BS Ngô Quỳnh Trang, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết ung thư và quá trình điều trị không chỉ gây mệt mỏi mà còn làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch và ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, không ít người bệnh hiện nay vẫn áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan do nghe theo truyền miệng hoặc thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội.
Những quan niệm sai lầm này không giúp “bỏ đói” tế bào ung thư mà ngược lại có thể khiến cơ thể suy kiệt nhanh hơn, làm giảm khả năng đáp ứng với điều trị.
Giảm ăn hoặc nhịn ăn để “bỏ đói” khối u
Đây là một trong những quan niệm phổ biến nhất ở người bệnh ung thư. Nhiều người cho rằng cắt giảm tinh bột, ăn rất ít hoặc thậm chí nhịn ăn sẽ khiến tế bào ung thư không có nguồn dinh dưỡng để phát triển. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy.
Các chuyên gia cho biết khối u không chỉ sử dụng năng lượng từ đường hay tinh bột mà còn có thể lấy năng lượng từ đạm và mỡ do chính cơ thể người bệnh phân hủy. Khi giảm ăn kéo dài, cơ thể sẽ mất cơ, sụt cân nhanh, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch và giảm khả năng chịu đựng các phương pháp điều trị như phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, kéo dài thời gian nằm viện và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư. Mục tiêu dinh dưỡng trong điều trị ung thư không phải là “bỏ đói khối u” mà là cung cấp đủ năng lượng để cơ thể có sức chống chọi với bệnh tật và đáp ứng điều trị hiệu quả.
Kiêng hoàn toàn thịt đỏ
Không ít người bệnh loại bỏ hoàn toàn thịt bò, thịt lợn hoặc thịt dê khỏi thực đơn vì lo ngại những thực phẩm này làm khối u phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, thịt đỏ là nguồn cung cấp protein chất lượng cao cùng nhiều vi chất quan trọng như sắt, vitamin B12 và kẽm. Đây đều là những dưỡng chất cần thiết cho quá trình tạo máu, duy trì khối cơ, tăng cường miễn dịch và phục hồi sau điều trị.
Nếu kiêng tuyệt đối trong thời gian dài, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ thiếu đạm, thiếu máu, sụt cân, mệt mỏi và giảm khả năng đáp ứng với các phương pháp điều trị.
Theo các khuyến cáo quốc tế, việc hạn chế tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ và đặc biệt là thịt chế biến sẵn nhằm giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư, nhất là ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc người đã mắc ung thư phải loại bỏ hoàn toàn thịt đỏ khỏi khẩu phần ăn.
Người bệnh nên sử dụng thịt đỏ ở mức hợp lý, ưu tiên thịt tươi và các phương pháp chế biến lành mạnh như luộc, hấp hoặc hầm. Đồng thời cần kết hợp đa dạng nguồn đạm từ cá, thịt gia cầm, trứng, sữa, đậu đỗ và các loại hạt.
Cắt bỏ hoàn toàn đường và tinh bột
“Đường nuôi tế bào ung thư” là quan niệm được nhiều người bệnh truyền tai nhau. Vì vậy, không ít người cắt hoàn toàn cơm, cháo, trái cây hoặc các thực phẩm chứa tinh bột với hy vọng làm chậm sự phát triển của khối u. Tuy nhiên, glucose là nguồn năng lượng thiết yếu cho mọi tế bào trong cơ thể, bao gồm cả các tế bào khỏe mạnh. Não, hồng cầu và nhiều cơ quan quan trọng đều cần glucose để hoạt động bình thường.
Khi cắt giảm quá mức tinh bột và đường, cơ thể dễ rơi vào tình trạng thiếu năng lượng, sụt cân, mất cơ, giảm miễn dịch và suy giảm thể trạng. Trong khi đó, tế bào ung thư vẫn có thể sử dụng năng lượng từ các nguồn khác do cơ thể tự phân hủy.
Đặc biệt, đối với người đang hóa trị hoặc xạ trị, thiếu năng lượng kéo dài có thể làm chậm quá trình hồi phục, tăng nguy cơ biến chứng và ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Người bệnh vẫn cần sử dụng carbohydrate với lượng phù hợp, ưu tiên các nguồn tinh bột lành mạnh như cơm, khoai củ, yến mạch, ngũ cốc nguyên hạt, sữa và trái cây. Trong khi đó, nên hạn chế nước ngọt, bánh kẹo nhiều đường và các thực phẩm siêu chế biến.
BS Trang cho hay dinh dưỡng là một phần quan trọng trong điều trị ung thư. Một chế độ ăn cân đối, đa dạng và phù hợp với tình trạng bệnh không chỉ giúp duy trì thể trạng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Người bệnh không nên tự áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan hoặc loại bỏ hoàn toàn một nhóm thực phẩm khi chưa có chỉ định từ bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng. Khi có nhu cầu điều chỉnh chế độ ăn, người bệnh nên được tư vấn cá thể hóa để bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng vừa phù hợp với quá trình điều trị.
