Trong khuôn khổ chương trình “Sức sống hàng Việt” số 7 với chủ đề “Chợ phiên Kinh Bắc” do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) phối hợp tổ chức ngày 4/6, hàng chục sản phẩm đặc trưng của Bắc Ninh đã được giới thiệu tới người tiêu dùng Thủ đô.
Nổi bật có vải thiều, mỳ Chũ, sâm Núi Dành, trà hoa vàng, tỏi đen Gia Bình, măng lục trúc cùng nhiều sản phẩm OCOP tiêu biểu. Chương trình cũng kết hợp quảng bá trên nền tảng số thông qua các phiên livestream trên TikTok của Cục nhằm hỗ trợ tiêu thụ nông sản, đặc sản địa phương.
Tại chương trình, ông Nguyễn Thế Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh cho biết tính đến ngày 4/6, sản lượng vải thiều tiêu thụ đã đạt khoảng 35.000 tấn, dù vụ thu hoạch mới bước vào giai đoạn đầu.
“Đáng chú ý, giá vải thiều năm nay duy trì ở mức cao. Giá đầu vụ đạt trên 50.000 đồng/kg, có thời điểm lên tới 80.000-90.000 đồng/kg. Hiện giá bán bình quân vẫn ở mức trên 60.000 đồng/kg, cao hơn đáng kể so với các năm trước”, ông cho biết.
Theo ông Thi, kết quả tích cực này có được nhờ địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch tiêu thụ vải thiều từ cuối năm trước. Do thời gian thu hoạch chỉ kéo dài khoảng 50 ngày nên công tác xúc tiến thương mại được triển khai sớm, bài bản và đồng bộ.
Sở Công Thương đã tham mưu UBND tỉnh thành lập các ban chỉ đạo, tổ công tác chuyên trách để hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu. Trong nước, Bắc Ninh tăng cường kết nối với các địa phương, đặc biệt là các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Lào Cai nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động lưu thông hàng hóa.
“Đối với thị trường quốc tế, tỉnh tập trung xúc tiến tại các thị trường trọng điểm như Mỹ, Canada, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nước châu Âu”, lãnh đạo Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh cho biết.
Bên cạnh việc kết nối với doanh nghiệp, ông Thi cho biết hệ thống phân phối và chuỗi bán lẻ lớn, địa phương cũng đẩy mạnh tiêu thụ qua thương mại điện tử và các nền tảng số.
“Một điểm mới trong năm nay là việc thành lập câu lạc bộ KOL, KOC để hỗ trợ quảng bá, bán hàng thông qua các phiên livestream được tổ chức tại vùng trồng và nhiều địa phương trên cả nước”, ông nói.
Theo lãnh đạo Sở Công Thương Bắc Ninh, nhiều thương nhân đã chủ động đến tận vườn ký hợp đồng thu mua, thậm chí đặt hàng cho các vụ tiếp theo. Người dân không còn phải tự vận chuyển nông sản đi tiêu thụ mà được thu mua, sơ chế, đóng gói ngay tại vùng trồng, góp phần nâng cao thu nhập và tạo động lực cho bà con nông dân.
Tin Gốc: Dân Trí
Kinh Doanh
Mitsubishi, Suzuki, Yamaha công bố các dòng xe đều tương thích với xăng E10

Hôm qua, Bộ Công Thương yêu cầu các hãng ôtô, xe máy rà soát, công bố mức độ tương thích với xăng E10 và chuẩn bị phương án hỗ trợ kỹ thuật cho người tiêu dùng. Hiện, một số hãng xe đã công bố danh mục khá chi tiết các dòng xe tương thích trên webisite chính thức.
Mitsubishi Việt Nam cho biết các dòng xe trang bị động cơ phun xăng điện tử phân phối tại Việt Nam sản xuất từ năm 1997 đến nay, đều tương thích xăng E10. Riêng một số mẫu xe chưa xác định được khả năng tương thích, gồm: L300 được sản xuất từ 1995-2003; Pajero - V31 sản xuất từ 1997-2002; Jolie từ 1998-2003; Proton Wira từ 1996-1999.
