Vợ chồng bác ruột của tôi có nhà mặt tiền. Trước đây cả nhà sống ở tầng hai và ba, tầng trệt cho thuê. Lần gần nhất là cho một người trong họ hàng thuê làm shop hoa tươi.
Khi hết hợp đồng, hai bác không cho gia hạn mà bắt dọn đi. Tầng trệt bên dưới bây giờ để xe máy và ôtô. Con cháu kết hôn nên thành viên gia đình đông dần, mỗi lần về chơi, bên dưới có cửa hàng thì cũng kỳ.
Những người như ông bác của tôi đâu cần tiền cho thuê mặt bằng. Ở không buồn chán thì ông bà lấy một xe bánh bao về để trước cửa bán.
Bây giờ, thậm chí bà bán bánh tráng trộn cũng có mã QR để chiều khách, riêng vợ chồng ông bác tôi chỉ dùng tiền mặt, có thì mua, không có thì thôi. Có lần vợ chồng bác bảo bán cả ngày có khi lời 75 nghìn đồng, tính tiền điện chạy máy hấp có khi còn lỗ.
Sau đợt xăng dầu tăng giá, loại bánh bao hai trứng cút từ 20 nghìn lên 22 nghìn, vợ chồng bác tặc lưỡi: “Lên 2 nghìn nhưng khối người phải đắn đo”.
Tôi lấy làm khó hiểu khi nhiều người hả hê vì nhà mặt tiền ế ẩm khách thuê phải bỏ trống. Tôi nghĩ phải nhấn mạnh một điều là chủ nhà – những người có mặt bằng cho thuê phần lớn không quá đắn đo vì tiền đó. Dĩ nhiên phải loại trừ những người vay tiền để đầu tư.
Còn với những người đã tích lũy đủ lâu, mặt bằng ấy đơn giản chỉ là một phần tài sản, có cho thuê thì tốt, không thì cũng không làm thay đổi cuộc sống của họ quá nhiều.
Vậy ai mới là người đáng lo? Chính là chúng ta, những người chưa có tài sản như họ.
Một con phố mà nhiều mặt bằng cho thuê bỏ trống là điều đáng lo ngại, ít nhất là với những người làm công ăn lương ở các công ty. Vì sao? Những người làm chủ kinh doanh, họ có thể thuê thêm nhân viên, bác bảo vệ trông xe… đó là cách luân chuyển dòng tiền trong xã hội.
Người có tài sản có thể đứng ngoài dòng tiền đó lâu hơn. Nhưng người sống bằng lương thì không.
Như căn nhà của bác tôi, giá trị gần 9 tỷ đồng. Cho thuê với giá cũng trên dưới 20 triệu một tháng. Sẽ chẳng có ai ngớ ngẩn đi thuê mặt bằng với giá này chỉ để trưng một xe bánh bao và kiếm tiền lời chưa đến 100 nghìn đồng mỗi tháng như chủ nhà.
Chủ nhà có thể không kiếm được tiền từ mặt bằng, nhưng chưa chắc họ cần kíp khoản tiền cho thuê để duy trì chi phí sinh hoạt mỗi ngày. Trong khi đó, rất nhiều người khác cần dòng tiền mỗi tháng để trả tiền nhà, nuôi con, duy trì cuộc sống.
Chúng ta không có sẵn một căn nhà 9 tỷ để lùi về mà đang ở trong vòng xoáy của chi phí – thu nhập – áp lực thì đừng nhìn vào sự ế ẩm của mặt bằng mặt tiền mà hả hê. Tốt nhất là nên xem đó như một tín hiệu để thận trọng hơn với chính mình.
Vợ chồng tôi đều là người tỉnh lẻ, vào TP HCM lập nghiệp với mong muốn ổn định được cuộc sống tại đây. Hiện tại, tổng thu nhập của chúng tôi khoảng 35 triệu đồng mỗi tháng - con số mà người ở quê xem là dư dả. Nhưng thực tế, chúng tôi vẫn thiếu trước hụt sau khi sống giữa thành phố này.
