Không cần phải là những loại thực phẩm đắt tiền, đôi khi những “món quà” quý giá cho sức khỏe lại nằm ngay bên bờ ruộng, ven đường hay trong những bãi đất hoang. Rau tề thái một loại rau dại quen thuộc ở nhiều vùng quê Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Từng bị xem là cây cỏ mọc hoang, rau tề thái ngày nay được nhiều người săn tìm bởi hương vị thanh mát, dễ chế biến và giá trị dinh dưỡng đáng chú ý. Loại rau này còn được ví như một “kho báu xanh” trong ẩm thực dân gian.
Rau tề thái còn có nhiều tên gọi khác như cây tề, địa mễ thái, cải dại, cỏ tam giác. Tên khoa học của loại cây này là Capsella bursa-pastoris (L.) Medik.
Ở Việt Nam, rau thường mọc tự nhiên tại các tỉnh miền núi và vùng có khí hậu mát như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, Ninh Bình… Cây thường xuất hiện ở bờ ruộng, bãi đất trống hoặc những nơi ít chịu tác động của con người.
Vào mùa lạnh, rau tề thái phát triển xanh tốt, lá non mềm, có vị ngọt nhẹ và mùi thơm đặc trưng. Đây cũng là thời điểm loại rau này được nhiều gia đình thu hái để chế biến thành các món ăn bổ dưỡng.
Dù có vẻ ngoài giản dị, rau tề thái chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể như vitamin C, vitamin A, carotene, chất xơ, canxi, sắt cùng một số khoáng chất khác.
Nhờ hàm lượng chất xơ cao, rau tề thái có thể hỗ trợ hoạt động của hệ tiêu hóa, giúp tăng nhu động ruột và góp phần hạn chế tình trạng táo bón. Các vitamin và hợp chất chống oxy hóa trong rau cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tế bào và duy trì sức khỏe tổng thể.
Đặc biệt, lượng carotene trong rau được xem là có lợi cho sức khỏe đôi mắt, hỗ trợ nhu cầu vitamin A của cơ thể.
Theo y học cổ truyền, rau tề thái có vị ngọt nhạt, tính mát, thường được sử dụng với mục đích thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ cầm máu và giảm một số triệu chứng liên quan đến viêm nhiễm.
Trong các tài liệu y học cổ truyền như “Bản thảo cương mục”, tề thái được nhắc đến với nhiều công dụng liên quan đến sức khỏe gan, mắt và hệ tiêu hóa.
Một số bài thuốc dân gian có sử dụng rau tề thái để hỗ trợ các tình trạng như chảy máu cam, nóng trong, khó chịu ở mắt hoặc một số vấn đề tiêu hóa. Tuy nhiên, việc dùng rau làm thuốc cần phù hợp với từng trường hợp và không nên thay thế phương pháp điều trị y khoa khi có bệnh lý.
Không chỉ dùng làm thuốc, rau tề thái còn là nguyên liệu quen thuộc trong nhiều món ăn hấp dẫn.
Canh rau tề thái nấu thịt lợn
Nguyên liệu gồm rau tề thái tươi, thịt lợn hoặc xương lợn, cùng các loại gia vị vừa ăn.
Rau rửa sạch, thái nhỏ. Thịt hoặc xương được ninh mềm, sau đó cho rau vào nấu nhanh để giữ màu xanh và độ ngọt tự nhiên. Món canh có vị thanh nhẹ, phù hợp dùng trong bữa cơm gia đình.
Canh rau tề thái, trứng và sò điệp
Sự kết hợp giữa rau tề thái, trứng và sò điệp tạo nên món canh giàu hương vị. Rau giữ được vị thơm đặc trưng, trong khi trứng và sò điệp giúp món ăn thêm béo ngậy, bổ sung protein.
Bánh bột ngô rau tề thái
Rau tề thái có thể kết hợp cùng cà rốt, nấm, mộc nhĩ, trứng, tôm khô để làm nhân bánh. Sau khi tạo hình, bánh được phủ một lớp bột ngô rồi hấp chín. Đây là món ăn dân dã nhưng giàu dinh dưỡng và khá dễ thực hiện.
