Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định về chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp. Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện có thể chuyển đổi theo hai mô hình: công ty cổ phần và công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm 100% vốn.
Quy định này mở rộng hơn so với Nghị định 150/2020 hiện hành, vốn chỉ quy định việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.
Tại dự thảo, Bộ đề xuất không chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập đang độc quyền cung ứng dịch vụ công thành công ty cổ phần. Quy định này để tránh chuyển độc quyền nhà nước thành độc quyền tư nhân, căn cứ kinh nghiệm quốc tế và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Theo đó, đơn vị duy nhất cung cấp một loại dịch vụ công trên cả nước hoặc tại một địa phương, nếu quy hoạch mạng lưới ngành không yêu cầu tiếp tục duy trì dưới hình thức đơn vị sự nghiệp công lập, có thể chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.
Bên cạnh đó, các đơn vị hoạt động trong những lĩnh vực quan trọng, nhạy cảm mà Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ vốn cũng được xem xét chuyển thành công ty do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
Kết quả khảo sát cuối 2025 của Bộ Tài chính cho thấy các đơn vị sự nghiệp công lập đang hoạt động trong 40 lĩnh vực khác nhau. Qua rà soát, cơ quan này đề xuất một số lĩnh vực Nhà nước nắm giữ tuyệt đối khi chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp, gồm xuất bản, thông tin – truyền thông, thông tin đối ngoại và công tác xã hội. Đây là những lĩnh vực đặc thù, liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội và định hướng thông tin.
Dự thảo cũng đề xuất không chuyển bệnh viện, trường học và các đơn vị thuộc lĩnh vực mà pháp luật chuyên ngành không cho phép thành doanh nghiệp. Quy định này nhằm tránh ảnh hưởng tới nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công cơ bản cho người dân, đặc biệt y tế và giáo dục.
Để chuyển đổi thành doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập phải tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm cả chi thường xuyên và đầu tư trong hai năm liên tiếp gần nhất tính đến thời điểm xem xét chuyển đổi. Điều kiện này nhằm bảo đảm đơn vị đã có khả năng hoạt động theo cơ chế thị trường, hạn chế rủi ro khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp.
Dự thảo cũng quy định việc xác định giá trị đơn vị sự nghiệp công lập khi chuyển đổi phải gồm toàn bộ tài sản hiện có, quyền sử dụng đất, các khoản công nợ và các nguồn lực khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp chuyển thành công ty cổ phần, tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ được xác định theo quy định về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trường hợp chưa quy định cụ thể, bộ quản lý hoặc UBND tỉnh sẽ quyết định tỷ lệ nhưng không được thấp hơn 35%. Việc này để đảm bảo quyền phủ quyết của cổ đông nhà nước và doanh nghiệp sau chuyển đổi tiếp tục cung ứng dịch vụ công.
Giai đoạn 2021-2025 có 516 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc danh mục chuyển đổi thành công ty cổ phần. Tuy nhiên, đến nay mới có 86 đơn vị được trình Thủ tướng xem xét, 65 đơn vị được phê duyệt phương án chuyển đổi và chỉ 5 đơn vị hoàn tất quá trình chuyển thành công ty cổ phần.
Dù số lượng chuyển đổi còn hạn chế, nhà điều hành đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp sau chuyển đổi cơ bản ổn định và có xu hướng tích cực. Doanh thu, lợi nhuận tăng lên, thu nhập người lao động được cải thiện, đồng thời chất lượng cung ứng dịch vụ cũng được nâng cao.
Bộ Tài chính cho biết tiến độ chuyển đổi chậm xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Thực tế, nhiều cơ quan chủ quản và đơn vị sự nghiệp vẫn còn tâm lý e ngại khi chuyển sang mô hình doanh nghiệp. Không ít đơn vị quen hoạt động theo cơ chế sự nghiệp truyền thống, trong khi tình hình tài chính thiếu ổn định, thua lỗ hoặc lỗ lũy kế lớn khiến việc cổ phần hóa khó thu hút nhà đầu tư.
Về khách quan, phần lớn đơn vị sự nghiệp công lập đang cung cấp dịch vụ công, không thuộc đối tượng cổ phần hóa. Tỷ lệ đơn vị tự chủ tài chính cũng khá thấp. Theo số liệu khảo sát, trong nhóm đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác – nhóm được định hướng đẩy mạnh cổ phần hóa – chỉ có 889 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, tương đương 6,3%.
