Biến thể Covid-19 BA.3.2 còn gọi “Cicada” (Ve sầu) được phát hiện lần đầu tại Nam Phi vào tháng 11/2024. Đây là “hậu duệ” của BA.3, một nhánh phụ của biến thể Omicron xuất hiện từ năm 2022. Ryan Gregory, Giáo sư ngành sinh học tiến hóa tại Đại học Guelph, đặt biệt danh “Cicada” cho biến thể này do virus đã âm thầm tích lũy đột biến trong nhiều năm giống như loài ve sầu ẩn mình dưới lòng đất trước khi tăng tốc lây lan mạnh mẽ.
Tiến sĩ Andrew Pekosz, nhà vi trùng học tại Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins Bloomberg, cho biết BA.3 từng có giai đoạn mờ nhạt và tưởng chừng đã bị lấn lướt bởi các nhánh khác, thực tế nó chưa bao giờ biến mất hoàn toàn. Sau hai năm âm thầm tích lũy hàng chục đột biến, BA.3 tiến hóa thành BA.3.2, rồi tiếp tục phân nhánh thành hai biến thể phụ là BA.3.2.1 và BA.3.2.2.
Từ năm 2024, sự hiện diện của BA.3.2 tương đối mờ nhạt do sự áp đảo bởi các dòng biến thể chiếm ưu thế như Nimbus hay XFG (đều thuộc nhánh BA.2). Tuy nhiên, cục diện đã thay đổi từ tháng 9 năm ngoái khi BA.3.2 bắt đầu ghi nhận sự tăng trưởng đột biến về số ca nhiễm. “Biến thể này từng ẩn mình để âm thầm nhân bản cho đến khi bắt đầu lây lan rộng hơn trong cộng đồng”, tiến sĩ Pekosz nói.
Cicada sở hữu khoảng 70-75 đột biến ở protein gai. Ông Pekosz đánh giá số lượng đột biến khổng lồ giúp biến thể thay hình đổi dạng hoàn toàn, khiến hệ miễn dịch khó nhận diện để kích hoạt cơ chế bảo vệ. Tuy nhiên, tiến sĩ Dana Mazo, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại NYU Langone Health, cho hay một số đột biến này dường như làm giảm khả năng liên kết của virus với tế bào người. Điều đó có nghĩa dù hệ miễn dịch gặp khó khăn trong việc nhận diện virus, bản thân virus cũng không còn nhạy bén trong việc tấn công và xâm nhập vào cơ thể người như trước.
Vậy biến thể Covid mới có gây bệnh nặng hơn không? Hiện vẫn còn quá sớm để đưa ra kết luận chính xác về độc lực của biến thể mới, theo PBS News. Các chuyên gia cho hay hiện chưa có bằng chứng nào cho thấy nó gây bệnh nặng hơn các biến thể trước đó.
Tiến sĩ William Schaffner, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế Đại học Vanderbilt, cho hay vì biến thể này còn quá mới, những hiểu biết hiện tại về cơ chế hoạt động của nó chủ yếu đến từ các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm thay vì dữ liệu lâm sàng. Tuy nhiên, các dữ liệu ban đầu cho thấy biến thể này không nguy hiểm hơn và không có biểu hiện lâm sàng nào khác biệt. “Đây là đặc điểm điển hình của các biến thể Covid-19 trong hai năm qua. Nhìn chung, độc lực của virus không tăng lên đáng kể và các triệu chứng vẫn duy trì sự ổn định, ít có sự thay đổi giữa các chủng virus khác nhau”, ông Schaffner giải thích.
Tính đến tháng 2, báo cáo của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ cho thấy biến thể đã xuất hiện tại 23 quốc gia. Cicada hiện chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số ca Covid-19 tại Mỹ, dưới 0,2% các trình tự gene được thu thập từ ngày 1/12/2025 đến ngày 11/2/2026. Tuy nhiên, tình hình tại châu Âu đáng chú ý hơn nhiều khi Ve sầu chiếm 30% tổng số ca nhiễm.
Tại Mỹ, chương trình CDC giám sát bộ gene lần đầu ghi nhận sự hiện diện của Cicada vào tháng 6 năm ngoái ở một hành khách đến từ Hà Lan. Theo báo cáo công bố ngày 19/3 trên tạp chí Morbidity and Mortality Weekly Report, biến thể này sau đó tiếp tục được tìm thấy trong mẫu dịch tỵ hầu của 4 hành khách, 3 mẫu nước thải trên máy bay, 5 mẫu lâm sàng từ bệnh nhân và 132 mẫu nước thải tại 25 bang khác nhau.