Giá dịch vụ y tế tại các bệnh viện cấp chuyên sâu, bổ sung chi phí quản lý vào giá khám chữa bệnh, vừa được Bộ Y tế phê duyệt. Đây là lần đầu khoản chi này được đưa vào cấu phần giá, nhằm tiến tới tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế tại các bệnh viện công lập.
Theo quy định mới, giá dịch vụ khám chữa bệnh được cấu thành từ ba nhóm: chi phí trực tiếp, chi phí nhân công và chi phí quản lý. Trong đó, chi phí quản lý bao gồm duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị y tế và tài sản cố định; chi phí điện, nước, nhiên liệu; các khoản phí, lệ phí, thuế (gồm thuế sử dụng đất); bảo hiểm trách nhiệm trong khám chữa bệnh, lãi vay (nếu có) cùng các chi phí quản lý khác.
Giá khám bảo hiểm y tế (BHYT) tăng thêm 2.000 đồng, từ 50.600 đồng lên 52.600 đồng mỗi lượt. Giá hội chẩn ca bệnh khó - áp dụng khi mời chuyên gia từ đơn vị khác tham gia - tăng gần 8.000 đồng, lên 208.000 đồng cho mỗi chuyên gia trong một ca bệnh.
Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, giá giường điều trị hồi sức tích cực (ICU), ghép tạng, ghép tủy hoặc ghép tế bào gốc tăng khoảng 41.000 đồng, lên 1,058 triệu đồng mỗi ngày. Giá giường hồi sức cấp cứu tăng hơn 23.000 đồng, lên hơn 623.000 đồng mỗi ngày.
Tại Bệnh viện K, giá giường ICU, ghép tạng, ghép tủy hoặc ghép tế bào gốc tăng 37.200 đồng, lên 965.200 đồng mỗi ngày. Giá giường hồi sức cấp cứu tăng khoảng 23.000 đồng, lên 581.000 đồng mỗi ngày.
Đối với các giường điều trị nội khoa, giá mới dao động 261.200-340.200 đồng mỗi ngày. Giá giường ngoại khoa và bỏng ở mức 322.800-458.000 đồng mỗi ngày.
Nhiều dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm cũng được điều chỉnh tăng. Chẳng hạn, giá siêu âm cơ bản tăng từ 58.600 đồng lên 61.000 đồng, tương đương tăng 2.400 đồng mỗi lần thực hiện.
Theo Bộ Y tế, mức giá mới áp dụng với dịch vụ khám chữa bệnh thuộc phạm vi thanh toán của BHYT, dịch vụ do ngân sách nhà nước chi trả và các dịch vụ không thuộc danh mục BHYT nhưng không phải dịch vụ theo yêu cầu.
Hiện Bộ Y tế có thẩm quyền phê duyệt giá khám chữa bệnh tại các bệnh viện trực thuộc bộ và các bộ, ngành khác. Với các bệnh viện do địa phương quản lý, mức giá do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành quyết định.
Bệnh nhân có kinh nguyệt từ năm 14 tuổi, thường xuyên đau bụng kinh. Gia đình đưa con đi khám, phát hiện tử cung đôi và chỉ có một bên thận. Gần đây, tình trạng đau bụng ngày càng chuyển biến nặng, khí hư ra nhiều bất thường, nhiều mủ, dịch.
Theo PGS.TS.BS Lê Thị Anh Đào, Bệnh viện phụ sản Hà Nội, bệnh nhân mắc hội chứng dị tật bẩm sinh Herlyn-Werner-Wunderlich (HWW), là một dị tật bẩm sinh rất hiếm gặp ở hệ sinh dục và tiết niệu. Bệnh đặc trưng bởi bộ ba bất thường: tử cung đôi, âm đạo bịt và thiểu sản (không phát triển) thận một bên. Bệnh chỉ bắt đầu phát hiện ra bệnh sau khi bước vào tuổi dậy thì.
Dấu hiệu điển hình nhất là những cơn đau bụng kinh xuất hiện đều đặn mỗi tháng nhưng mức độ đau ngày càng tăng dữ dội theo thời gian, dù chu kỳ kinh nguyệt của trẻ vẫn diễn ra rất đều.
Theo bác sĩ, bệnh nhân có hai tử cung hoàn toàn riêng biệt. Phần phụ bên trái bình thường, nhưng phần phụ bên phải bị dính chặt vào mạc nối lớn và đại tràng. Sau khi gỡ dính, bác sĩ phát hiện vòi tử cung phải đã biến dạng hoàn toàn thành một khối áp xe lớn, chứa đầy dịch mủ và bắt đầu hoại tử.
