Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn ngày càng gia tăng, bài toán huy động nguồn lực đang tạo áp lực đáng kể lên hệ thống tài chính.
Khi dư địa tín dụng ngân hàng dần thu hẹp và ngân sách Nhà nước còn hạn chế, việc phát triển thị trường trái phiếu – đặc biệt là trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ mở ra một kênh dẫn vốn mới, góp phần đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế.
Chia sẻ về cấu trúc nguồn vốn, ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings cho rằng, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở mục tiêu tăng trưởng, mà còn ở cách thức lựa chọn nguồn vốn phù hợp với đặc thù của các dự án dài hạn.
“Nếu tiếp tục phụ thuộc vào vốn ngắn hạn hoặc tín dụng ngân hàng để tài trợ cho đầu tư dài hạn, rủi ro sẽ gia tăng và tính bền vững của tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng”, ông Thuân nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng vai trò, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng, năng lượng hay logistics.
Theo ông Thuân, dù quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam đã đạt khoảng 11% GDP, cấu trúc phát hành vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Phần lớn lượng trái phiếu hiện nay tập trung vào khu vực tài chính, trong khi các lĩnh vực có nhu cầu vốn dài hạn lớn như hạ tầng lại chưa tận dụng hiệu quả kênh huy động này.
Ông Thuân bày tỏ kỳ vọng thị trường trái phiếu sẽ từng bước dịch chuyển, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực cho các ngành nền tảng của nền kinh tế, thay vì tập trung quá nhiều vào khu vực tài chính như hiện nay.
Ở góc độ khác, bà Hoàng Thị Hiền – Trưởng nhóm Phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm & Nghiên cứu VIS Rating nhìn nhận, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc lấp đầy khoảng trống vốn dài hạn.
“Trong bối cảnh nguồn ngân sách Nhà nước còn thiếu hụt và kênh tín dụng ngân hàng gặp một số hạn chế, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ là một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng để bù đắp khoảng trống này”, bà Hiền nhận định.
Bà Hiền phân tích, đặc thù của các dự án hạ tầng là vòng đời dài, thời gian thu hồi vốn chậm và dòng tiền phân bổ theo nhiều giai đoạn, khiến việc phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng – vốn có cấu trúc kỳ hạn ngắn trở nên kém phù hợp.
Do đó, việc phát triển trái phiếu hạ tầng không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn vốn mà còn góp phần giảm áp lực kỳ hạn cho hệ thống tài chính, đồng thời tạo điều kiện thu hút các dòng vốn dài hạn từ doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Thuân, mức độ tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế. Đây lại là nhóm nhà đầu tư phù hợp với các sản phẩm trái phiếu có kỳ hạn dài như trái phiếu công trình.
Đồng thời, tỉ lệ nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường trái phiếu Việt Nam mới chỉ ở mức khoảng 0,1%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Ông cho rằng việc nâng tỉ lệ này trong thời gian tới không chỉ giúp mở rộng quy mô thị trường mà còn góp phần nâng cao chuẩn mực minh bạch và quản trị.
Từ góc nhìn về điều kiện phát triển thị trường, bà Hoàng Thị Hiền nhấn mạnh, sức hấp dẫn của trái phiếu hạ tầng phụ thuộc lớn vào khung pháp lý và cơ chế triển khai. Những yếu tố như minh bạch dòng tiền, cơ chế bảo lãnh và phương án hoàn vốn có ý nghĩa quyết định đối với niềm tin của nhà đầu tư.
Bà cũng chỉ ra rằng, so với các thị trường phát triển trong khu vực như Hàn Quốc hay Nhật Bản, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu trong việc hình thành và chuẩn hóa trái phiếu công trình.
Theo bà Hiền, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế phân bổ rủi ro. Khi các rủi ro như xây dựng, pháp lý hay lưu lượng chưa được phân định rõ ràng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư, phần lớn rủi ro sẽ dồn về phía nhà đầu tư tài chính, làm giảm sức hấp dẫn của công cụ này.
Để khắc phục, bà cho rằng cấu trúc trái phiếu hạ tầng cần được thiết kế theo hướng phân tách rủi ro, minh bạch hóa dòng tiền và tăng cường kỷ luật thị trường, đồng thời gắn với cơ chế kiểm soát dòng tiền riêng và thứ tự ưu tiên thanh toán rõ ràng.
Bên cạnh đó, bà Hoàng Thị Hiền cũng nhấn mạnh vai trò của xếp hạng tín nhiệm độc lập ở cấp độ từng công cụ trái phiếu, giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác hơn mức độ rủi ro của từng dự án.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng phát hành và thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển theo chiều sâu.
Ở góc nhìn dài hạn, bà Hiền nhận định nếu được phát triển đúng hướng, trái phiếu hạ tầng không chỉ là một sản phẩm tài chính đơn lẻ mà có thể trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tín dụng ngân hàng.