Ngoài ra, danh mục ngành nghề được phép chuyển đổi hiện hành chưa bao quát hết các đơn vị đã có khả năng hoạt động theo cơ chế thị trường. Quy định phải hoàn tất phương án sắp xếp, xử lý nhà đất trước khi chuyển đổi cũng được đánh giá là một trong những nút thắt lớn khiến nhiều đơn vị kéo dài tiến độ.
Chiều 14/5, liên Bộ Công Thương, Bộ Tài chính quyết định điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu, áp dụng từ 15h cùng ngày.
Cơ quan điều hành quyết định giảm 660 đồng/lít với xăng E5 RON 92 và giảm 280 đồng/lít với xăng RON 95. Sau điều chỉnh, giá bán lẻ với xăng E5 RON 92 là 23.130 đồng/lít và xăng RON 95 là 24.070 đồng/lít.
Dầu diesel giảm 270 đồng/lít còn 27.220 đồng/lít, dầu mazut giảm 590 đồng/lít về mức 20.580 đồng/kg.
Ở kỳ điều hành này, cơ quan quản lý tiếp tục không chi sử dụng hay trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu. Hiện mặt bằng giá xăng dầu của Việt Nam đang ở mức thấp hơn so với các quốc gia có chung đường biên giới.
Hiện nhiều doanh nghiệp xăng dầu đang từng bước nâng cấp hệ thống phân phối, chuẩn bị hạ tầng kho bãi và bán lẻ để triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 ngay trong tháng này.
Trước đó, đến cuối tháng 4, Petrolimex đã hoàn thiện 7 cụm kho pha chế tiêu chuẩn và chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tại hơn 2.800 cửa hàng bán lẻ trên cả nước, đáp ứng lộ trình thay thế xăng khoáng.
Doanh nghiệp cũng ghi nhận 8 tháng thí điểm bán mặt hàng xăng này tại TPHCM với sản lượng tăng 40%. Trong thời gian gần đây, sản lượng kinh doanh xăng E10 đang ở mức 3.000-4.000m3/ngày.
Hệ thống cửa hàng xăng dầu của Petrolimex đã kinh doanh xăng E10 từ cuối tháng 4, đến ngày 15/5 đạt độ phủ khoảng 80% số cửa hàng và dự kiến hoàn thành việc chuyển đổi sang kinh doanh xăng E10 vào ngày 20/5.
Ngoài Petrolimex, PV OIL cũng cho biết sẽ triển khai bán rộng khắp xăng sinh học E10 trên toàn hệ thống, đồng thời dừng bán xăng khoáng RON 95 từ ngày 15/5.
Trước ngày triển khai đồng loạt, các cửa hàng xăng dầu của PV OIL đã hoàn tất việc rà soát lần cuối và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, từ bồn chứa, trụ bơm, đường ống đến thiết bị đo lường.
Đồng thời, việc vệ sinh bồn chứa, kiểm tra độ kín và đánh giá khả năng tương thích của thiết bị với xăng E10 đã được thực hiện, nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và an toàn trong quá trình kinh doanh. Đối với lượng xăng khoáng RON 95 còn tồn tại các cửa hàng, các đơn vị sẽ tiếp tục bán hết trước khi chuyển sang kinh doanh hoàn toàn xăng E10.
PV OIL Sài Gòn cũng đã gửi thông báo đến khách hàng, đối tác về việc triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 RON 95-III kể từ tháng 4 và sẽ dần chuyển đổi hoàn toàn sang xăng sinh học. Đáng chú ý, công ty này sẽ dừng việc bán xăng RON 95-III kể từ ngày 15/5.
Theo số liệu của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), trong 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhân điều đạt 139.865 tấn, tăng gần 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 953,5 triệu USD, tăng gần 10,9%, trong khi giá xuất khẩu bình quân đạt 6.802 USD/tấn, chỉ giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất của ngành điều Việt Nam với mức tăng trưởng tích cực cả về lượng và kim ngạch, lần lượt tăng 29,7% và 30,3%. Trong khi đó, thị trường Trung Quốc giảm do ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ và kỳ nghỉ đầu năm. Singapore tiếp tục gia tăng vai trò là thị trường trung chuyển trong tháng 3.
