Theo thông báo ngày 29/5 của Ngân hàng Nhà nước, năm 2026, các ngân hàng sẽ không phải tính phần tăng thêm khi cho vay với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất vào tín dụng bất động sản.
Chính sách được đưa ra nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng cấp tín dụng vào những phân khúc bất động sản phù hợp với chủ trương, chính sách. Danh sách 25 đơn vị được áp dụng cơ chế trên gồm nhóm “Big 4” và một số ngân hàng tư nhân lớn như Sacombank, Techcombank, ACB, MSB…
Đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo kiểm soát tốc độ leo thang dư nợ với nhóm lĩnh vực bất động sản, không quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung. Cùng với đó, lãi suất cho vay mua nhà cũng tăng, từ mức phổ biến 6-8% mỗi năm khoảng lên 12-14%.
Chứng khoán Vietcombank đánh giá tín dụng bất động sản vẫn duy trì xu hướng tăng khi nhiều dự án bước vào giai đoạn mở bán và đẩy nhanh tiến độ thi công, gia tăng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, đơn vị này cho rằng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của ngành bất động sản sẽ kém thuận lợi năm 2025.
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng với nhóm bất động sản đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng, tăng gần 28% so với cuối năm 2024. Nhóm nay đang chiếm khoảng 25-30% tổng dư nợ của toàn hệ thống.
Tin Gốc: Vnexpress

Số liệu thống kê cho thấy có sự tương quan giữa lượng tài khoản chứng khoán mở mới hằng tháng và diễn biến VN-Index từ năm 2019 đến nay.
Ví dụ, nửa cuối năm 2021 đến đầu năm 2022, số tài khoản mở mới đạt đỉnh cao nhất lịch sử, đúng giai đoạn VN-Index ở vùng 1.400 - 1.500 điểm. Khi thị trường giảm khoảng 40% trong 8 tháng tiếp theo, lượng mở mới cũng giảm theo. Và khi thị trường hồi phục, lượng mở mới tăng trở lại.
Sang đến năm 2024, thị trường ghi nhận thêm khoảng 2 triệu tài khoản mới. Theo thống kê của FiinTrade, nhà đầu tư cá nhân mua ròng hơn 77.700 tỉ đồng trên sàn HoSE trong năm 2024. Giai đoạn mua ròng đỉnh điểm rơi vào tháng 5 và tháng 6, khi VN-Index tiếp cận ngưỡng 1.280 - 1.300 điểm - vùng đỉnh ngắn hạn của năm.
Năm 2025, con số mở mới tiếp tục tăng lên gần 2,6 triệu tài khoản, đưa tổng số lên hơn 11,8 triệu, trong bối cảnh VN-Index lập đỉnh lịch sử 1.784 điểm.
Dragon Capital nhận định nhà đầu tư cá nhân không dẫn dắt mà thường chạy theo xu hướng. Dòng tiền có xu hướng đến sau khi thị trường đã tăng và rút đi sau khi đã giảm.
Trong tài chính hành vi, hiện tượng này được gọi là hành vi bầy đàn - xu hướng ra quyết định dựa trên hành động của người xung quanh thay vì phân tích độc lập. Ở thị trường có hơn 80% giao dịch đến từ cá nhân, hành vi bầy đàn có thể tạo ra vòng lặp tự củng cố.
Khi nhiều người mua khiến giá tăng, giá tăng xác nhận quyết định mua, dẫn đến nhiều người mua thêm cho đến khi dòng tiền mới cạn kiệt và vòng lặp đảo chiều.
Đây là xu hướng mà hầu hết nhà đầu tư nhận ra ở chính mình, dù không phải lúc nào cũng thừa nhận. Hãy hình dung hai cổ phiếu mua cùng một thời điểm. Cổ phiếu A tăng 20%, nhà đầu tư bán ngay với tâm lý "chốt chắc ăn". Cổ phiếu B giảm 30%, nhà đầu tư giữ lại, chờ "về bờ".
Một năm sau, mã A tiếp tục tăng thêm 40%, trong khi mã B vẫn nằm ở vùng giá thấp. Danh mục lúc này nghiêng hoàn toàn về phía mã kém chất lượng, vì mã tốt đã bị loại khỏi danh mục từ sớm.
