Bài toán mức sinh thấp của siêu đô thị hơn 14 triệu dân được nêu ra tại tập huấn Luật Dân số 2025 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy phối hợp Chi cục Dân số TP HCM tổ chức ngày 9/4. Tổng tỷ suất sinh năm 2025 chỉ đạt 1,51 con/phụ nữ, thấp hơn nhiều so với mức thay thế 2,1. Hơn 20 năm qua, tỷ suất sinh của thành phố luôn thấp nhất cả nước, để lại nhiều hệ lụy như già hóa dân số nhanh, thiếu hụt nguồn lao động, ảnh hưởng đến an sinh xã hội.
Theo đại diện Chi cục Dân số TP HCM, áp lực chi phí sống, nhà ở, nuôi dạy con khiến nhiều người trẻ kết hôn muộn, sinh ít hoặc không muốn sinh con; trong khi hạ tầng y tế, giáo dục, môi trường sống chưa đáp ứng kỳ vọng nuôi con tốt.
Bên cạnh đó, thay đổi quan điểm sống, trình độ học vấn tăng cùng tình trạng vô sinh, phá thai gia tăng cũng góp phần kéo mức sinh xuống thấp. Năm 2025, tuổi kết hôn trung bình lần đầu tại TP HCM là 29,8, cao hơn mức 27,3 của cả nước.
GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP HCM, cho rằng sinh con trong thế kỷ 21 không còn là chuyện riêng mà liên quan đến vận mệnh quốc gia. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi khiến người trẻ đô thị e ngại lập gia đình và sinh con là áp lực tài chính, đặc biệt chi phí nhà ở, giáo dục và y tế.
“Họ làm như vậy là phù hợp với thực tế, khi cho rằng nếu không nuôi con tử tế thì không nên sinh”, ông nói, thêm rằng quan niệm này khác xa tư duy “trời sinh voi, trời sinh cỏ” trước đây.
Ông cảnh báo việc thiếu điều kiện nuôi dạy con có thể dẫn đến hệ quả lâu dài như những gì Hàn Quốc và Nhật Bản từng dự báo, khi dân số suy giảm mạnh nếu không có thay đổi đột phá về chính sách việc làm và điều kiện sống. Dân số trong độ tuổi lao động giảm là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế Nhật Bản trì trệ 30 năm (1996-2025) sau 33 năm tăng trưởng vượt bậc.
Khoảng cách giữa “lương tối thiểu” và “lương đủ sống” là rào cản lớn. Lương tối thiểu chỉ đảm bảo mức sống cá nhân, trong khi quyết định sinh và nuôi con đòi hỏi thu nhập đủ để trang trải chi phí dài hạn. Khảo sát tại TP HCM cho thấy nhiều lao động thu nhập thấp không muốn sinh con hoặc phải trì hoãn kế hoạch làm cha mẹ.
Để giải quyết vấn đề, ông Nhân đề xuất cần đảm bảo các điều kiện nền tảng như nhà ở, dịch vụ giữ trẻ từ 6 tháng tuổi, bảo hiểm y tế, thu nhập đủ sống, bảo hiểm xã hội và sự đồng thuận xã hội trong việc coi sinh con là yếu tố quan trọng với tương lai quốc gia.
TP HCM đang triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức sinh theo hướng kết hợp chính sách hỗ trợ và truyền thông. Thành phố đã ban hành chính sách khuyến khích sinh đủ hai con, như hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, đồng thời triển khai đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện giai đoạn 2025-2030.
Song song, các đề xuất tập trung giảm gánh nặng cho gia đình trẻ như hỗ trợ nhà ở, thuế, thu nhập, thời gian nghỉ thai sản, dịch vụ giữ trẻ và chi phí nuôi con. Về lâu dài, giải pháp cốt lõi là tạo môi trường sống đủ tốt để người dân yên tâm sinh và nuôi con, đồng thời thu hút lao động nhập cư để bù đắp thiếu hụt nhân lực.
Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Nhiều nghiên cứu cho thấy lá ổi chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa như flavonoid và polyphenol. Những hoạt chất này có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường từ ruột vào máu, từ đó giúp ổn định đường huyết sau ăn, theo Healthline (Mỹ).
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy trà lá ổi có thể giúp giảm mức đường huyết sau bữa ăn ở người có nguy cơ tiểu đường loại 2.
Bác sĩ Ruchi Bharani, chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, cho biết các hợp chất trong lá ổi có thể hỗ trợ cải thiện độ nhạy insulin - yếu tố quan trọng trong kiểm soát đường huyết.