Đáng chú ý, khu vực Trung Đông - thị trường lớn thứ ba của ngành điều Việt Nam trong năm 2025 - đang chịu tác động mạnh từ xung đột địa chính trị. Theo Vinacas, sau khi Israel và Mỹ tấn công Iran, lượng xuất khẩu điều vào khu vực này trong tháng 3 giảm tới 50% so với cùng kỳ. Sang tháng 4/2026, do tình hình chiến sự leo thang, hoạt động xuất khẩu sang khu vực này gần như đình trệ.
Không chỉ đầu ra gặp khó, hoạt động nhập khẩu điều thô phục vụ chế biến cũng tăng mạnh trong quý I do lo ngại thiếu hụt nguồn cung. Việt Nam đã nhập khẩu hơn 810.000 tấn điều thô, tăng 35,9% so với cùng kỳ, với tổng trị giá vượt 1,31 tỷ USD. Riêng trong tháng 3, lượng nhập khẩu tăng hơn 44% so với cùng kỳ năm trước.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung điều thô lớn nhất cho Việt Nam, trong khi Bờ Biển Ngà ghi nhận mức tăng trưởng mạnh cả về lượng lẫn giá trị xuất khẩu sang Việt Nam.
Ông Bạch Khánh Nhựt - Phó Chủ tịch thường trực Vinacas - đánh giá, số liệu quý I chưa phản ánh đầy đủ xu hướng cả năm do đây là giai đoạn cao điểm thu mua nguyên liệu phục vụ chế biến của ngành điều. Tuy nhiên, những biến động vừa qua đã cho thấy tác động tức thì của chiến sự Trung Đông đến hoạt động xuất nhập khẩu của ngành điều.
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là giá điều thô nhập khẩu vẫn ở mức cao trong khi giá xuất khẩu nhân điều giảm nhẹ, khiến chi phí nguyên liệu trong cơ cấu giá thành tăng mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trước bối cảnh đó, Vinacas đã đưa mục tiêu xuất khẩu điều năm 2026 xuống còn 5 tỷ USD, thấp hơn mức hơn 5,43 tỷ USD đạt được trong năm 2025. Hiệp hội cho rằng mục tiêu này phù hợp với bối cảnh hiện nay và có thể tiếp tục được điều chỉnh tùy theo diễn biến thị trường trong thời gian tới.
Ngoài biến động thị trường, ngành điều còn phải đối mặt với áp lực logistics khi tình hình bất ổn tại Trung Đông và tuyến vận tải Biển Đỏ - Suez khiến giá cước vận chuyển duy trì ở mức cao và tiềm ẩn nguy cơ tăng thêm.
Cùng với đó, lãi suất tăng nhanh trong 4 tháng đầu năm và điều kiện tiếp cận tín dụng khó khăn đang gây áp lực lớn lên dòng tiền của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn thu mua nguyên liệu.
Ở góc độ thị trường xuất khẩu, các quy định mới liên quan đến môi trường, phát triển bền vững, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tại EU và Trung Quốc cũng đang làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ của doanh nghiệp chế biến điều.
Trước những áp lực này, Vinacas kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ tín dụng như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và xây dựng các gói vay phù hợp cho doanh nghiệp thu mua, chế biến điều.
Hiệp hội cũng đề xuất các bộ, ngành liên quan làm việc với hãng tàu nhằm ổn định giá cước vận tải, ưu tiên chỗ cho nông sản xuất khẩu và tìm kiếm các tuyến vận tải thay thế các kênh đi qua khu vực xung đột.
Về dài hạn, ngành điều cho rằng cần thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do với các quốc gia châu Phi nhằm tạo môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động nhập khẩu nguyên liệu.
Bên cạnh đó, Vinacas kiến nghị Chính phủ có chính sách tín dụng ưu đãi để doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trên mỗi tấn nhân điều, đồng thời hỗ trợ tái canh và phát triển vùng nguyên liệu trong nước nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn điều thô nhập khẩu.
Nhận định được công ty nghiên cứu thị trường JLL Việt Nam đưa ra trong báo cáo thị trường bất động sản Hà Nội, công bố ngày 8-4.