Các bác sĩ xử lý phần hoại tử và dịch mủ. Tuy nhiên, do vòi tử cung bên phải đã bị hoại tử hoàn toàn và mất cấu trúc giải phẫu, bác sĩ buộc phải cắt bỏ tổ chức bệnh lý này để bảo vệ tính mạng cho bệnh nhân, đồng thời nỗ lực bảo tồn vòi tử cung và buồng trứng còn lại bên trái.
Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ cho thấy, các khối màu đen trong âm đạo thực chất là sợi fibrin và hồng cầu tích tụ lâu ngày bị thoái hóa, cô đặc lại, "nhìn giống như viên sỏi cứng, rắn". Nguồn gốc của ổ mủ nghiêm trọng này bắt nguồn từ việc vòi tử cung bên phải bị viêm nhiễm kéo dài do máu kinh ứ đọng, dẫn đến áp xe và hoại tử.
"Tình trạng này chưa được ghi nhận trong các báo cáo y văn mà êkíp tham khảo", bác sĩ nói.
Bác sĩ khuyến cáo các bậc phụ huynh tuyệt đối không nên chủ quan khi thấy con em mình ở độ tuổi vị thành niên bị đau bụng kinh dữ dội, phải phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc giảm đau hoặc phải nghỉ học mỗi khi đến kỳ. Việc chủ quan bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như viêm nhiễm ngược dòng, áp xe, hoại tử cơ quan sinh dục.
Trẻ cần được đưa đến các cơ sở chuyên khoa để siêu âm, chụp MRI nhằm phát hiện sớm các dị tật đường sinh dục (nếu có). Việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp trẻ chấm dứt các cơn đau, nâng cao chất lượng cuộc sống mà quan trọng hơn là bảo tồn được thiên chức làm mẹ trong tương lai.
Một trong những lý do khiến mỡ nội tạng cần phải được quan tâm đặc biệt vì loại mỡ này không chỉ đóng vai trò dự trữ năng lượng. Các nghiên cứu khoa học cho thấy mô mỡ nội tạng hoạt động như một cơ quan nội tiết, có khả năng tiết ra nhiều chất gây viêm và các phân tử ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Khi lượng mỡ nội tạng tăng cao, nguy cơ kháng insulin, rối loạn mỡ máu, huyết áp cao và viêm mạn tính cũng tăng theo. Đây đều là những yếu tố có khả năng dẫn đến các bệnh mạn tính nghiêm trọng trong tương lai.
Tin vui là mỡ nội tạng phản ứng khá tốt với các bài tập aerobic như đi bộ. Đi bộ không phải là phương pháp giúp giảm mỡ nội tạng nhanh nhất. Thế nhưng, nếu được thực hiện đều đặn, hình thức vận động này thực sự có thể giúp giảm đáng kể lượng mỡ bụng, trong đó có mỡ nội tạng và mỡ dưới da. Điều này đặc biệt đúng nếu kết hợp đi bộ với chế độ ăn uống tốt.
Một nghiên cứu được công bố trên Journal of Exercise Nutrition & Biochemistry đã theo dõi những người phụ nữ béo phì trong nhiều 12 tuần. Kết quả cho thấy nhóm đi bộ giảm đáng kể cả mỡ dưới da lẫn mỡ nội tạng so với nhóm không tập luyện.
Đi bộ có thể tác động đến mỡ nội tạng vì giúp cơ thể đốt calo. Khi vận động kéo dài ở cường độ vừa phải, cơ thể sẽ sử dụng nhiều a xít béo làm nhiên liệu hơn. Theo thời gian, điều này góp phần làm giảm lượng mỡ dự trữ trong cơ thể, bao gồm cả mỡ nội tạng.
Bên cạnh đó, đi bộ còn giúp cải thiện độ nhạy insulin. Khi các tế bào phản ứng tốt hơn với insulin, cơ thể sẽ kiểm soát đường huyết hiệu quả hơn và giảm tích tụ mỡ thừa.
Một điều cần lưu ý là hiệu quả của đi bộ không xuất hiện chỉ sau vài ngày tập. Các tổ chức sức khỏe thường khuyến nghị người trưởng thành nên thực hiện ít nhất 150 phút hoạt động aerobic cường độ vừa mỗi tuần. Với đi bộ, điều này tương đương khoảng 30 phút mỗi ngày và 5 ngày trong tuần.
Đối với người mới bắt đầu, họ nên đi bộ với tốc độ vừa phải, tạo cảm giác hơi thở nhanh hơn nhưng vẫn có thể nói chuyện bình thường. Khi thể lực được cải thiện, có thể tăng dần tốc độ hoặc xen kẽ những đoạn đi bộ nhanh để tăng hiệu quả tập luyện, theo Healthline.