Chiều 29/5, UBND thành phố Hà Nội và Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị “Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố gặp gỡ, đối thoại với công nhân lao động Thủ đô năm 2026”.
Tại hội nghị, nhiều công nhân, người lao động đã phản ánh những bất cập phát sinh trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực y tế và bảo hiểm xã hội (BHXH), đồng thời kiến nghị thành phố có thêm cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng số và bảo đảm an sinh cho người lao động.
Liên quan vấn đề nhà ở cho công nhân lao động, các ý kiến cho biết, hiện Hà Nội có khoảng 2,7 triệu lao động, trong đó, hơn 70% đang sống trong các khu nhà trọ. Cùng với hàng triệu học sinh, sinh viên và lao động tự do, ước tính khoảng 1/4 dân số Thủ đô đang sinh sống tại các khu nhà trọ, khu dân cư có điều kiện hạ tầng còn nhiều hạn chế.
Đây là lực lượng đang đóng góp trực tiếp và quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô nhưng nhu cầu về không gian cư trú an toàn, ổn định vẫn chưa được đáp ứng tương xứng.
Từ thực tế đó, người lao động đề nghị thành phố làm rõ định hướng quy hoạch quỹ đất xây dựng nhà ở cho công nhân lao động trong quy hoạch phát triển Thủ đô tầm nhìn dài hạn; đồng thời, có thêm cơ chế, chính sách phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân nhằm đáp ứng nhu cầu an cư của lực lượng lao động trên địa bàn.
Trả lời kiến nghị của công nhân lao động về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân trong quy hoạch Thủ đô, Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh cho biết, ngày 13/5/2026, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
Trong định hướng phát triển nhà ở, thành phố ưu tiên quy hoạch, xây dựng các khu nhà ở xã hội tập trung quy mô lớn, bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bố trí tại các vị trí thuận lợi kết nối với hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt là mạng lưới đường sắt đô thị nhằm phục vụ người thu nhập thấp và công nhân lao động tại các khu, cụm công nghiệp.
Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc cho biết, việc bố trí quỹ đất xây dựng các thiết chế công đoàn, nhà ở xã hội và nhà ở công nhân đã được thành phố xác định rõ trong các quy hoạch phân khu khu công nghiệp, chương trình phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030 và Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.
Hiện, Hà Nội đã quy hoạch 19 quỹ đất phát triển nhà ở xã hội tập trung với tổng diện tích khoảng 995ha. Đồng thời, UBND thành phố cùng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã chấp thuận chủ trương đầu tư hơn 90 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 200ha; trong đó, khoảng 30 dự án đang được triển khai xây dựng, các dự án còn lại đang hoàn thiện thủ tục để khởi công trong năm 2026.
Để cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, ngày 25/5/2026, UBND thành phố tiếp tục ban hành Đề án phát triển khu đô thị đa mục tiêu gắn với 9 trục động lực phát triển của Thủ đô.
Trong đó, nhà ở xã hội dự kiến chiếm khoảng 20% tổng diện tích sàn nhà ở; nhà ở tái định cư, nhà ở công vụ khoảng 40-50%; nhà ở thương mại khoảng 30-40%.
Thành phố cũng định hướng tăng tỉ lệ nhà ở cho thuê, cho thuê mua nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu an cư của người dân và công nhân lao động.
Hiện nay, Hà Nội đang triển khai 2 dự án khu đô thị đa mục tiêu quy mô lớn gồm Khu đô thị Bắc Thăng Long Urban City tại các xã Thiên Lộc, Phúc Thịnh, Mê Linh với diện tích khoảng 468ha và Khu đô thị đa mục tiêu tại các xã Thư Lâm, Đông Anh với diện tích gần 737ha.
Theo ông Nguyễn Trọng Kỳ Anh, tính đến nay, toàn thành phố đang triển khai khoảng 92 dự án phát triển nhà ở xã hội với tổng diện tích khoảng 1.405ha, đa dạng các loại hình nhà ở bán, cho thuê và thuê mua, từng bước đáp ứng nhu cầu an cư của công nhân lao động, sinh viên và người thu nhập thấp trên địa bàn Thủ đô.
Nói thêm về vấn đề nhà ở công nhân, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh Hà Nội sẽ triển khai nghiêm túc chủ trương phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê dành cho người thu nhập thấp và công nhân lao động.
Thành phố định hướng chuyển mạnh từ phát triển nhà ở để bán sang phát triển cân bằng giữa nhà ở bán, nhà ở thuê và thuê mua; ưu tiên phát triển quỹ nhà ở cho thuê giá phù hợp dành cho công nhân, lao động trẻ và lao động ngoại tỉnh.