Từ một loại cây mọc hoang ven đường, loại rau này đã trở thành nguyên liệu trong nhiều món ăn ngon và được nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng. Tuy nhiên, khi hái rau dại ngoài tự nhiên, cần chọn nơi sạch, tránh khu vực có nguy cơ nhiễm thuốc bảo vệ thực vật hoặc ô nhiễm. Sơ chế kỹ trước khi sử dụng cũng là điều cần thiết để đảm bảo an toàn.
Các bác sĩ Khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K vừa thực hiện phẫu thuật thành công hai trường hợp ung thư thực quản phức tạp bằng phương pháp mổ nội soi 3D cắt thực quản kết hợp nạo vét hạch 3 vùng (cổ – ngực – bụng).
Ca mổ khó đặt ra nhiều thách thức với ekip phẫu thuật, và việc ca mổ thành công, người bệnh ổn định ra viện là minh chứng rõ nhất tiếp tục khẳng định trình độ chuyên môn của các phẫu thuật viên Bệnh viện K.
Điều trị ung thư thực quản phức tạp
Bệnh nhân đầu tiên là nam giới 48 tuổi, nhập viện trong tình trạng nuốt nghẹn kéo dài với chẩn đoán ung thư thực quản 1/3 dưới giai đoạn tiến triển và đã mở thông dạ dày trước đó để đảm bảo dinh dưỡng. Trường hợp thứ hai là bệnh nhân nam 61 tuổi, ung thư thực quản 1/3 giữa đã trải qua hóa xạ trị tiền phẫu. Cả hai bệnh nhân đều được chỉ định phẫu thuật nội soi 3D cắt thực quản kèm nạo vét hạch 3 vùng – một kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi can thiệp đồng thời ở nhiều vùng giải phẫu và trình độ chuyên môn cao của ê-kíp phẫu thuật.
PGS.TS Kim Văn Vụ, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K, cho biết, điều trị ung thư thực quản phức tạp đòi điều trị đa mô thức với chuyên khoa phối hợp điều trị, bao gồm: phẫu thuật, hóa chất, xạ trị và liệu pháp miễn dịch. Trong những trường hợp phát hiện sớm hoặc khối u còn khu trú, phẫu thuật đóng vai trò then chốt và có thể mang lại khả năng điều trị triệt căn.
"Sau khi hội chẩn, chúng tôi quyết định phương án Phẫu thuật cắt thực quản kèm nạo vét hạch 3 vùng (cổ – ngực – bụng) cho người bệnh. Đây là một trong những phẫu thuật lớn, chuyên sâu và phức tạp nhất trong ngoại khoa tiêu hóa. Kỹ thuật này đã được phát triển tại các quốc gia có nền ngoại khoa tiên tiến như Nhật Bản và Hàn Quốc. Phẫu thuật này đòi hỏi nhiều yếu tố như: chỉ định đúng theo hướng dẫn, can thiệp đồng thời ở nhiều vùng giải phẫu, nạo vét hạch rộng, thời gian phẫu thuật kéo dài, kỹ năng cao của phẫu thuật viên và phối hợp ê-kíp gây mê hồi sức chặt chẽ. Chính vì vậy, nếu không được thực hiện tại các trung tâm có kinh nghiệm, kiểm soát tốt trong mổ thì có thể tiềm ẩn nhiều nguy cơ biến chứng", PGS Kim Văn Vụ cho hay.
Thách thức trong ca phẫu thuật
TS.BS Nguyễn Đức Duy, phẫu thuật viên trực tiếp thực hiện ca mổ đánh giá: "Đây là ca phẫu thuật thực hiện trong thời gian kéo dài, cần phối hợp của ekip chuyên sâu được đào tạo bài bản, thời gian phẫu thuật có thể lên tới 7 – 8 giờ, đòi hỏi kỹ năng thành thạo và sự tỉmỉ trong từng thao tác. Một trong những bước khó khăn nhất là nạo vét hạch quanh dây thần kinh thanh quản quặt ngược. Nếu dây thần kinh này bị tổn thương, bệnh nhân có thể gặp các biến chứng như: khàn tiếng, mất tiếng, rối loạn nuốt, viêm phổi hít (sặc) sau mổ. Đây là những biến chứng nặng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống và quá trình hồi phục của người bệnh. Ekip cần kiểm soát thật tốt các yếu tố nguy cơ để ca mổ thành công".