Dù có tiềm năng hỗ trợ, các chuyên gia nhấn mạnh lá ổi không thể thay thế thuốc điều trị. Người bệnh tiểu đường cần tuân thủ phác đồ điều trị, kết hợp chế độ ăn và vận động, thay vì phụ thuộc vào các biện pháp dân gian, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Bác sĩ Manoj K. Ahuja, chuyên gia nội khoa tại Bệnh viện Fortis (Ấn Độ), cảnh báo việc tự ý dùng lá ổi với kỳ vọng “hạ đường nhanh” có thể khiến người bệnh chủ quan, bỏ qua quá trình điều trị chuẩn.
Một số người có thói quen uống nước lá ổi đặc hoặc dùng liên tục mỗi ngày. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc lạm dụng lá ổi có thể gây táo bón, rối loạn tiêu hóa hoặc ảnh hưởng đến hấp thu dưỡng chất, theo The Times of India.
Ngoài ra, nếu đang dùng thuốc hạ đường huyết, việc kết hợp thêm lá ổi mà không có hướng dẫn của bác sĩ có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết quá mức.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị nếu muốn sử dụng, nên dùng ở mức vừa phải như một thức uống hỗ trợ, không thay thế bữa ăn hay thuốc điều trị. Nên chọn lá ổi non, rửa sạch, đun nước uống loãng và không dùng liên tục trong thời gian dài.
Người có bệnh nền, đặc biệt là tiểu đường, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng để tránh tương tác không mong muốn.
Lá ổi có thể hỗ trợ kiểm soát đường huyết nhờ các hoạt chất tự nhiên, nhưng không phải “thần dược”. Theo các chuyên gia, cách hiệu quả nhất vẫn là duy trì chế độ ăn uống khoa học, vận động đều đặn và tuân thủ điều trị y khoa, theo Hiệp hội Tiểu đường Mỹ (ADA).
Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan vừa ký quyết định về việc bổ nhiệm ông Phạm Thanh Việt - bác sĩ chuyên khoa cấp II, Phó giám đốc phụ trách, quản lý, điều hành Bệnh viện Chợ Rẫy - giữ chức vụ Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy.
Thời hạn giữ chức vụ là 5 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực (ngày 24-4-2026).
Bác sĩ Phạm Thanh Việt, sinh năm 1971, quê Kiên Giang (cũ), có trình độ chuyên môn bác sĩ chuyên khoa II, từng tốt nghiệp bác sĩ đa khoa tại Đại học Y Dược TP.HCM năm 1997.
Trước khi được bổ nhiệm làm Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, bác sĩ Phạm Thanh Việt là Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp kiêm phụ trách Phòng Trang thiết bị y tế.
Tháng 3-2024, ông Phạm Thanh Việt được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy. Đến tháng 8-2025, ông được bổ nhiệm làm Phó giám đốc phụ trách, quản lý, điều hành bệnh viện.
Ngoài việc tham gia vào các công trình nghiên cứu khoa học áp dụng thực tiễn, bác sĩ Phạm Thanh Việt cũng thường xuyên thực hiện các hoạt động nhân văn như thăm hỏi, tặng quà, động viên tinh thần người bệnh.
Như vậy, hiện bên cạnh Giám đốc Phạm Thanh Việt, Bệnh viện Chợ Rẫy có hai Phó giám đốc, gồm bác sĩ Lâm Việt Trung và dược sĩ Nguyễn Quốc Bình.
Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện hạng đặc biệt trực thuộc Bộ Y tế, đảm nhiệm chức năng khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó là bệnh viện tuyến cuối, nên Chợ Rẫy còn có vai trò hỗ trợ điều trị cho các bệnh viện của khu vực phía Nam.
Trước đó tháng 6-2024, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Tri Thức, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy (Bộ Y tế), giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chiều 29-4, Bộ Y tế đã công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về bổ nhiệm lại PGS.TS Võ Thành Toàn giữ chức vụ Phó giám đốc phụ trách chuyên môn Bệnh viện Thống Nhất. Thời gian giữ chức vụ là 5 năm, kể từ ngày 24-3-2026.
PGS.TS Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, đã chúc mừng và đánh giá cao năng lực, đóng góp của PGS Võ Thành Toàn. Đồng thời kỳ vọng ông cùng Ban giám đốc Bệnh viện Thống Nhất tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chủ động thích ứng với những yêu cầu ngày càng cao của ngành y, xây dựng môi trường y tế nhân văn, hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay.
PGS Võ Thành Toàn là chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực cơ xương khớp - chấn thương chỉnh hình, được đào tạo chuyên sâu về phẫu thuật nội soi khớp và y học thể thao tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore từ năm 2005.