Khách hàng sở hữu xe Mitsubishi có thể tham khảo sổ tay hướng dẫn sử dụng để nắm rõ loại nhiên liệu được khuyến nghị. Hãng khuyến cáo trường hợp xe ít sử dụng trong thời gian dài, cần bảo quản nhiên liệu trong bình để tránh hiện tượng tách nước. Người dùng nên kiểm tra, bảo dưỡng xe định kỳ tại các đại lý ủy quyền để đảm bảo khả năng vận hành tối ưu.
Tương tự, Suzuki xác nhận toàn bộ ôtô của hãng sản xuất và phân phối tại Việt Nam từ năm 2001 trở về đây đều tương thích với xăng E10. Các mẫu đang bán như XL7, Swift, Jimny, Fronx, Ertiga, Carry Pro, Eeco... đều nằm trong danh sách tương thích.
Với xe máy, Suzuki liệt kê các dòng Raider/Satria FI, GSX, Burgman, Gixxer, V-Strom, Address... sử dụng được E10.
Suzuki khẳng định việc sử dụng xăng E10 đạt chuẩn trên các xe nằm trong danh sách vẫn được bảo hành chính hãng bình thường. Với các mẫu xe đã dừng bán, hãng khuyến nghị khách hàng xem thêm hướng dẫn sử dụng kèm theo xe để kiểm tra khả năng tương thích với xăng E10.
Yamaha Việt Nam cũng cho biết toàn bộ dòng xe máy trang bị hệ thống phun xăng điện tử (FI) đều tương thích với xăng sinh học E10 và không phải thay đổi về kỹ thuật. Các mẫu xe Yamaha sử dụng bộ chế hòa khí được sản xuất từ năm 2017 đến nay, tương thích với E10. Còn mẫu sử dụng bộ chế hòa khí được sản xuất trước năm 2017 được khuyến nghị sử dụng E5.
Để xác định mẫu xe Yamaha đang dùng là loại sử dụng hệ thống FI hay không, khách hàng có thể kiểm tra ký hiệu FI trên tem xe hoặc cụm đồng hồ.
Động thái của các hãng xe diễn ra trong bối cảnh xăng E10 RON 95-III sẽ được bán rộng rãi, thay thế xăng khoáng RON 95-III trên thị trường từ đầu tháng 6. Xăng E10 là loại xăng sinh học pha 10% ethanol nhiên liệu (cồn sinh học) và 90% xăng khoáng. Thực tế, loại xăng này đã được bán thí điểm tại hệ thống của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) ở một số tỉnh, thành phố từ tháng 8/2025.
Trước thời điểm này, một bộ phận người tiêu dùng vẫn lo ngại E10 có thể làm tăng mức tiêu hao nhiên liệu, ảnh hưởng tới độ bền động cơ hoặc gây tác động đến các chi tiết cao su, nhựa trên các dòng xe cũ.
Song theo PGS. TS Đàm Hoàng Phúc, Giám đốc Chương trình Đào tạo Kỹ thuật ôtô (Đại học Bách khoa Hà Nội), nghiên cứu trên Toyota Corolla Cross bản xăng và hybrid cho thấy E10 không làm tăng mức tiêu hao nhiên liệu. Trong điều kiện giao thông đô thị, xe xăng dùng E10 tiết kiệm hơn 2,3% so với RON95, còn xe hybrid giảm 7,8%. Trên đường tốc độ cao, E10 cũng cho mức tiêu hao thấp hơn.
Về công suất, kết quả phân hóa theo loại xe. Trong đó, xe chạy xăng ở công suất tối đa sẽ có công suất giảm khoảng 6% với E10. Tuy nhiên, xe hybrid lại tăng công suất 2,15% do E10 phát huy hiệu quả khi hệ thống hybrid kiểm soát quá trình đốt cháy. Về khí thải, E10 giúp giảm 10,87% hydrocarbon (HC) độc hại và 14,95% khí CO so với RON95.
Với xe máy, đại diện Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) cho biết phần lớn xe máy chính hãng sản xuất trong nhiều năm gần đây đã được nghiên cứu, thử nghiệm để tương thích với nhiên liệu pha ethanol. Các dòng xe sử dụng công nghệ phun xăng điện tử (FI) hoàn toàn có thể sử dụng E10.