Gốc rễ của xu hướng này nằm ở đặc tính rất cơ bản của tâm lý con người là nỗi đau mất mát thường mạnh gấp khoảng 2 lần niềm vui từ lợi nhuận tương đương.
Khi nhìn vào một cổ phiếu đang lãi 20%, cảm giác "nếu không chốt bây giờ, lợi nhuận có thể mất" thắng cảm giác "nếu giữ tiếp, lợi nhuận có thể tăng thêm". Và khi nhìn vào cổ phiếu đang lỗ 30%, cảm giác "chưa bán thì chưa lỗ" mạnh hơn lý trí "nên cắt lỗ để bảo toàn vốn".
Dragon Capital cho biết đây là cách bộ não được thiết kế qua hàng triệu năm tiến hóa để bảo vệ nguồn lực. Nhưng trên thị trường tài chính, bản năng này thường dẫn đến kết quả không tối ưu.
Quỹ đầu tư này nhận định dư nợ cho vay ký quỹ phản ánh mức độ sẵn sàng sử dụng đòn bẩy của nhà đầu tư, tức là mức độ tự tin của thị trường. Xu hướng này thường khá nhất quán. Nhà đầu tư có xu hướng tăng đòn bẩy sau khi thị trường đã tăng và giảm đòn bẩy sau khi thị trường đã giảm - đi ngược với lý thuyết tối ưu.
Trong tài chính hành vi, xu hướng này gọi là thiên lệch do thông tin gần nhất - khi nhà đầu tư đánh giá quá cao những gì vừa xảy ra. Ba tháng thị trường điều chỉnh liên tục có thể tạo ra cảm giác thị trường sẽ điều chỉnh mãi, dù dữ liệu dài hạn cho thấy điều ngược lại. Ba tháng tăng liên tục có thể tạo ra cảm giác "lần này khác", dù mọi chu kỳ đều có sự điều chỉnh.
Trong sự kiện đại dịch năm 2020, những nhà đầu tư bắt đầu đầu tư định kỳ từ ba đến sáu tháng trước đáy, tức là khi tin tức tiêu cực nhất, khi bản năng bảo "đừng mua" lại đạt kết quả cao hơn so với những người bắt đầu đúng tháng đáy.
Nói cách khác, xu hướng "thiên lệch do thông tin gần nhất" thường thúc giục nhà đầu tư dừng lại đúng lúc có thể nên tiếp tục.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cuộc xung đột tại Trung Đông đã kéo dài hơn 2 tháng, gây ra nhiều thương vong và thiệt hại kinh tế, khiến tác động lan truyền ra toàn thế giới. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng thế giới có thể sẽ trải qua một số thay đổi cần thiết và mang tính cấu trúc vì cuộc xung đột này.
Eo biển Hormuz sẽ không còn trở thành điểm nghẽn của kinh tế toàn cầu và Iran khó có thể gây gián đoạn cho thị trường dầu thế giới. Kinh tế càng sụt giảm mạnh, động lực thực hiện các thay đổi cần thiết càng lớn.
Hiện chưa rõ các bên có thể đạt thỏa thuận nào để chấm dứt chiến sự. Dù vậy, các nhà kinh tế học và chuyên gia quân sự đều nhận định rằng cuộc xung đột vẫn có thể mang đến một số kết quả tích cực trong dài hạn.
Cuộc chiến đã phơi bày những điểm yếu cấu trúc lớn trong chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu - một hệ thống phức tạp đòi hỏi cân bằng giữa hiệu quả và sự dư thừa. Việc Iran làm gián đoạn 20% nguồn cung dầu toàn cầu bằng thủy lôi, drone tự chế và xuồng cao tốc cho thấy thế giới sẽ phải đánh giá lại nghiêm túc và thực hiện các thay đổi lâu dài.
Kịch bản khả thi nhất là Trung Đông xây thêm các đường ống dẫn dầu và khí đốt qua Arab Saudi và UAE để tránh hoàn toàn eo biển Hormuz. "Các nước sẽ phát triển đường ống và tăng mạnh công suất vận chuyển. Khi đó, không còn ai đặt toàn bộ tương lai của mình vào eo biển này nữa. Đây là điều rất tích cực", Jay Hatfield - nhà phân tích tại Infrastructure Capital Advisors cho biết trên CNN.
