mô, thậm chí dừng hoạt động.
Theo đại biểu Hưng Yên, những hạn chế này không chỉ làm suy giảm hiệu quả của hệ sinh thái khởi nghiệp mà còn khiến Việt Nam bỏ lỡ cơ hội phát triển trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt. Do đó ông kiến nghị Chính phủ rà soát, hoàn thiện pháp luật về đổi mới sáng tạo, đồng thời bổ sung nội dung xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp vào Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030.
Cùng quan điểm, đại biểu Nguyễn Đại Thắng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần chuyển mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm.
Ông đề nghị tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lên ít nhất 1,5% GDP, khuyến khích doanh nghiệp trích Quỹ khoa học công nghệ, miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng; xây dựng Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo quốc gia để hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và chuyển đổi số.
"Thu hút đầu tư nước ngoài cần chuyển từ thu hút theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, sử dụng nguồn nhân lực trong nước và liên kết với doanh nghiệp nội địa", ông Thắng nói, đề nghị xây dựng chính sách đột phá để thu hút chuyên gia trong và ngoài nước tham gia phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.