Với kinh nghiệm lâu năm, chuyên môn cao cùng với việc được đào tạo chuyên sâu tại các trung tâm hàng đầu, đặc biệt là tại Đại học Y khoa Showa (Tokyo – Nhật Bản), nhờ đó, các phẫu thuật viên khoa Ngoại tiêu hóa 1 gồm: TS.BS Nguyễn Đức Duy, Ths. BSNT Thái Đức An, Ths.BSNT Nguyễn Duy Thanh đã thực hiện kỹ thuật nạo vét hạch 3 vùng một cách bài bản, an toàn và hiệu quả, hai cổ mổ thành công, người bệnh phục hồi tốt, ngày thứ 3 sau mổ bắt đầu ăn lỏng theo chương trình ERAS dưới sự hướng dẫn của ekip và bác sỹ dinh dưỡng. Hiện người bệnh được ra viện, tiếp tục theo dõi điều trị.
PGS.TS Kim Văn Vụ, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa 1, Bệnh viện K, khuyến cáo: Ung thư thực quản là một trong những bệnh lý ung thư tiêu hóa thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong nhóm ung thư đường tiêu hóa.
Nguyên nhân chính là triệu chứng của bệnh trong giai đoạn sớm thường không rõ ràng, nhiều bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn. Trong khi đó, ung thư thực quản có đặc điểm tiến triển nhanh và di căn hạch sớm. Bệnh thường gặp ở nam giới trung niên, đặc biệt ở những người có tiền sử hút thuốc lá, uống rượu bia kéo dài. Ung thư thực quản là bệnh lý phức tạp, nhưng hoàn toàn có thể điều trị hiệu quả nếu được phát hiện sớm.
Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD) đã từng bước hoàn thiện pháp luật tiệm cận chuẩn mực quốc tế, với nền tảng là Luật Người khuyết tật 2010 và Hiến pháp 2013, qua đó xác lập nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và bảo đảm quyền tiếp cận trong các lĩnh vực cơ bản.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa luật và thực thi vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục cải cách.
Pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ người khuyết tật trước các hành vi xâm phạm. Hệ thống trợ giúp xã hội được mở rộng đáng kể, bao gồm trợ cấp hằng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ giáo dục thông qua miễn giảm học phí, học bổng.
Bên cạnh đó, giáo dục hòa nhập được thúc đẩy mạnh mẽ, giúp ngày càng nhiều trẻ khuyết tật có cơ hội học tập trong môi trường phổ thông. Ngoài ra các quy định về tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công, đặc biệt trong môi trường số, đã bắt đầu được triển khai.
Những thành tựu này là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập khung chính sách và thể chế. Tuy nhiên phần lớn các kết quả vẫn dừng ở mức định hình chính sách, trong khi việc triển khai trên thực tế chưa đồng bộ. Nhiều công trình công cộng chưa bảo đảm tiêu chuẩn tiếp cận, nguồn lực dành cho giáo dục hòa nhập còn hạn chế.
Bên cạnh các thành tựu, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng kể.
Trước hết, cơ chế giám sát và chế tài còn yếu dẫn đến tình trạng nhiều quy định về tiếp cận công trình công cộng không được thực hiện đầy đủ, những tòa nhà thiếu đường dốc, thang máy hoặc hệ thống chỉ dẫn phù hợp. Điều này làm cho pháp luật có nguy cơ trở thành "luật trên giấy".
Thứ hai, các cơ quan và doanh nghiệp chưa có nghĩa vụ rõ ràng trong việc điều chỉnh môi trường làm việc, học tập hoặc dịch vụ để phù hợp với người khuyết tật. Thứ ba, chính sách hiện nay vẫn thiên về trợ cấp hơn là phát triển năng lực; các hỗ trợ về đào tạo nghề, khởi nghiệp và tiếp cận tín dụng còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc.