Quan điểm này cũng tương đồng với đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân khi cho rằng thị trường trái phiếu cần đóng vai trò lớn hơn trong việc cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Với việc từng bước hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư dài hạn, trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hiệu quả để huy động nguồn lực xã hội cho các dự án hạ tầng chiến lược.
Trong báo cáo vừa gửi Chính phủ, Bộ Xây dựng cho biết: Cả nước đang có khoảng 2.801 km đường cao tốc đã và đang được phân kỳ đầu tư. Trong đó, khoảng 2.107 km (548 km đường 2 làn xe; 1.559 km đường 4 làn xe hạn chế) đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật; 694 km (105 km đường 2 làn xe; 589 km đường 4 làn xe hạn chế) đang thi công xây dựng.
Đối với 653 km các đoạn tuyến cao tốc 2 làn xe đã và đang được nghiên cứu đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng khoảng 80.007 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, nhà đầu tư) đã xác định khoảng 49.534 tỉ đồng; nhu cầu vốn ngân sách Trung ương cần bổ sung trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 30.473 tỉ đồng.
Qua kết quả nghiên cứu của các địa phương, chủ đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế theo quy mô quy hoạch (4 - 8 làn xe) khoảng 414.580 tỉ đồng.
Khẳng định việc đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ là cần thiết, song, Bộ Xây dựng cho rằng sẽ khó khăn khi triển khai mở rộng ngay, đồng loạt các tuyến cao tốc đã được phân kỳ 4 làn xe hạn chế như: phải thi công lại một số hạng mục mới hoàn thành (thảm lại mặt đường; dịch chuyển dải phân cách giữa, lưới chống chói; lắp đặt lại tôn lượn sóng, cọc tiêu, biển báo, đào mái taluy…
Mặt khác, các tuyến cao tốc đầu tư công sẽ thu phí hoàn vốn nếu việc điều tiết giao thông hợp lý thì việc tính toán thời điểm mở rộng các cao tốc phân kỳ có thể xem xét vào thời điểm thích hợp.
Trường hợp đầu tư mở rộng bằng phương thức PPP, Bộ Xây dựng cho rằng nếu áp dụng thu phí đồng loạt các tuyến cao tốc có thể tác động đáng kể đến chi phí logistics của nền kinh tế nên cần có thời gian nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng để cân nhắc hình thức đầu tư bảo đảm hiệu quả nhất, đặc biệt trên các tuyến quan trọng như cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
Ngoài ra, các tuyến cao tốc phân kỳ đầu tư 4 làn xe hạn chế đã được thiết kế đáp ứng nhu cầu vận tải từ 6 - 10 năm hoặc lớn hơn. Trường hợp yêu cầu mở rộng đáp ứng quy chuẩn đường cao tốc, các tuyến có quy mô quy hoạch 6 - 8 làn xe sẽ được xem xét mở rộng ngay lên quy mô quy hoạch để tránh việc mở rộng nhiều lần (tránh việc mở rộng thêm 2 dải dừng xe khẩn cấp liên tục, thời gian sau tiếp tục mở rộng lên quy mô quy hoạch). Khi đó, việc mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn hạn chế lên quy mô 6 - 8 làn theo quy hoạch sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải trong dài hạn.
Từ thực tế trên, Bộ Xây dựng kiến nghị cần ưu tiên mở rộng ngay các tuyến cao tốc 2 làn xe lên quy mô cao tốc hoàn chỉnh để bảo đảm an toàn giao thông, tránh ùn tắc gây tắc nghẽn lưu thông hàng hóa, hành khách, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.
"Trong quá trình nghiên cứu đầu tư mở rộng, các địa phương cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng phương án đầu tư mở rộng để bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí," Bộ Xây dựng lưu ý.
Với các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế, cần giao các cơ quan chủ quản/cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng dự án, tính toán đầy đủ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội và chỉ quyết định đầu tư khi việc đầu tư mở rộng bảo đảm hạch toán hiệu quả.
Trên cơ sở đó, trước mắt, đối với đoạn tuyến cao tốc đang đầu tư PPP, Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh/thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Lâm Đồng nghiên cứu chi tiết phương án đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, phương án tài chính, cơ cấu nguồn vốn (vốn ngân sách địa phương, ngân sách Trung ương, vốn huy động của nhà đầu tư) để mở rộng các tuyến cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng, Dầu Giây - Tân Phú - Bảo Lộc - Liên Khương, Vành đai 4 Hà Nội bảo đảm hạch toán hiệu quả, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với các đoạn tuyến đầu tư công, mức độ ưu tiên sẽ được xác định cụ thể đối với từng dự án trên cơ sở kết quả kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả tài chính, trong đó nghiên cứu toàn diện các yếu tố về: dự báo nhu cầu vận tải, hiện trạng đoạn tuyến, điều kiện thi công, khả năng huy động vốn...
