Theo bác sĩ Ngô Quỳnh Trang, Bệnh viện Bạch Mai, theo khuyến cáo của World Health Organization (WHO), người trưởng thành nên bổ sung tối thiểu khoảng 3.510mg kali mỗi ngày. Việc duy trì lượng kali phù hợp giúp giảm huyết áp và hạn chế nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đột quỵ.
Tuy nhiên các chuyên gia cảnh báo điều này không đồng nghĩa với việc ai cũng nên tăng kali một cách tự do, đặc biệt là những người có bệnh lý nền.
Không phải mọi trường hợp đều cần bổ sung nhiều kali trong khẩu phần ăn. Một số nhóm đối tượng có nguy cơ tăng kali máu cần kiểm soát chặt chẽ lượng kali đưa vào cơ thể, bao gồm người mắc bệnh thận mạn; người đang sử dụng thuốc làm giảm khả năng đào thải kali; người bệnh nặng hoặc có rối loạn chuyển hóa.
Theo các chuyên gia, khi kali trong máu tăng cao, người bệnh có thể gặp rối loạn nhịp tim nguy hiểm, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
Vì vậy việc điều chỉnh chế độ ăn với nhóm bệnh nhân này cần có sự theo dõi và tư vấn từ nhân viên y tế, tránh tự ý kiêng khem hoặc bổ sung quá mức.
Theo bác sĩ Trang, kali có mặt trong hầu hết các loại thực phẩm, đặc biệt phổ biến ở rau xanh, trái cây, các loại đậu và thủy hải sản.
Theo phân loại dinh dưỡng, thực phẩm chứa từ 200mg kali/100g trở lên được xem là giàu kali.
Một số thực phẩm giàu kali quen thuộc gồm khoai sọ, khoai lang, khoai tây; đậu tương, đậu xanh, hạt điều, lạc; rau ngót, rau đay, rau dền, ngó sen; chuối, bơ, mít, đu đủ, sầu riêng; cá thu, cá ngừ, cá trích.
Trong khi đó các loại thực phẩm như bầu, bí xanh, dưa chuột, táo, lê, cam, bưởi… có hàm lượng kali thấp hơn.
Theo chuyên gia dinh dưỡng, nhiều người thường chỉ chú ý đến kali từ rau củ, trái cây mà quên rằng các thực phẩm chế biến sẵn cũng có thể chứa lượng kali rất cao.
Hiện nay nhiều sản phẩm công nghiệp sử dụng các hợp chất chứa kali như potassium chloride, potassium phosphate hay potassium citrate để thay thế muối natri, tăng hương vị hoặc bảo quản thực phẩm.
Đáng lưu ý, kali từ phụ gia thực phẩm có khả năng hấp thu nhanh hơn kali tự nhiên, làm tăng nguy cơ tăng kali máu ở những người có bệnh lý nền.
Các thực phẩm như mì ăn liền, xúc xích, đồ hộp, thực phẩm chế biến sẵn hay các loại muối “ít natri” đều có thể là nguồn kali “ẩn” mà người dùng khó nhận biết.
Với người mắc bệnh thận hoặc có nguy cơ rối loạn kali máu, việc hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và ưu tiên thực phẩm tươi là nguyên tắc rất quan trọng.
“Người khỏe mạnh nên duy trì chế độ ăn đa dạng, cân đối, tăng cường rau xanh và trái cây tươi. Ngược lại, người có bệnh lý thận hoặc nguy cơ rối loạn kali máu cần được tư vấn chế độ dinh dưỡng phù hợp để tránh cả thiếu hụt lẫn dư thừa kali”, bác sĩ Trang nhấn mạnh.
Trong lần khám định kỳ tại Bệnh viện Gia An 115, chị B.A.D (ở TP.HCM) được phát hiện có sỏi mật qua siêu âm ổ bụng. Kết quả chụp MRI ghi nhận túi mật giãn to, kích thước khoảng 67 x 35 mm do một viên sỏi lớn chiếm gần toàn bộ lòng túi mật.
Trước nguy cơ biến chứng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt túi mật. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, chị D. hồi phục tốt và xuất viện sau vài ngày.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Phan Bảo Toàn, Khoa Ngoại, Bệnh viện Gia An 115, sỏi túi mật là bệnh lý khá phổ biến nhưng thường diễn tiến âm thầm. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe hoặc khi đã xuất hiện biến chứng.