Thứ tư, sự thiếu liên kết liên ngành giữa giáo dục, y tế và lao động khiến quá trình hỗ trợ bị gián đoạn. Ví dụ, người khuyết tật có thể được học hòa nhập nhưng sau khi tốt nghiệp lại gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm.
Cuối cùng, định kiến xã hội vẫn là rào cản lớn khi nhiều người khuyết tật bị đánh giá thấp năng lực và bị hạn chế cơ hội tham gia thị trường lao động. Những hạn chế này cho thấy pháp luật Việt Nam hướng tới đảm bảo và tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật song sự công bằng thực chất vẫn chưa đạt được.
Cần luật hóa rõ ràng yêu cầu các cơ quan và doanh nghiệp chủ động điều chỉnh môi trường làm việc, học tập và dịch vụ (ví dụ: phần mềm đọc màn hình, bàn ghế chuyên dụng). Đồng thời bảo đảm các công trình và sản phẩm được thiết kế để tất cả mọi người đều có thể sử dụng ngay từ đầu.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát độc lập và chế tài đủ mạnh nhằm xử lý hiệu quả các vi phạm. Đây là điều kiện then chốt để chuyển từ "có quyền trên giấy" sang "có khả năng thực hiện quyền".
Phát triển hạ tầng và khả năng tiếp cận, luật hóa tiêu chuẩn bắt buộc, tăng cường kiểm tra và áp dụng chế tài nghiêm minh. Đồng thời cần mở rộng khả năng tiếp cận trong môi trường số, bảo đảm các nền tảng như dịch vụ công trực tuyến, ngân hàng và giáo dục trực tuyến đều thân thiện với người khuyết tật.
Về công nghệ hỗ trợ, Nhà nước cần có chính sách trợ giá thiết bị hỗ trợ như xe lăn điện, máy trợ thính, phần mềm đọc màn hình. Cần khuyến khích phát triển công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ tiếp cận thông tin.
Việc tích hợp công nghệ vào giáo dục và việc làm cũng giúp người khuyết tật nâng cao khả năng tự chủ, giảm phụ thuộc vào trợ cấp.
Về hoàn thiện an sinh xã hội, cần điều chỉnh mức trợ cấp phù hợp với chi phí sống và "chi phí khuyết tật", mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế sang phục hồi chức năng và thiết bị hỗ trợ, cả phát triển nhà ở xã hội theo hướng tiếp cận. Điều này giúp chuyển từ bảo đảm tối thiểu sang tạo nền tảng phát triển năng lực.
Cần có chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, xây dựng quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới đào tạo nghề theo hướng gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ số. Những giải pháp này còn nâng cao phẩm giá và vị thế xã hội của người khuyết tật.
Cuối cùng, cần hoàn thiện cơ chế chống phân biệt đối xử thông qua việc bổ sung các chế tài cụ thể đối với hành vi kỳ thị. Tập trung đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức xã hội theo hướng tôn trọng và ghi nhận năng lực của người khuyết tật. Tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát chính sách, phát triển công tác xã hội chuyên nghiệp...
Bà Amy Kant, 65 tuổi, sống ở ngoại ô Boston, độc thân và không có con. Từ 10 năm trước, bà muốn lập giấy ủy quyền hợp pháp nhưng đến nay chưa tìm được người phù hợp.
Việc chọn người đại diện đưa ra các quyết định tài chính chỉ là một trong nhiều vấn đề khi tuổi già ập đến. Hiện tại, bà Kant phải tự lo liệu việc chăm sóc sức khỏe, lên kế hoạch tài sản và tìm nơi ở. "Mọi thứ đều đổ dồn lên vai tôi", bà nói.
Bà Kant từng duy trì thói quen tập yoga và đi bộ 8 km mỗi ngày. Tuy nhiên, các ca phẫu thuật lưng và thay van tim gần đây biến căn hộ của bà thành phòng hồi sức. Dù có tiền tiết kiệm hưu trí, bà lo lắng tài sản sẽ sụt giảm nếu thị trường chứng khoán biến động, trong khi chi phí chuyển vào các cơ sở dưỡng lão có thể lên tới hàng chục nghìn USD.