Bộ Xây dựng kiến nghị cấp có thẩm quyền giao Bộ Tài chính xem xét, cân đối vốn ngân sách Trung ương đối với các dự án đầu tư mở rộng có nghiên cứu chi tiết, bảo đảm hạch toán hiệu quả làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư mở rộng các đoạn tuyến.
Sáng nay (20.5), tỷ giá trung tâm giữa VND với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.135 đồng tăng 2 đồng so với hôm qua. Ngay sau đó, các ngân hàng thương mại cũng tăng giá USD tương tự: Ngân hàng Vietcombank tăng 12 đồng ở chiều mua chuyển khoản, lên 26.151 đồng và tăng 2 đồng ở chiều bán ra, đạt 26.391 đồng; Ngân hàng ACB giữ nguyên chiều mua chuyển khoản 26.170 đồng và cũng tăng 2 đồng ở chiều bán ra, lên 26.389 đồng…Tương tự, giá USD tự do tăng 10 - 20 đồng khi mua vào 26.490 đồng, bán ra 26.560 đồng.
Giá USD thế giới bật tăng trở lại. Chỉ số USD-Index lên 99,33 điểm, tăng 0,25 điểm so với hôm qua. Đồng bạc xanh tăng cùng chiều lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ sau một loạt báo cáo cho thấy lạm phát đang nóng trở lại khi chiến tranh ở Iran đẩy giá dầu lên. Trong phiên 19.5 (giờ Mỹ), lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 30 năm đã tăng cao nhất gần 19 năm, lên 5,181%. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm - tham chiếu quan trọng cho lãi suất vay mua nhà, vay mua ô tô và nợ thẻ tín dụng - tăng gần 3,6 điểm cơ bản lên 4,659%, cao nhất kể từ tháng 1.2025. Lợi suất trái phiếu 2 năm, vốn nhạy cảm với kỳ vọng lãi suất ngắn hạn của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cũng tăng 1 điểm cơ bản (tương đương 0,01%) lên 4,10%. Một khảo sát của Ngân hàng Bank of America công bố ngày 19.5 cho thấy, 62% các nhà quản lý quỹ toàn cầu dự báo lợi suất trái phiếu Mỹ 30 năm sẽ lên 6%, tương đương mức cao nhất kể từ cuối năm 1999 và cao hơn khoảng 85 điểm cơ bản so với hiện tại. Chỉ 20% người tham gia khảo sát cho rằng lợi suất sẽ quay về 4%.
Áp lực từ lợi suất trái phiếu tăng cao cũng khiến chứng khoán Mỹ suy yếu trong phiên giao dịch cùng ngày. Chỉ số S&P 500 giảm 49,49 điểm, tương ứng giảm 0,67% xuống 7.353,61 điểm; Nasdaq Composite mất 0,84% xuống 25.857,71 và Dow Jones cũng giảm 322,24 điểm, tương đương 0,65, còn 49.363,88 điểm.
Theo công bố từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất thị trường liên ngân hàng ngày 26.5 tăng nhẹ so với cuối tuần qua. Lãi suất tiền đồng ở kỳ hạn qua đêm lên 7,68%/năm, 1 và 2 tuần lên 7,48%/năm, 1 tháng lên 7,49%/năm, 3 tháng lên 7,75%, 6 tháng 8,55%/năm… Doanh số chủ yếu tập trung ở kỳ hạn qua đêm là chính, lên đến 816.140 tỉ đồng, kỳ 1 hạn 1 tuần có doanh số 78.364 tỉ đồng, 2 tuần 14.150 tỉ đồng.
Trên thị trường mở (OMO), các ngân hàng trúng thầu với khối lượng lớn. Ngày 27.5, ở kỳ hạn 7 ngày, 7 thành viên trúng thầu với khối lượng 6.000 tỉ đồng; kỳ hạn 35 ngày có 10 thành viên trúng 13.000 tỉ đồng; 19 thành viên trúng thầu kỳ hạn 56 ngày với khối lượng 14.000 tỉ đồng. Lãi suất trúng thầu ở mức 4,5%/năm. Từ ngày 18 - 20.5, tại kênh cầm cố, NHNN chào thầu 45.000 tỉ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Tất cả khối lượng này đều trúng thầu. Trong tuần, có 52.000 tỉ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố và NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN. Như vậy, tuần qua, NHNN hút ròng 7.000 tỉ đồng khỏi thị trường qua kênh OMO. Có 301.578,83 tỉ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hoạt động huy động vốn ngân hàng thời gian qua luôn có sự chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn, tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống. Lãi suất huy động tiếp tục phân hóa mạnh, dao động từ 3,7 - 7,7%/năm. Qua quá trình giám sát, NHNN phát hiện vẫn còn một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Do đó, NHNN đề nghị NHNN chi nhánh tại các khu vực họp với các ngân hàng thương mại yêu cầu quán triệt việc cắt giảm lãi suất, cũng như kiểm tra việc thực hiện.