Về cơ chế hình thành sỏi, bác sĩ cho biết dịch mật do gan tiết ra sẽ theo hệ thống ống mật đổ xuống tá tràng khi ăn để hỗ trợ tiêu hóa, đặc biệt là chất béo. Phần dịch mật còn lại được dự trữ trong túi mật và dần bị cô đặc giữa các bữa ăn. Quá trình cô đặc này làm tăng nồng độ các chất hòa tan như cholesterol, muối mật, axit mật và điện giải. Khi tình trạng “quá bão hòa” kéo dài, các thành phần này có thể kết tinh và hình thành sỏi.
“Phần lớn sỏi túi mật là sỏi cholesterol, hình thành khi nồng độ cholesterol trong dịch mật tăng cao. Ngoài ra, các yếu tố như ứ đọng dịch mật, nhiễm trùng đường mật, ăn nhiều chất béo, ít vận động, thói quen bỏ bữa - đặc biệt là nhịn ăn sáng kéo dài - cũng làm tăng nguy cơ tạo sỏi. Người thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử gia đình mắc sỏi mật cũng thuộc nhóm nguy cơ cao”, bác sĩ Toàn cho hay.
Không phải mọi trường hợp sỏi túi mật đều cần phẫu thuật ngay. Tuy nhiên, với những viên sỏi kích thước lớn (thường từ 3 cm trở lên), chiếm gần hết lòng túi mật hoặc có nguy cơ gây biến chứng, cắt túi mật nội soi là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp xử trí triệt để và phòng ngừa rủi ro.
Nếu không được theo dõi và xử trí phù hợp, sỏi túi mật có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm túi mật cấp, tắc mật, nhiễm trùng đường mật, viêm tụy cấp do sỏi, hội chứng Mirizzi (có thể gây vàng da, viêm đường mật), thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư túi mật ở những trường hợp sỏi rất lớn. Các biến chứng này có thể diễn tiến nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Từ trường hợp trên, bác sĩ khuyến cáo người trưởng thành, đặc biệt là nhóm có yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, ăn nhiều chất béo, ít vận động, nên duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ có siêu âm ổ bụng để phát hiện sớm sỏi mật và các bệnh lý đường mật, ngay cả khi chưa có triệu chứng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như đau quặn vùng hạ sườn phải (có thể lan ra lưng hoặc vai phải), đầy bụng, buồn nôn sau khi ăn nhiều dầu mỡ, khó tiêu kéo dài hoặc sốt không rõ nguyên nhân, người bệnh cần đi khám sớm để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Ngày 3.5, tin từ Bệnh viện đa khoa Sóc Trăng (phường Phú Lợi, thành phố Cần Thơ) cho biết, các bác sĩ của bệnh viện cấp cứu thành công nam bệnh nhân tên T. (59 tuổi, quê ở phường Cai Lậy, tỉnh Đồng Tháp) nuốt nắp chai bia vào bụng.
Theo thông tin từ bệnh viện, trong lúc nhậu cùng người thân tại thành phố Cần Thơ, 1 nắp chai bia rơi vào ly, ông T. không thấy nên uống cạn ly và nuốt luôn dị vật này vào bụng. Ngay lập tức, ông được đưa đến bệnh viện cấp cứu.
Sau khi thăm khám và chẩn đoán hình ảnh, các bác sĩ Khoa Thăm dò chức năng nhanh chóng chỉ định nội soi cấp cứu để lấy dị vật, đảm bảo an toàn tính mạng cho người bệnh. Hiện tại, sức khỏe ông T. đã ổn định.
Đánh giá về ca bệnh, các bác sĩ cho biết đây là một trường hợp rất rủi ro. Nắp chai bia là vật liệu kim loại có nhiều răng cưa và sắc cạnh, nếu không được gắp ra kịp thời sẽ gây tổn thương nghiêm trọng cho đường tiêu hóa như rách thực quản, thủng dạ dày hoặc gây xuất huyết nội.
Các bác sĩ khuyến cáo, trong trường hợp không may nuốt phải dị vật, người bệnh cần bình tĩnh, không tự ý dùng tay móc họng hay cố nuốt thêm thức ăn để đẩy dị vật xuống, vì điều này có thể khiến vết thương thêm trầm trọng. Thay vào đó, cần nhanh chóng đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được can thiệp chuyên môn kịp thời.