Các chuyên gia lưu ý rằng triệu chứng lâm sàng của BA.3.2 tương đồng với các chủng đang lưu hành hiện nay. Các biểu hiện phổ biến gồm sốt hoặc rùng mình ớn lạnh, ho, khó thở hoặc hụt hơi, đau họng, nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi. Ngoài ra, người bệnh có thể bị mất vị giác hoặc khứu giác, mệt mỏi, đau nhức cơ thể, đau đầu, buồn nôn hoặc nôn mửa và tiêu chảy. Theo tiến sĩ Robert H. Hopkins Jr., Giám đốc Y khoa của Hiệp hội Quốc gia về Bệnh Truyền nhiễm (Mỹ), triệu chứng được ghi nhận nhiều nhất vẫn là đau họng.
Các đột biến ở protein gai có khả năng làm giảm hiệu quả ngăn ngừa lây nhiễm của vaccine đối với biến thể Cicada, các chuyên gia khẳng định vaccine vẫn phát huy tác dụng bảo vệ người bệnh khỏi các biến chứng nặng. Bên cạnh việc tiêm chủng, các biện pháp như rửa tay sát khuẩn, đeo khẩu trang và giữ khoảng cách an toàn vẫn là những cách hiệu quả để phòng chống dịch Covid-19.
Bình Minh (Theo Today, Scientific American, Fox59)
Hạch to bằng ngón tay cái xuất hiện ở vùng cổ bên phải, không đau, anh dùng nhang đang cháy để châm đốt trực tiếp vào vùng da có hạch. Hạch không tan mà vùng da cổ bị bỏng để lại nhiều vết sẹo rỗ lỗ chỗ. Hạch ngày càng phình to, biến dạng vùng cổ, anh đến Bệnh viện Ung bướu TP HCM kiểm tra.
TS.BS.CK2 Lâm Đức Hoàng, Trưởng khoa Xạ trị Đầu cổ, Bệnh viện Ung Bướu TP HCM, cho biết kết quả nội soi vòm hầu bệnh nhân phát hiện khối u sùi dễ chảy máu đã phát triển bít tắc hoàn toàn lỗ mũi trái. Hạch cổ xuất hiện ở cả hai bên (trái lớn hơn phải), dính chặt thành một khối to 6-7 cm.
Các kết quả chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu cho thấy bệnh đã tiến triển nặng. CT scan ghi nhận khối choán chỗ ở vòm hầu đã xâm lấn lên nền sọ giữa. Xạ hình xương phát hiện các tổn thương hủy xương vùng nền sọ. Xét nghiệm định lượng virus EBV - tác nhân liên quan mật thiết đến ung thư vòm hầu, tăng vọt.
Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư vòm hầu giai đoạn cuối. Khối u đã lớn và xâm lấn phức tạp, bệnh nhân được hóa trị trước nhằm kiểm soát bệnh và thu nhỏ khối bướu.
Theo bác sĩ Hoàng, các triệu chứng ung thư vòm hầu thường không đặc hiệu, dễ nhầm với bệnh tai mũi họng thông thường nên nhiều người bỏ qua "thời gian vàng".
Ung thư vùng đầu cổ có tốc độ nhân đôi và phát triển rất nhanh so với nhiều bệnh lý khác, có thể diễn tiến tại chỗ, tại vùng và di căn xa chỉ trong một thời gian ngắn. Phát hiện và can thiệp sớm, cơ hội điều trị hiệu quả rất cao, có thể khỏi bệnh. Trì hoãn điều trị hoặc áp dụng phương pháp thiếu khoa học như đốt thuốc, đắp lá... có thể kích thích khối u phát triển nhanh, tăng nguy cơ di căn.
Ù tai thường là dấu hiệu sớm và hay gặp nhất của ung thư vòm hầu, kèm theo nghe kém một hoặc hai bên tai. Bệnh có thể gây nghẹt mũi, chảy dịch mũi lẫn máu, nhức đầu, đau mặt giống viêm xoang. Ngoài ra, người bệnh dễ bị chảy máu cam tái diễn, đôi khi dẫn đến thiếu máu mạn tính.
Bác sĩ khuyến cáo không áp dụng các phương pháp thiếu chứng cứ khoa học như đắp lá, châm cứu hay "đốt nhang" vào các khối u, hạch bất thường trên cơ thể. Điều này có thể kích thích tế bào ung thư phát triển nhanh hơn, gieo rắc ra mô lành xung quanh và thậm chí đẩy tế bào ung thư di căn xa theo đường máu.