Từ những chuyến đi học ở nước ngoài, những ngày tự mày mò tài liệu đến 13 trạm BTS đầu tiên được dựng lên bằng chính sức người, họ đã tạo nên cuộc gọi đầu tiên và mở ra hành trình "từ 0 đến 1" của người Việt trong lĩnh vực viễn thông.
Trong lịch sử ngành viễn thông Việt Nam, có những cột mốc được ghi nhớ một cách đặc biệt - không phải vì quy mô thị trường hay số lượng thuê bao, mà vì nó mang đến một "điểm chạm vào tương lai" hoàn toàn mới. Sự ra đời của VinaPhone là một trong những cột mốc như vậy, nó đánh dấu nỗ lực của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong việc tự học hỏi, tiếp thu và triển khai công nghệ, đánh dấu bước chuyển lớn từ "biết sử dụng" sang "biết làm chủ".
Trước đó, sự xuất hiện của MobiFone đã tiên phong mở đường, tận dụng mô hình hợp tác kinh doanh quốc tế để nhanh chóng đưa GSM vào Việt Nam. Nhưng với VinaPhone, hành trình đó bắt đầu gần như từ con số 0. Không đội ngũ vận hành mạng GSM hoàn chỉnh, chưa có quy trình chuẩn, chưa có kinh nghiệm triển khai thực địa. Mọi thứ đều phải xây dựng đồng thời: đào tạo con người, tiếp nhận công nghệ, hình thành hệ thống khai thác, rồi từng bước triển khai hạ tầng trên thực tế.
Từ "số 0" về năng lực nội tại đến "số 1", khi mạng lưới đầu tiên được dựng lên và cuộc gọi đầu tiên được thực hiện, đội ngũ kỹ sư VinaPhone đã chứng minh người Việt có thể tự mình tiếp nhận và vận hành một mạng di động hiện đại.
Ông Hoàng Gia Bổng (nguyên Trưởng Trung tâm điện thoại di động GSM, Công ty Điện báo Hà Nội) - một trong những kỹ sư trực tiếp tham gia xây dựng hệ thống và thực hiện cuộc gọi đầu tiên của VinaPhone cách đây 30 năm nhớ lại:
Năm 1993, ông được Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Đặng Văn Thân cử sang Pháp học về mạng di động. Một năm sau, ông tiếp tục sang Đức đào tạo chuyển giao công nghệ - bước chuẩn bị trực tiếp cho việc xây dựng mạng VinaPhone.
"Khóa học đó chỉ có 5 người. Xin nhấn mạnh, cử đi đào tạo để xây dựng mạng di động cho Việt Nam mà có đúng 5 người, trong đó có 2 nữ và 3 nam. Nói thật thế này, cảm giác của chúng tôi như "con nông thôn" lên thành phố, khủng khiếp lắm!", ông cười.
Rào cản lớn nhất ban đầu là ngoại ngữ. Thời điểm đó, phần lớn cán bộ kỹ thuật ngành bưu điện không được đào tạo ngoại ngữ bài bản, chủ yếu tự học để vượt qua các kỳ kiểm tra.
Nhưng ngoại ngữ chỉ là một phần, thách thức lớn hơn là công nghệ GSM - hoàn toàn mới với Việt Nam thời điểm đó. Từ vốn kiến thức ban đầu, họ buộc phải tự nghiên cứu tài liệu, tự hệ thống hóa lại để chuẩn bị cho việc triển khai thực tế sau này.
Năm 1995, sau khi ký kết dự án, thiết bị do Siemens cung cấp được đưa sang Việt Nam. Đội ngũ kỹ sư được triệu tập trở về để bắt đầu lắp đặt mạng.
Hệ thống VinaPhone thời điểm đó gồm trung tâm chuyển mạch, trạm phát sóng và các hệ thống giám sát vận hành. Phần việc trực tiếp của kỹ sư Việt Nam là lắp đặt 13 trạm BTS đầu tiên tại Hà Nội trong giai đoạn 1 của dự án.
Phía Siemens có 3 chuyên gia, nhưng chỉ 2 người trực tiếp làm tại hiện trường. Phía Việt Nam cũng chỉ có ông Bổng và 2 cộng sự. 13 trạm BTS được triển khai tại nhiều khu vực như Đinh Tiên Hoàng, Giáp Bát, Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội)… Hầu hết đều lắp đặt thủ công.
Không chỉ dùng sức người để khuân vác, vận chuyển, mà thậm chí khâu cài đặt cấu hình, kiểm tra… cũng làm thủ công, vì khi đó không có phần mềm làm việc này, ông Bổng cho biết.