Gia đình tôi có hai con nhỏ, mọi khoản chi gần như đều dồn vào sinh hoạt thiết yếu. Tiền ăn uống, chợ búa, xăng xe, điện nước và tiền học thêm cho các con mỗi tháng khoảng 20 triệu đồng, dù hai con tôi đều học trường công. Chúng tôi không dám ăn ngoài thường xuyên, cũng hiếm khi mua sắm gì đáng kể. Cuối tuần của nhiều gia đình là đi chơi, còn với chúng tôi, thường chỉ là đưa con ra công viên gần nhà cho đỡ tốn kém.
Ngoài ra, vợ chồng tôi đang gánh thêm 12 triệu đồng tiền trả góp mua nhà mỗi tháng. Đó là quyết định không dễ dàng, nhưng nếu không mua bây giờ thì cũng không biết đến bao giờ gia đình mới có một chỗ ở ổn định. Giá nhà ở TP HCM ngày càng xa tầm với, nên chúng tôi chấp nhận vay để giữ một chỗ an cư, chấp nhận áp lực tài chính đè nặng từng tháng.
Tính ra, sau tất cả các khoản cố định, mỗi tháng chúng tôi chỉ còn dư khoảng 3 triệu đồng, trong điều kiện phải chi tiêu rất chặt chẽ. Số tiền đó gần như không đủ để tích lũy cho những việc lớn hơn như chữa bệnh, sửa nhà hay lo cho tương lai học hành của con.
>> Vợ chồng lương 30 triệu vẫn tiết kiệm được 15 triệu một tháng ở Sài Gòn
Những tháng có nhiều đám cưới, đám giỗ, ma chay ở quê hay đồng nghiệp, chúng tôi thực sự "đuối". Mỗi khoản không lớn, nhưng cộng lại thành gánh nặng. Đi thì tốn tiền, không đi thì áy náy. Nhiều tháng, vợ chồng phải vay mượn thêm của bạn bè mới đủ trang trải.
Sống ở thành phố, cái khó không chỉ là chi phí cao, mà còn là cảm giác lúc nào cũng phải chạy. Chạy để kịp công việc, chạy để đủ tiền chi tiêu, và chạy để không bị tụt lại. Nhìn bề ngoài, chúng tôi có công việc ổn định, con cái được học hành đầy đủ, nhưng phía sau là sự chật vật mà chỉ người trong cuộc mới hiểu.
Đôi khi tôi tự hỏi, với mức thu nhập như vậy mà vẫn khó tích lũy, thì những gia đình thu nhập thấp hơn sẽ xoay xở ra sao? Thành phố mang lại cơ hội, nhưng cũng đi kèm áp lực rất lớn về chi phí sinh hoạt. Nếu không có một nền tảng tài chính vững, việc ở lại thành phố lâu dài thực sự là thử thách.
Chúng tôi vẫn cố gắng bám trụ, vì ở đây có công việc, có hy vọng về tương lai cho con cái. Nhưng mong rằng, sẽ có thêm những giải pháp để giảm bớt gánh nặng chi phí sống, từ nhà ở, giáo dục đến các dịch vụ thiết yếu, để những người lao động như chúng tôi không phải mãi xoay xở trong vòng lặp thu nhập - chi tiêu mà không có dư địa để tích lũy và tiến lên.
Trong nhiều năm qua, đặc biệt tại các thành phố lớn, nhiều đã quen với hình ảnh những tài xế công nghệ lao đi giữa dòng xe đông nghẹt: Người chở khách, người giao đồ ăn, người giao hàng xuyên đêm.
Chúng ta tung hô tốc độ giao hàng "15 phút", chấp nhận những cuốc xe xuyên đêm với giá rẻ, đòi hỏi shipper phải nhanh hơn, rẻ hơn, phục vụ tốt hơn. Nhưng rất ít người đặt câu hỏi: Ai chịu áp lực để tạo nên thứ "tiện lợi" ấy?. Câu trả lời là tài xế.