Với các dòng xe sử dụng bộ chế hòa khí, đặc biệt là xe đời cũ, mức độ tương thích phụ thuộc thiết kế của từng hãng. VAMM khuyến nghị người dùng tham khảo khuyến cáo từ nhà sản xuất hoặc đại lý chính hãng. Còn xe phân khối lớn và xe nhập khẩu cần tuân thủ hướng dẫn nhiên liệu trong sổ tay sử dụng.
Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng một số sự cố kỹ thuật có thể xuất hiện khi chuyển sang E10 nhưng không đồng nghĩa E10 gây hỏng xe. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nhiên liệu không đạt chuẩn hoặc do ethanol có tính hòa tan, cuốn theo cặn tích tụ lâu ngày trong hệ thống nhiên liệu của các xe cũ, dẫn tới tắc lọc xăng hoặc kim phun.
"Đây là những hư hỏng vốn đã tiềm ẩn, E10 chỉ khiến chúng bộc lộ sớm hơn chứ không phải là nguyên nhân làm hỏng xe", ông Phúc nói.
Tương tự, đại diện VAMM cho biết ethanol có đặc tính khác xăng khoáng truyền thống nhưng tỷ lệ phối trộn 10% trong E10 chỉ tạo ra những khác biệt nhỏ về cảm nhận vận hành trong điều kiện sử dụng thông thường. Kết quả nghiên cứu do VAMM phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện năm 2024 cho thấy xăng E10 không ảnh hưởng đến khả năng khởi động và gia tốc của xe.
Theo Bộ Công Thương, xăng E10 được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia. Mỹ và Brazil triển khai loại nhiên liệu này từ những năm 1980. Tại châu Âu, E10 cũng đã được áp dụng trong khoảng hai thập kỷ qua. Trong khi đó, Trung Quốc mới thúc đẩy sử dụng E10 trong những năm gần đây. Một số quốc gia có điều kiện khí hậu tương đồng với Việt Nam như Thái Lan và Philippines không chỉ sử dụng E10 mà còn triển khai E15, thậm chí E20 tại một số địa phương.
Tin Gốc: Vnexpress

Nhận định trên được Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm đưa ra trong cuộc trao đổi với Tuổi Trẻ về kết quả một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN).
* Thưa ông, sau một năm thực hiện nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN, đâu là những kết quả có thể đong đếm được?
- Khu vực KTTN đã được định vị là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhận thức cả hệ thống chính trị và toàn xã hội với khu vực này đã có sự chuyển biến rất rõ.
Thực tiễn sau một năm triển khai nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, khu vực KTTN đã có những chuyển biến rõ nét.
Nghị quyết đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh. Ngay sau khi nghị quyết số 68 được ban hành và được thể chế hóa thông qua chương trình hành động của Chính phủ, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp (DN), hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh so với trước đó.
Từ tháng 5-2025 đến hết năm 2025, có khoảng 18.000 DN thành lập mới/tháng, số DN quay trở lại hoạt động đạt hơn 8.300 DN/tháng.
Tính chung năm 2025, tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực KTTN ước đạt gần 6,4 triệu tỉ đồng, tăng 77,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, đà này tiếp tục được duy trì. Cả nước có gần 75.000 DN thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 730.000 tỉ đồng và tạo việc làm gần 400.000 lao động.
Bên cạnh đó, có hơn 48.000 DN quay trở lại hoạt động, nâng tổng số DN gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 DN, tăng 36,7%.
Những kết quả trên cho thấy nghị quyết số 68 đã củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực KTTN phát triển.
Bên cạnh đó, cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực KTTN, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng, thị trường chứng khoán Việt có bước khởi sắc sau khi nghị quyết số 68 được ban hành. Tính đến hết tháng 4-2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường đạt khoảng 10,5 triệu tỉ đồng, cao nhất từ trước đến nay, tương đương khoảng 82% GDP cả nước năm 2025.
Kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất - kinh doanh của khu vực KTTN tác động tích cực tới thu ngân sách. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách ước đạt hơn 1,1 triệu tỉ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ.
Việc triển khai nghị quyết số 68 còn tạo hiệu ứng lan tỏa trong huy động nguồn lực xã hội, thu hút các tập đoàn tư nhân lớn tham gia đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia. Nghị quyết góp phần định hình lại cấu trúc phát triển của khu vực KTTN, gia tăng vai trò của khu vực này trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong trung và dài hạn.
* Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC) và chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", vậy kết quả sau một năm thế nào?
- Ngay từ đầu tháng 4, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường.
Đồng thời, Thủ tướng đã ban hành 15 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm TTHC, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 TTHC, đơn giản hóa 2.479 TTHC.
Ngoài ra, một điểm cải cách lớn trong Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua là rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, phù hợp với tinh thần nghị quyết 68.
Luật Đầu tư cũng bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần "tiền kiểm" và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế "hậu kiểm".
Không dừng lại ở đó, giữa tháng 5 vừa qua, Chính phủ đã ban hành 3 nghị quyết đặc thù về phân quyền, cắt giảm, đơn giản TTHC, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực và các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, điều kiện kinh doanh.
* Tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng cho khu vực KTTN cũng là một yêu cầu nghị quyết 68 đặt ra, điều này đã được cụ thể hóa ra sao?
- Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài với khu vực KTTN, đặc biệt là DN nhỏ và vừa.
Tính đến hết năm 2025, cả nước có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với khoảng 68.000ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32.600ha đất công nghiệp thời gian tới.
Tỉ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động khoảng 78,8%. Đúng là DN nhỏ và vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các DN lớn.
Nghị quyết 68 đã xác định tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao. Trong đó, đặt yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo thuận lợi cho khu vực KTTN tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để kiểm soát biến động giá đất, nhất là giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
Thời gian tới, trọng tâm là phải đưa chính sách hỗ trợ DN tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể.
Các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DN nhỏ và vừa theo quy định tại nghị quyết 198 năm 2025 của Quốc hội, song song đó cần xây dựng cơ chế vận hành và có chủ thể chịu trách nhiệm.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10-2026, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.
* Sau một năm thực hiện nghị quyết 68, theo ông đâu là những việc cần làm quyết liệt hơn?
- DN cảm nhận sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan nhà nước. Vì vậy, cần tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của DN, hộ kinh doanh.
Tôi cho rằng thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi trong phát triển KTTN là lấy DN làm trung tâm - lấy hiệu quả làm thước đo - lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Fed lần đầu gọi AI là rủi ro lạm phát lớn nhất, giá vàng lập tức phản ứng

Giá vàng giao ngay ngày 12/7 dao động quanh 4.108 USD/ounce, giảm khoảng 0,57% trong ngày và mất khoảng 1,2% trong tuần. Diễn biến này ban đầu được nhiều nhà phân tích lý giải bằng hoạt động chốt lời và sự điều chỉnh của nhóm cổ phiếu công nghệ.
Tuy nhiên, một phát biểu mới từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã mở ra một góc nhìn khác về triển vọng lạm phát cũng như chính sách tiền tệ trong thời gian tới.
Fed lần đầu đưa AI vào trọng tâm cuộc thảo luận về lạm phát
Theo Bloomberg, tại hội thảo về thanh khoản thị trường ở New York ngày 9/7, Chủ tịch Fed New York John Williams cho biết điều ông quan tâm nhất hiện nay không còn là thuế quan hay giá năng lượng mà là nhu cầu do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra. Phát biểu này cho thấy Fed bắt đầu xem AI là một nguồn áp lực lạm phát mới có thể kéo dài hơn so với nhiều cú sốc truyền thống.
Theo John Williams, nếu làn sóng đầu tư AI tiếp tục tạo ra "một cú hích kéo dài khiến cầu vượt cung", Fed sẽ phải có phản ứng phù hợp. Ông cũng cho biết lạm phát của nhóm hàng hóa cốt lõi đã bắt đầu chịu tác động từ những áp lực tăng giá liên quan đến AI.
Đáng chú ý, cụm từ "áp lực tăng giá liên quan đến AI" cũng xuất hiện trong biên bản cuộc họp FOMC tháng 6 công bố ngày 8/7. Điều này cho thấy AI đã bắt đầu được đưa vào các cuộc thảo luận chính thức về triển vọng lạm phát và chính sách tiền tệ.