Sau khi đi vào hoạt động, những khó khăn mới tiếp tục xuất hiện, từ nhân lực đến cơ chế vận hành. Nhưng mỗi vấn đề lại được giải quyết bằng cách tự tìm lời giải, dựa trên chính nền tảng "số 1" đầu tiên đã tạo dựng.
Cuộc gọi đầu tiên trên mạng VinaPhone, ông Bổng thực hiện gọi về gia đình. Âm thanh kết nối thành công là khoảnh khắc vỡ òa không chỉ của cá nhân ông mà của cả đội ngũ - khi một mạng di động do người Việt tự triển khai và vận hành đã "vượt khó" chào đời.
"Tiếp đó là những ngày "chân không chạm đất", bận bịu vô vàn. Cuối năm 1995, tôi mới ở Đức về để tiến hành lắp đặt, mà đến tháng 6.1996 đã khai trương và cung cấp dịch vụ cho khách hàng", ông Bổng nhớ lại.
Ba mươi năm đã trôi qua kể từ cuộc gọi đầu tiên ấy. Từ 13 trạm BTS dựng lên bằng sức người, VinaPhone hôm nay đã trở thành một trong những mạng di động lớn tại Việt Nam, với hạ tầng hiện đại, vùng phủ 4G toàn quốc, triển khai 5G tại nhiều địa phương và hệ sinh thái dịch vụ số phục vụ hàng chục triệu khách hàng.
Nhưng điều thay đổi quan trọng hơn cả không nằm ở quy mô mạng lưới, mà ở năng lực làm chủ công nghệ. Nếu thế hệ ông Hoàng Gia Bổng đặt những viên gạch đầu tiên cho một mạng di động do người Việt vận hành, thì các thế hệ kỹ sư hôm nay đang tiếp tục mở rộng nền tảng đó bằng hạ tầng số, công nghệ mới và các dịch vụ phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Kinh tế Đà Nẵng hiện đang phát triển với nhiều tín hiệu tích cực. Lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động nhờ các sự kiện, lễ hội và lượng khách trong nước, quốc tế gia tăng, đặc biệt trong dịp lễ tháng 4 vừa qua. Theo báo cáo của Thống kê thành phố Đà Nẵng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 4 tháng đầu năm ước đạt 93.065 tỉ đồng, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Du lịch tiếp tục là động lực quan trọng, đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố. Báo cáo cho thấy, tổng 4 tháng đầu năm nay, thành phố đã đón ước đạt gần 6 triệu lượt khách lưu trú, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, trong đó ước đạt gần 3,4 triệu lượt khách quốc tế, tăng trưởng hơn 24,9%; còn khách trong nước đạt gần 2,6 triệu lượt tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2025. Thành phố cũng đang đặt mục tiêu phục vụ khoảng 19,1 triệu lượt khách lưu trú trong năm 2026, với 8,7 triệu lượt khách quốc tế.
Theo báo cáo thị trường mới nhất của CBRE, giá căn hộ thương mại tại Đà Nẵng đã cán mốc trung bình khoảng 83 triệu đồng mỗi m2 từ đầu năm nay. Sự xuất hiện của các nguồn cung mới ở phân khúc cao cấp tại khu vực trung tâm, ven sông Hàn hoặc có tầm nhìn đẹp đang thiết lập mặt bằng giá mới được chào bán phổ biến trong khoảng 80 - 100 triệu đồng một m2.
Đà Nẵng giờ không còn là thị trường của những cơn "sóng" diện rộng, mà đang bước sang giai đoạn phân hóa mạnh. Giá có thể vẫn neo cao, nhưng dòng tiền không còn chảy vào mọi sản phẩm như nhau. Nơi nào pháp lý yếu, vị trí trung bình, sản phẩm thiếu khác biệt hoặc vận hành không rõ ràng sẽ khó thuyết phục người mua. Ngược lại, những dự án đáp ứng đúng nhu cầu ở thực, nhu cầu khai thác cho thuê bền vững và khả năng giữ giá trị tài sản sẽ tiếp tục thu hút.
Trong một thị trường đã qua giai đoạn tăng trưởng theo quán tính, "giá trị thực" trở thành một trong những bộ lọc quan trọng nhất thì dự án như M Riverside DaNang trở nên đáng chú ý hơn. M Riverside DaNang tọa lạc trên khu đất 1.853 m² tại ba mặt tiền 2/9 - Bình Hiên - Đào Tấn, ngay sông Hàn, cao 25 tầng và cung cấp 321 căn hộ thương mại. Dự án được phát triển theo mô hình Work - Live - Resort.