Việc này cũng đồng nghĩa chuỗi cung ứng năng lượng có thể an toàn và rẻ hơn trong dài hạn. Thế giới đang phải trả phí bảo hiểm rất cao cho việc vận chuyển hàng hóa qua những vùng biển căng thẳng.
"Nếu không có cuộc chiến, cú sốc như vừa qua, người ta khó nhận ra mọi thứ cần thay đổi", Ross Mayfield - chiến lược gia đầu tư tại Baird nhận định.
Các nền kinh tế chuyển dịch để thích ứng từng xảy ra vài lần trong thập kỷ qua. Sau đại dịch, chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, nhưng đã được củng cố lại đáng kể. Xung đột Nga - Ukraine thay đổi cách châu Âu mua khí đốt tự nhiên. Thuế nhập khẩu của Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng tạo ra các thay đổi lớn trong việc mua nguyên liệu thô.
Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng càng cần thiết trong thời điểm nhu cầu nhiên liệu toàn cầu ngày càng tăng mạnh. Nhiều hãng công nghệ đang xây dựng trung tâm dữ liệu AI, vốn tiêu thụ lượng điện khổng lồ với tốc độ chóng mặt.
Nếu thế giới giảm phụ thuộc vào năng lượng Trung Đông, Mỹ có thể hưởng lợi. Khí tự nhiên hiện vẫn là nguồn năng lượng lớn nhất để sản xuất điện. Mỹ sở hữu trữ lượng khí rất lớn cùng năng lực xuất khẩu ngày càng tăng.
Theo Joe Brusuelas - kinh tế trưởng tại RSM, tác động từ những thay đổi của kinh tế toàn cầu chỉ có thể nhìn rõ sau 10-20 năm nữa.
Thực tế, OPEC - đối thủ lớn nhất của Mỹ trong lĩnh vực nhiên liệu hóa thạch - đã có dấu hiệu rạn nứt. UAE, nước sản xuất dầu lớn thứ hai trong nhóm rời liên minh này. Điều này làm suy yếu khả năng tác động lên giá dầu thế giới thông qua hạn ngạch sản xuất của OPEC.
"Đa dạng hóa nguồn cung khỏi OPEC và chuyển sang các nhà cung cấp đáng tin cậy hơn, đặc biệt là Mỹ, giúp cải thiện an ninh năng lượng toàn cầu và ổn định giá", Rob Thummel - Giám đốc Danh mục Đầu tư tại quỹ Tortoise Capital cho biết.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển sang năng lượng mặt trời cũng đang tăng tốc tại nhiều khu vực do cú sốc giá dầu. Xuất khẩu công nghệ năng lượng mặt trời, pin và xe điện của Trung Quốc đều lập kỷ lục trong tháng 3, theo hãng nghiên cứu năng lượng Ember. "Một nền kinh tế ít phụ thuộc vào nguồn năng lượng sẽ là điều tích cực", Mayfield đánh giá.
Dù vậy, các kịch bản tích cực này chưa chắc sẽ xảy ra. Chính quyền mới tại Iran có thể còn cứng rắn hơn hiện tại. Chiến sự cho thấy Iran biết cách gây sức ép với kinh tế toàn cầu. Heather Long - kinh tế trưởng tại Navy Federal Credit Union cho rằng nếu eo biển Hormuz không còn quá quan trọng, nước này và các lực lượng đồng minh có thể chuyển sang đe dọa những tuyến vận tải khác trong tương lai.
Bên cạnh đó, OPEC gần đây lại tăng sản lượng dầu. Việc liên minh này biến mất vì thế cũng có thể làm giảm khả năng thế giới phối hợp hành động trong các cuộc khủng hoảng năng lượng sau này.
Cuối cùng, các thay đổi từ chiến sự có thể mang lại lợi ích cho bên này nhưng gây thiệt hại cho bên khác. Ví dụ, quá trình chuyển sang năng lượng tái tạo, đặc biệt tại châu Á và châu Âu, có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các khu vực khai thác dầu đá phiến tại bang Texas (Mỹ). Nếu nhu cầu dầu giảm về dài hạn, giá dầu có thể xuống thấp hơn giai đoạn trước chiến sự, gây thiệt hại cho ngành này.
"Rất nhiều điều còn phụ thuộc vào yếu tố nào mang tính dài hạn, và đâu chỉ là tạm thời", Brusuelas kết luận.