Thực tế, chính thuật toán mới là "người" điều khiển nhịp sống của tài xế. Thuật toán quyết định ai được nhận cuốc, ai bị giảm hiển thị, ai bị khóa tài khoản, ai phải chạy xa hơn để có thưởng. Người tài xế tưởng như "tự do làm chủ thời gian", nhưng thật ra đang bị dẫn dắt bởi một hệ thống vô hình mà họ không được quyền thương lượng.
Muốn đủ tiền thuê trọ, tiền xăng, tiền ăn và tiền nuôi gia đình, họ buộc phải chạy nhiều hơn. Muốn có thưởng, họ phải đạt đủ số chuyến. Muốn giữ điểm đánh giá, họ phải chiều khách hàng bằng mọi giá. Và thế là xã hội chứng kiến những cảnh tượng quen thuộc: Tài xế vượt đèn vàng để kịp đơn. Shipper chạy ngược chiều vài mét vì sợ trễ giờ. Người giao hàng làm việc liên tục 12-14 tiếng. Tài xế kiệt sức nhưng không dám nghỉ vì "mất chỉ tiêu".
Khi một người lao động bị ép vào guồng quay mà thu nhập phụ thuộc trực tiếp vào tốc độ và tần suất di chuyển, thì tai nạn giao thông không còn là "rủi ro cá nhân".
Khi xảy ra tai nạn, nhiều trường hợp khách hàng và tài xế rơi vào tình trạng "không biết ai chịu trách nhiệm". Tại các thành phố lớn, số lượng tài xế công nghệ và giao hàng đã trở thành lực lượng lao động khổng lồ. Xã hội đang yêu cầu ngày càng nhiều từ tài xế công nghệ, nhưng lại rất ít quan tâm đến khả năng chống chịu của họ.
Một người tài xế không chỉ phải cạnh tranh với giao thông đông đúc, thời tiết khắc nghiệt và áp lực tài chính, mà còn phải chạy đua với hệ thống do thuật toán tạo ra.
Chúng ta thường chỉ nhìn thấy mặt tiện lợi của ứng dụng: Đặt xe nhanh giao đồ ăn nhanh, giá rẻ, khuyến mãi liên tục. Nhưng phía sau sự tiện lợi đó là hàng chục nghìn con người đang sống trong trạng thái lao động căng thẳng kéo dài.
Khi thấy shipper ngủ gục bên xe, nhiều người quay clip, khi tài xế gặp tai nạn mạng xã hội đôi khi chỉ xem đó như "tin nóng", khi giao hàng chậm vài phút khách hàng sẵn sàng đánh giá 1 sao. Chúng ta đang tiêu dùng dịch vụ bằng tâm lý "miễn mình tiện là được".
Người dùng không thể vừa muốn giá rẻ tuyệt đối, vừa muốn giao hàng tức thì, rồi sau đó lại lên án chuyện tài xế phóng nhanh vượt ẩu. Bởi chính nhu cầu cực đoan của thị trường đang tạo ra áp lực ấy.
5 người lớn ngồi trên bàn nhậu về khuya. 3 đứa trẻ chừng 5-7 tuổi ngồi ngay bậc tam cấp của quán và chụm đầu vào điện thoại. Chỉ nhìn qua là thấy ngay các bé đang xem video.
Nhiều người nhìn qua sẽ dễ trách móc ngay rằng sao giờ này chưa cho các bé về nhà, rằng cha mẹ cứ muốn rảnh tay là đưa ngay điện thoại cho con ...
Nhưng đó vẫn là cảnh chúng ta thường thấy ngày qua ngày. Cuộc sống đô thị của gia đình trẻ ở một đô thị như Sài Gòn có rất nhiều vướng bận. Gửi con cho ai khi cần giao tiếp với xã hội? Phải làm sao nếu không đưa điện thoại cho trẻ ?...
Với những tình huống như trên, theo bạn cần giải pháp thế nào?