Kant là một trong hàng triệu người Mỹ đang đương đầu với tuổi già đơn độc. Phân tích dữ liệu điều tra dân số của tổ chức hưu trí AARP cho thấy, khoảng 10% trong số hơn 125 triệu người trưởng thành từ 50 tuổi trở lên ở Mỹ không có vợ chồng hay con cái.
Nếu tính cả những người có con nhưng sống xa nhà, con số này cao hơn. Hiện có hơn 16 triệu người Mỹ từ 65 tuổi trở lên sống một mình, cao gấp ba lần so với năm 1950. Tuổi thọ tăng, tỷ lệ ly hôn cao và thực trạng con cái sống xa cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
Bác sĩ Suzanne Salamon, trưởng khoa lâm sàng lão khoa tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, kể từng chăm sóc một bệnh nhân gần 90 tuổi sống một mình và không có người thân. Lo ngại cho sự an toàn của bệnh nhân, bác sĩ Salamon phải nhờ một trung tâm hỗ trợ người cao tuổi địa phương giúp đỡ định kỳ. "Đó là một mối lo ngại lớn vì nhiều người đang sống một mình mà không có sự gắn kết nào với thế giới", bà Salamon cho biết.
Theo chuyên gia này, sống một mình mang lại sự độc lập nhưng tiềm ẩn rủi ro khi sức khỏe suy giảm. Người lớn tuổi có thể duy trì thói quen ăn uống thiếu chất, quên tắt bếp, hoặc ngã gãy xương mà không ai hay biết.
Dù vậy, nhiều người chưa chuẩn bị cho tương lai. Khảo sát của AARP năm 2023 trên gần 1.100 người già neo đơn cho thấy 80% chưa có kế hoạch hỗ trợ sinh hoạt lâu dài; 25% có người để nhờ làm việc nhà khi cần, và 41% có di chúc hoặc chỉ thị chăm sóc y tế.
Khi bệnh tật ập đến, họ phải trông cậy vào mạng lưới anh chị em, hàng xóm hoặc tổ chức cộng đồng. Tuy nhiên, nhu cầu chăm sóc đang vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống.
Tại khu vực tây nam Virginia, tổ chức phi lợi nhuận Mountain Empire đang phục vụ khoảng 3.000 người từ 60 tuổi trở lên. Giám đốc điều hành Michael Wampler cho biết nguồn tài trợ hiện không theo kịp chi phí. Tổ chức luôn có một danh sách dài chờ người giúp việc nhà. "Hiện có những người lớn tuổi trong khu vực mà không ai có thể phục vụ", ông Wampler nói.
Sự thiếu hụt nhân sự ảnh hưởng trực tiếp đến những người như bà Johnny Mumpower, người mắc bệnh thận, phải tự lọc máu vào ban đêm. Dù được giao bữa ăn tận nhà, bà vẫn nằm trong danh sách chờ người giúp việc. "Rất khó để vừa đẩy máy hút bụi vừa dùng khung tập đi", bà kể. Người thân ruột thịt duy nhất của bà sống cách đó 4 tiếng lái xe.
Bà Verna Gilbert, 84 tuổi, từng chăm sóc mẹ và người chồng qua đời cách đây gần 20 năm. Sống trong ngôi nhà của mình suốt 60 năm, bà không muốn rời đi. Những bữa ăn đông lạnh do nhân viên Mountain Empire giao tận nhà giúp bà duy trì sinh hoạt cơ bản.
Trở lại với Amy Kant, sau những đợt ốm, bà nhận ra việc ở căn hộ có cầu thang không còn an toàn và đang tìm hiểu các cộng đồng hưu trí dành cho người trên 55 tuổi. Kant đã nhờ một người bạn đại học làm người đại diện y tế và lập danh sách bạn bè sắp xếp đến thăm khi ốm đau.
Bà tự đặt thời hạn một năm để hoàn tất giấy tờ tài sản, bao gồm lập di chúc và làm việc với các quỹ tín thác nhằm tránh tranh chấp về sau.