Điểm đầu tiên khiến M Riverside DaNang nổi bật là vị trí. Trên bản đồ đô thị Đà Nẵng, trục sông Hàn vẫn là một trong những nơi hội tụ mạnh nhất các giá trị cảnh quan, du lịch, thương mại và văn hóa. Từ dự án, cư dân có thể nhanh chóng kết nối đến cầu Rồng, công viên APEC, trung tâm hành chính, sân bay quốc tế Đà Nẵng và bãi biển Mỹ Khê.
Điểm thứ hai là cấu trúc và concept sản phẩm. Trong một thị trường phân hóa mạnh, sản phẩm càng "đúng bài" càng có lợi thế. M Riverside DaNang không đi theo hướng căn hộ ở thuần túy, cũng không chỉ là một tài sản nghỉ dưỡng đơn chức năng. Mô hình Work - Live - Resort cho phép dự án tiếp cận nhiều nhóm nhu cầu cùng lúc: người mua để ở, nhóm chuyên gia cần lưu trú dài ngày, doanh nhân thường xuyên di chuyển, hay nhóm khách muốn sở hữu tài sản trung tâm có thể khai thác linh hoạt. Bên trong dự án là hệ tiện ích phục vụ cả sinh hoạt và trải nghiệm như nhà hàng, co-working, không gian làm việc hiện đại, khu giải trí đa năng, hồ bơi, rooftop lounge, gym, spa.
Cuối cùng là năng lực phát triển dự án. M Riverside DaNang do Kyoritsu Maintenance Việt Nam phát triển, thương hiệu đến từ Nhật Bản có kinh nghiệm trong lĩnh vực vận hành lưu trú và dịch vụ. Trong giai đoạn thị trường phân hóa, uy tín chủ đầu tư không chỉ còn là yếu tố "cộng điểm hình ảnh", mà đã trở thành một tiêu chí sàng lọc thật sự. Người mua ngày càng quan tâm tới việc ai là người phát triển dự án, ai vận hành, ai đảm bảo chất lượng sản phẩm và trải nghiệm sau bàn giao.
Từ góc nhìn thị trường, quý I/2026 có thể chưa phải giai đoạn bùng nổ giao dịch của bất động sản Đà Nẵng. Nhưng chính trạng thái "phục hồi nhưng phân hóa mạnh" lại là tín hiệu cho thấy thị trường đang đi vào quỹ đạo lành mạnh hơn. Trong bức tranh đó, những dự án như M Riverside có nhiều cơ sở để hưởng lợi từ chu kỳ sàng lọc mới của thị trường Đà Nẵng.
Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền đối với vi phạm các quy định về sử dụng điện, cụ thể như sau:
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi cản trở người có thẩm quyền kiểm tra việc sử dụng điện.
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: sử dụng phương tiện, thiết bị và hành vi khác làm hư hỏng, gây sự cố hệ thống điện của bên bán điện; sử dụng điện sai mục đích có mức giá cao hơn mức giá đã thoả thuận trong hợp đồng; không thông báo cho bên bán điện khi giảm số hộ sử dụng điện dùng chung công tơ hoặc giảm định mức sử dụng điện sinh hoạt hoặc kê khai không đúng số người sử dụng điện để cấp định mức sử dụng điện sinh hoạt nhiều hơn thực tế.
Phạt tiền từ 5-8 triệu đồng đối với hành vi tự ý lắp đặt, đóng, cắt, sửa chữa, di chuyển, thay thế các thiết bị điện và công trình điện của bên bán điện.
Phạt tiền từ 8-10 triệu đồng đối với hành vi tự ý đóng điện dùng khi công trình sử dụng điện của bên mua điện chưa nghiệm thu; khi đang trong thời gian bị ngừng cấp điện do vi phạm quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10-14 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thiết bị (phương tiện) đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền đối với hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức như sau: phạt tiền từ 4-10 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp dưới 1 triệu đồng; phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 1 triệu đồng đến dưới 2 triệu đồng.
Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Phạt tiền từ 60-80 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm của khách hàng sử dụng điện lớn sau đây: sử dụng trang thiết bị sử dụng điện, trang thiết bị đấu nối không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để đấu nối vào lưới điện quốc gia; không thực hiện các lệnh thao tác của cấp điều độ có quyền điều khiển; không thực hiện cắt điện, giảm mức tiêu thụ điện khi có yêu cầu của bên bán điện do sự cố bất khả kháng; không thực hiện đầu tư các thiết bị đo đếm điện, hệ thống thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác nhưng không trái với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định, khi phát hiện hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 Điều này.
Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách Nhà nước.
Như vậy, từ ngày 25/5, nếu người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt thì sẽ bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng, buộc hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và thẩm quyền lập biên bản và xử phạt hành chính là Chủ tịch UBND cấp xã.