Báo cáo của JLL Việt Nam ghi nhận trong quý 1 năm nay thị trường Hà Nội đón nhận khoảng 5.300 căn hộ và 164 nhà liền thổ mới từ hơn 30 dự án ở khu vực cạnh và ngoài vành đai 3 có hạ tầng đang phát triển.
Phân khúc cao cấp và trung cao cấp vẫn chiếm phần lớn nguồn cung căn hộ mới, trong khi nguồn cung nhà ở trung cấp và bình dân tiếp tục hạn chế, khiến thị trường thiếu vắng các sản phẩm phù hợp với nhóm người mua nhà lần đầu.
Bà Lê Thị Huyền Trang, Tổng giám đốc JLL Việt Nam, cho biết nguồn cung nhà ở tại Hà Nội 5 năm tới (2026-2030) sẽ tăng mạnh so với 5 năm vừa qua. Nguồn cung trung bình hằng năm sẽ đạt khoảng 23.000 căn, riêng nhà liền thổ đạt 13.000 căn/năm. Trong khi giai đoạn 2021-2025 nguồn cung nhà ở tại Hà Nội chỉ đạt khoảng 8.000 căn/năm.
Tuy nhiên nguồn cung nhà ở sẽ có xu hướng dịch chuyển ra các đô thị vệ tinh, vùng ven của Hà Nội, dự báo hơn 50% nguồn cung nhà ở của thủ đô trong 5 năm tới tập trung ở các đô thị vệ tinh, vùng ven nhờ hạ tầng kết nối thuận tiện và quỹ đất phát triển dự án rộng.
Cũng theo bà Trang, nguồn cung nhà ở của Hà Nội sẽ tăng mạnh trong thời gian tới nhờ hạ tầng kết nối ngày càng hoàn thiện, các luật liên quan tới thị trường được hoàn chỉnh, thủ tục pháp lý các dự án được khơi thông.
Về giá bán nhà tại Hà Nội, kết quả khảo sát nghiên cứu của JLL cho thấy giá nhà Hà Nội trong quý 1-2026 nhỉnh hơn TP.HCM.
Cụ thể, giá bán sơ cấp trung bình trong quý 1 tại Hà Nội duy trì ở mức cao, khoảng 94,4 triệu đồng/m² căn hộ, tăng 25,3% theo năm và 254,4 triệu đồng/m² nhà liền thổ, giảm 9,1% theo năm.
Trong đó một số dự án căn hộ tại các khu vực quy hoạch mới có giá bán trên 140 triệu đồng/m² đang bán rất chậm, người mua chủ yếu là người có năng lực tài chính mạnh, mục đích mua để ở.
Còn trên thị trường thứ cấp (mua đi bán lại), giá bán căn hộ cũng tăng ổn định, với thanh khoản tập trung tại các dự án hoàn thiện, vị trí tốt và các khu đô thị mới phía tây và đông thủ đô.
Tổng lượng giao dịch thành công trong quý 1 đạt khoảng 5.186 căn hộ và 261 nhà liền thổ. Người mua có xu hướng lựa chọn các sản phẩm có diện tích vừa phải, pháp lý rõ ràng, vị trí thuận tiện và được phát triển bởi những chủ đầu tư uy tín.
Ngoài ra trong quý 1 năm nay lãi suất cho vay mua bất động sản tại nhiều ngân hàng thương mại tăng, phổ biến ở mức 9-11%/năm trong 6-12 tháng đầu.
Do đó nhóm khách hàng phụ thuộc vào vốn vay đang chịu áp lực lớn hơn từ chi phí lãi và rủi ro lãi suất thả nổi cao sau khi hết thời gian ưu đãi, ảnh hưởng đến khả năng chi trả mua nhà.
Đánh giá về triển vọng thị trường Hà Nội, bà Trang nhấn mạnh dù lãi suất và lạm phát đang tạo ra những thách thức rõ nét, nhưng thị trường vẫn được nâng đỡ bởi nhu cầu ở thực bền vững.
Bất động sản vẫn được xem là kênh tích lũy và bảo toàn giá trị tài sản dài hạn, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát. Nhu cầu ở thực và đầu tư an toàn vẫn là động lực then chốt của thị trường.