Theo dữ liệu từ Nền tảng tích hợp thông tin giáo dục thực phẩm và nông nghiệp thuộc Cơ quan Nông nghiệp Đài Loan, cây vải chủ yếu phân bố tại các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, trong đó sản lượng của Trung Quốc chiếm hơn 80% toàn cầu, theo sau là Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Madagascar. Tại Đài Loan (Trung Quốc), vải được trồng trọng điểm ở miền trung và miền nam, cho thu hoạch liên tục từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 7.
Về giá trị dinh dưỡng, chuyên gia dinh dưỡng Cao Mẫn Mẫn cho biết quả vải chứa hàm lượng vitamin C cao đạt 52,3 mg giúp bảo vệ tế bào và phục hồi mô, cùng lượng kali 184,7 mg hỗ trợ xoa dịu căng thẳng. Loại trái cây này cũng giàu các axit hữu cơ và axit amin giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tuy nhiên do lượng đường chiếm khoảng 16 gram nên người dùng chỉ nên ăn 5-6 quả mỗi lần.
Phân tích sâu hơn về hai giống vải phổ biến tại Đài Loan dựa trên trọng lượng mỗi quả sau khi bóc vỏ, chuyên gia chỉ ra rằng giống vải Yu Her Bao (vải Thanh Hà) có thịt quả mọng nước, sản lượng ít nên giá thành cao, mỗi quả nặng khoảng 18 gram cung cấp 12 kcal; 3,1 gram carbohydrate; 0,1 gram chất xơ; 10,9 mg vitamin C và 34 mg kali. Trong khi đó, giống vải Hắc Diệp nặng khoảng 15 gram mỗi quả, cung cấp 9 kcal; 2,4 gram carbohydrate; 0,1 gram chất xơ; 6,6 mg vitamin C và 27 mg kali.
Hòn đảo này có hơn 30 giống vải, trong đó Hắc Diệp có diện tích canh tác lớn nhất với đặc điểm hạt to, thịt quả giòn và chua nhẹ. Ngoài ra còn có các giống khác như Nhu Mễ Từ hay Quế Vị mà người tiêu dùng có thể phân biệt dựa trên màu sắc vỏ, độ sần của gai, hương vị thịt quả và kích thước hạt. Để chọn được vải ngon, Cơ quan Nông nghiệp Đài Loan khuyến nghị đánh giá qua 3 yếu tố: hình thức bên ngoài, cảm giác cầm chắc tay và có mùi hương. Ví dụ với giống vải Yuhebao, quả có lớp vỏ đỏ hồng xen sắc xanh tươi tắn; khi nắn thấy căng mọng, cầm chắc tay là dấu hiệu của vải ngon. Nếu ngửi thấy hương thơm chứng tỏ vải mới hái.
Tuy nhiên dù bổ dưỡng, vải là loại quả không thể ăn quá nhiều do có hàm lượng đường cao. Chuyên gia Cao Mẫn Mẫn kể từng tiếp nhận một ca cấp cứu lâm sàng khi một cụ bà hôn mê do đường huyết tăng vọt sau khi ăn cả chùm vải mỗi ngày. Chuyên gia khuyến cáo bệnh nhân tiểu đường và người mỡ máu cao cần tuân thủ nguyên tắc không ăn vải khi bụng đói nhằm tránh kích thích insulin tiết ra quá mức gây hạ đường huyết, bủn rủn tay chân. Ngoài ra, không ăn quá nhiều cùng một lúc mà nên giới hạn ở mức 5-6 quả mỗi lần và tối đa 1-2 lần một ngày để tránh biến động đường huyết. Chuyên gia cũng lưu ý không ăn vải chưa chín vì chúng chứa chất ức chế quá trình chuyển hóa glucose của cơ thể.
Để kéo dài thời gian bảo quản vải, chuyên gia mẹo vặt gia đình và dọn dẹp nhà cửa nổi tiếng Đài Loan Trần Ánh Xuân khuyên dùng kéo cắt rời từng quả thay vì bẻ mạnh, sau đó xếp vào hộp bảo quản, đổ nước ngập bề mặt quả rồi đem lưu trữ trong ngăn mát tủ lạnh và thay nước định kỳ 3 ngày một lần. Thử nghiệm thực tế cho thấy sau một tuần áp dụng phương pháp này, lớp vỏ vải vẫn giữ được sắc đỏ tươi, không bị thâm đen hay biến dạng, trong khi phần thịt quả bên trong vẫn mọng nước và tươi ngon.