Tin Gốc: Vnexpress

Đây là những thông số về sự suy giảm "sức khỏe" của hộ kinh doanh trong năm 2025 vừa được Liên đoàn Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố trong báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.
VCCI cho rằng trong cấu trúc kinh tế tư nhân tại Việt Nam, khu vực hộ kinh doanh không chỉ là những đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, mà còn là một bộ phận có ý nghĩa nền tảng đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Ước tính đến hết năm 2025 cả nước có khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, các hộ đang tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động, đóng góp ngân sách khoảng 32,8 ngàn tỉ đồng.
Kết quả khảo sát được VCCI thực hiện từ tháng 2 đến 4-2026 với 1.001 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy khu hộ kinh doanh bước vào giai đoạn 2025-2026 với nhiều áp lực do thị trường biến động và yêu cầu quản lý ngày càng hoàn thiện.
Về kết quả kinh doanh trong năm 2025, có 73,7% hộ cho biết kinh doanh lãi ít, 12,9% hòa vốn, 9,3% lỗ ít, 2,2% lỗ lớn và chỉ 1,9% đạt lợi nhuận như kỳ vọng.
Điều này cho thấy đa số hộ kinh doanh vẫn duy trì được hoạt động nhưng lợi nhuận mỏng, dư địa tích lũy để tái đầu tư hạn chế.
Cũng trong năm 2025 có 23% hộ kinh doanh được khảo sát cho biết doanh thu giảm mạnh, 58,5% doanh thu giảm nhẹ.
Ngoài ra 20,6% hộ kinh doanh cho biết lượng khách hàng giảm mạnh, 54,8% hộ có lượng khách hàng giảm nhẹ.
Doanh thu và lượng khách hàng giảm trên diện rộng trong năm vừa qua cho thấy khó khăn của hộ kinh doanh không đến từ quy mô nhỏ, mà còn từ sức cầu thị trường đang trong quá trình điều chỉnh, VCCI nhận định.
Cũng theo kết quả khảo sát của VCCI thì xu hướng kinh doanh của khu vực hộ kinh doanh trong 2 năm tới cũng cón nhiều tín hiệu cần quan tâm.
Có 60,8% hộ kinh doanh dự kiến duy trì hoạt động, 33% có xu hướng thu hẹp phạm vi kinh doanh, 4,4% dự kiến giải thể và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.
Những con số này theo nhóm nghiên cứu của VCCI thể hiện xu hướng chủ đạo của hộ kinh doanh trong thời gian tới là duy trì hoạt động và quản trị rủi ro hơn là mở rộng kinh doanh.
Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2025 cũng chỉ ra loạt khó khăn của khu vực hộ kinh doanh hiện nay, đó là khó khăn về nguồn lực, thị trường, đầu vào sản xuất và khung pháp lý đầu tư kinh doanh.
Vấn đề tuân thủ nghĩa vụ thuế, hóa đơn điện tử cũng là những khó khăn đa số hộ kinh doanh gặp phải, có tới 71,2% hộ kinh doanh cho biết khó thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử, 67,6% gặp khó khăn khi hạch toán chi phí được trừ, 62,3% gặp khó khăn trong kê khai và nộp thuế.
Khảo sát của VCCI cũng chỉ ra rằng các hộ kinh doanh rất cần sự hỗ trợ trong khâu xuất hóa đơn điện tử.
Trong khâu xuất hóa đơn điện tử, có 35,3% hộ kinh doanh cho biết gặp lỗi kỹ thuật, 54,8% không biết sửa hóa đơn sai, 31,1% thiếu thiết bị, 9,6% gặp khó khăn khác, chỉ 13,6% cho biết không gặp khó khăn trong xuất hóa đơn điện tử.
Một điểm đáng lưu ý trong khảo sát của VCCI là mức độ khó khăn của hộ kinh doanh có xu hướng tăng theo quy mô doanh thu. Điều này ít nhiều ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi của hộ kinh doanh lên doanh nghiệp.
Có 15,6% hộ kinh doanh tham gia khảo sát cho biết có ý định chuyển thành doanh nghiệp trong 2 năm tới, trong khi 84,4% chưa có kế hoạch. Điều này cho thấy đa số hộ kinh doanh chưa có ý định chuyển thành doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