Williams cũng đưa ra một ngưỡng theo dõi đáng chú ý: nếu chỉ số PCE lõi tăng trên 0,2% mỗi tháng trong nửa cuối năm 2026, đó sẽ là tín hiệu cho thấy lạm phát đang dai dẳng hơn dự báo. Hiện PCE lõi vẫn ở mức 3,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể mục tiêu 2% của Fed.
AI có thể tạo áp lực lạm phát như thế nào?
Khác với tác động từ thuế quan hay giá năng lượng vốn có thể giảm khi chính sách hoặc nguồn cung thay đổi, làn sóng đầu tư AI chưa cho thấy dấu hiệu chững lại.
Financial Times dẫn tổng hợp từ báo cáo tài chính doanh nghiệp cho biết Microsoft, Amazon, Google và Meta đã chi khoảng 410 tỷ USD cho hạ tầng AI chỉ riêng trong năm 2025. Khoản đầu tư khổng lồ này kéo theo nhu cầu lớn về điện năng, trung tâm dữ liệu, chip bán dẫn, hệ thống làm mát và xây dựng.
Khi nhiều doanh nghiệp cùng mở rộng đầu tư trong thời gian ngắn, nhu cầu đối với các yếu tố đầu vào có thể tăng nhanh hơn khả năng mở rộng nguồn cung. Giá của điện, vật liệu, thiết bị và nhân lực kỹ thuật vì vậy có nguy cơ tăng lên, tạo áp lực lan sang nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Đây là lý do nhiều chuyên gia cho rằng AI có thể trở thành một động lực lạm phát mang tính cấu trúc. Ngay cả khi lãi suất duy trì ở mức cao, các tập đoàn công nghệ lớn vẫn có khả năng tiếp tục đầu tư nhờ dòng tiền dồi dào thay vì phụ thuộc chủ yếu vào vốn vay. Điều đó đồng nghĩa việc tăng lãi suất có thể làm chậm nhu cầu, nhưng chưa chắc đủ để xóa bỏ áp lực lạm phát xuất phát từ làn sóng đầu tư AI.
Vì sao giới đầu tư vàng theo dõi tín hiệu này?
GoldSilver cho rằng điều thị trường vàng quan tâm không chỉ là mức lạm phát, mà còn là diễn biến của lợi suất thực - tức lợi suất trái phiếu sau khi trừ kỳ vọng lạm phát. Nếu Fed giữ lãi suất ở mức cao nhưng kỳ vọng lạm phát tiếp tục tăng, lợi suất thực có thể thu hẹp. Khi đó, chi phí cơ hội nắm giữ vàng giảm xuống, qua đó hỗ trợ sức hấp dẫn của kim loại quý so với trái phiếu Chính phủ Mỹ.
Hiện CME FedWatch đánh giá khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp ngày 28/7-29/7 ở mức gần 75%. Trong khi đó, biên bản FOMC tháng 6 cho thấy một số nhà hoạch định chính sách vẫn nghiêng về khả năng cần duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn nếu lạm phát không hạ nhiệt như kỳ vọng.
Giới đầu tư vì vậy không chỉ theo dõi các dữ liệu lạm phát ngắn hạn mà còn đánh giá liệu AI có trở thành một động lực mới khiến lãi suất phải duy trì ở mức cao lâu hơn. Đây là yếu tố có thể ảnh hưởng đáng kể đến xu hướng của vàng trong trung và dài hạn.
Thị trường sẽ có thêm dữ liệu để đánh giá kịch bản này khi Mỹ công bố CPI tháng 6 vào ngày 14/7, cùng những phát biểu tiếp theo của các quan chức Fed về tác động của AI đối với lạm phát.
Ở vùng giá khoảng 4.108 USD/ounce, vàng hiện vẫn thấp hơn đôi chút so với vùng giá trị hợp lý giữa năm do Hội đồng Vàng Thế giới ước tính. Tuy nhiên, điều thị trường đang theo dõi là liệu làn sóng đầu tư vào AI có đủ lớn để buộc Fed duy trì mặt bằng lãi suất cao lâu hơn dự kiến. Nếu kịch bản đó xảy ra, AI có thể trở thành một trong những biến số mới chi phối diễn biến của thị trường vàng trong thời gian tới.
Tin Gốc: Dân Trí