Cần đi khám sớm khi có dấu hiệu như ù tai, nghẹt mũi kéo dài, chảy máu mũi hoặc hạch cổ to dần, ít đau. Hạch nghi ngờ ung thư thường trên một cm, cứng chắc, không đau, di động kém cần được kiểm tra kịp thời.
Trước khi đột quỵ xảy ra, cơ thể đôi khi phát đi những tín hiệu cảnh báo sớm, trong đó khuôn mặt là nơi dễ nhận thấy. Nhận biết các dấu hiệu này và xử trí kịp thời có thể giúp giảm nguy cơ tử vong cũng như hạn chế tổn thương não lâu dài.
Méo mặt hoặc cười lệch
Theo Hiệp hội Đột quỵ Mỹ (ASA), méo mặt là một trong những dấu hiệu đột quỵ phổ biến nhất. Người bệnh có thể xuất hiện tình trạng một bên mặt xệ xuống, khó nâng khóe miệng hoặc không thể cười cân đối.
Một cách đơn giản để kiểm tra là yêu cầu người bệnh cười. Nếu nụ cười bị lệch hoặc một bên khuôn mặt gần như không cử động, có thể cảnh báo nguy cơ đột quỵ.
Tê hoặc mất cảm giác một bên mặt
Không chỉ tay chân, đột quỵ cũng có thể gây tê bì hoặc cảm giác châm chích ở một bên mặt. Tình trạng tê hoặc yếu đột ngột ở mặt, tay hoặc chân, đặc biệt chỉ xảy ra ở một bên cơ thể, là dấu hiệu cảnh báo quan trọng.
Trang Verywell Health chỉ ra người bệnh có thể cảm thấy tê bì, châm chích hoặc như có kiến bò, mất cảm giác hoặc nặng trĩu bất thường ở một bên mặt. Triệu chứng này thường xuất hiện đột ngột và không nên xem nhẹ.
Nói ngọng hoặc khó diễn đạt
Các cơ vùng mặt và miệng đóng vai trò quan trọng trong việc phát âm. Khi đột quỵ làm gián đoạn lưu lượng máu đến não, người bệnh có thể nói ngọng, phát âm khó hoặc không thể diễn đạt ý muốn nói.
Theo Healthline một số trường hợp người bệnh vẫn hiểu người khác nói gì nhưng gặp khó khăn trong việc sắp xếp từ ngữ hoặc phát âm rõ ràng. Đây là dấu hiệu cần được cấp cứu ngay vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng phục hồi càng cao.
Miệng lệch, biểu cảm mất cân đối
Theo Timesofindia, ngoài tình trạng méo mặt rõ rệt, một số người chỉ xuất hiện những thay đổi tinh tế hơn như khóe miệng xệ xuống, môi lệch hoặc biểu cảm khuôn mặt không còn cân xứng.
Dấu hiệu này có thể dễ nhận thấy khi người bệnh nói chuyện, ăn uống hoặc thể hiện cảm xúc. Một số trường hợp còn gặp khó khăn khi uống nước hoặc nuốt thức ăn do các cơ vùng miệng hoạt động kém hiệu quả.
Chảy nước dãi hoặc khó kiểm soát cơ mặt
Theo Medical News Today, tổn thương các dây thần kinh kiểm soát cơ mặt có thể khiến người bệnh khó giữ nước bọt trong miệng, dẫn đến chảy nước dãi hoặc cảm giác mất kiểm soát các cơ quanh môi. Dù triệu chứng này không phải lúc nào cũng xuất hiện, nhưng khi đi kèm méo mặt, tê mặt hoặc nói ngọng, nguy cơ đột quỵ cần được đặc biệt lưu ý.
Người bệnh không nên chờ các triệu chứng tự biến mất. Ngay cả khi tình trạng chỉ kéo dài vài phút rồi hồi phục, đó vẫn có thể là cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) - dấu hiệu cảnh báo nguy cơ đột quỵ thực sự trong tương lai gần.
Các chuyên gia khuyến nghị ghi nhớ quy tắc FAST để nhận biết đột quỵ sớm gồm F (Face) - khuôn mặt méo hoặc xệ một bên; A (Arm) - tay yếu hoặc tê một bên; S (Speech) - nói khó, nói ngọng; và T (Time) - gọi cấp cứu ngay lập tức khi xuất hiện các dấu hiệu trên.
Điều trị trong những giờ đầu sau đột quỵ có thể giúp hạn chế đáng kể tổn thương não và cải thiện khả năng phục hồi của người bệnh.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.